Đề Xuất 2/2023 # Bệnh Marek Trên Gà # Top 10 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 2/2023 # Bệnh Marek Trên Gà # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Marek Trên Gà mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

 Bệnh Marek được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1907 bởi ông Marek người Hungari. Đây là một bệnh sinh khối u nguy hiểm ở gà do nhóm virus Herpes type B và là một ARN virus gây ra. Khi bị nhiễm virus, gà có thời kỳ ủ bệnh dài, tối thiểu là 28 ngày, thường là 2 tháng sau đó.

Bệnh Marek không lây sang người. Khi gà mắc bệnh Marek có tỷ lệ chết cao, có đàn lên tới 60-70%. Tính chất nguy hiểm của bệnh còn thể hiện ở chỗ là sau khi xâm nhập vào cơ thể gà, thì virus này mãi tồn tại trong cơ thể gà (nguồn lây bệnh) và hiện nay chúng ta vẫn chưa có được thuốc để điều trị căn bệnh này. Do vậy, việc nhận biết căn bệnh và các biện pháp phòng chống là vô cùng quan trọng.

Virus gây bệnh Marek

Do herpes virut gây ra. Là một loại ARN virut, có vỏ bọc.

Có 3 serotype:

-       Serotype 1: Những chủng tạo khối u, có độc lực cao vàthay đổi.

-       Serotype 2: Những chủng ngoài tự nhiên, không gây khối u.

–       Serotype 3: Những chủng có độc lực thấp, không gây bệnh, chủ yếu trên  gà tây. Thường được sử dụng làm vaccine.

Tỷ lệ mắc bệnh từ 10 – 60%.

Tỷ lệ chết có thể lên tới 100%.

Tất cả các loại gà đều mẫn cảm với bệnh. Gà thường mắc bệnh sau 6 tuần tuổi, xảy ra chủ yếu ở độ tuổi 8 – 24 tuần tuổi. Ngoài gà còn có ghi nhận bệnh sảy ra trên thủy cầm và các loại chim.

Đặc trưng của bệnh là tăng sinh các tế bào lâm ba ngoại vi tạo thàng các khối u trên các cơ quan, tổ chức. Bệnh lây chuyền chủ yếu qua đường hô hấp và đường tiêu hóa.

Những biểu hiện bên ngoài

Bệnh thường có những biểu hiện

 - Liệt chân và cánh, giai doạn đầu có thể thấy xã cánh, chân đi tập tễnh. 3 ngón chân chụp lại với nhau. Sau nặng dẫn tới liệt.

 - Mắt có phản xạ kém, nặng có thể dẫn tới mù mắt.

– Gà có hiện tượng hô hấp khó khăn.

– Gà chết có xác chết khô, gầy. Tư thế chết một chân duỗi thẳng về phía trước, một chân duỗi vè phía sau, lòng bàn chân hướng lên trên.

Những biểu hiện khi mổ khám

 Sau khi mổ khám bệnh marek ta cần chú ý những biểu hiện sau để có thể đưa ra kết luận chính sác và đưa ra các quyết định mang lại hiệu quả điều trị nhất.

Các dây thần kinh sưng to, dễ đứt và không đồng đều

 Khi mổ khám gà bị bệnh marek ta dễ nhận thấy các khối u màu trắng sám nổi rõ trên các cơ quan như gan, tim, phổi . . các u này luôn nổi dõ viền chân giới hạn . 

 Khối u nổi lên ở nội tạng khi mổ khám

 U ở gan

  

U ở gan 

U ở tim 

U ở ruột

 Cần chú ý phân biệt u marek với bệnh leucocis, bệnh do Histomonas. 

 Gan gà mắc bệnh Marek

 Gan gà mắc bệnh leucocis

Kiểm soát bệnh Marek

– Bệnh marek là bệnh do virut gây ra nên không có thuốc diều trị đặc hiệu.

– Chủ yếu là phòng bệnh.

– Sử dụng các biện pháp tiêu độc khử trùng đúng quy trình, có bước để trống chuồng sau mỗi lứa nuôi.

– Cần sử dụng vaccine mareck được bảo quản tốt trong vòng  24h đầu sau khi gà ấp nở.

– Vaccine marek có rất nhiều loại nhưng vaccine ni tơ lỏng  đang được sử dụng rộng dãi và có hiệu quả cao.

Hiệu giá sử dụng vaccine marek:

Bảng hiệu giá bảo hộ của vaccine

Type

Hiệu giá bảo hộ

CVI 988 (Serotype 1)

76%

SB 1 (Serotype 2)

39%

HVT (Serotype 3)

32%

CVI 988 + SB1

67%

CVI 988 + HVI

73%

SB1 + HVI

66%

CVI 988 + SB1 + HVI

79%

 <<< Phân biệt Marek với bệnh Leucosis

(Còn nữa …)

VietDVM team

Tìm Hiểu Bệnh Marek Ở Gà ( Bệnh Liệt Chân )

Vi rút gây bệnh được nhà bệnh lý học người Hungary (Jozsef Marek) mô tả lần đầu tiên ở Hungary vào năm 1907. Ở Việt Nam bệnh đã xuất hiện từ năm 1978 và xảy ra nặng những năm 1980, do chăn nuôi gà công nghiệp phát triển.

Vi rút gây bệnh thuộc nhóm herpes gây ra. Đến nay người ta đã phân lập được 3 týp vi rút herpes (trong đó chỉ có týp 1 là týp có độc lực).

Vi rút có trong các nang lông, có thể lan truyền rất xa trong không khí. Bệnh lây lan trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ bằng con đướng hít thở. Ngoài ra bệnh còn lây lan gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và cơ sở ấp trứng có chứa mầm bệnh. Căn bệnh truyền theo phân không có vai trò lớn, tuy nhiên trên lớp độn chuồng sau 4 tháng vẫn còn tìm thấy vi rút có độc lực.

Bệnh Marek thường ủ bệnh sau khi nhiễm 3- 4 tuần ,tiến triển chủ yếu ở hai thể cấp tính và mãn tính:

a) Thể cấp tính chủ yếu ở gà 4 – 8 tuần tuổi, có thể sớm hơn. Bệnh ít có triệu chứng điển hình, ngoài hiện tượng chết đột ngột. Tỷ lệ chết thường cao, có khi tới 20 – 30%, thường thể hiện triệu chứng ủ rũ và gầy yếu trước khi chết. Gà thường bỏ ăn, ỉa phân lỏng và giảm tỷ lệ đẻ, đi lại khó khăn, bại liệt, xã cánh một bên do viêm dây thần kinh vận động.

b) Thể mãn tính hay thể cổ điển chủ yếu xảy ra ở gà 4 – 8 tháng tuổi thường ở hai thể, thể thần kinh và thể mắt.

– Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, liệt nhẹ rồi dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có thể bị rủ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh sã xuống một bên hoặc cả hai bên.

– Thể viêm mắt: Trong nhiều ổ dịch gà thường viêm mắt. Bệnh bắt đầu bằng hiện tượng viêm mắt nhẹ. Con vật tỏ ra rất mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong. Dần dần viêm màng tiếp hợp rồi viêm mống mắt. Mủ trắng đóng dầy khoé mắt, khả năng nhìn kém dần, không mổ trúng thức ăn và cuối cùng có thể bị mù.

– Thể cấp tính: bệnh tích chủ yếu là hình thành các khối u ở nội tạng. U thường có ở gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … gan, lách sưng to hơn nhiều lần so với bình thường, nhạt màu và bở.

-Thể mãn tính: bệnh tích chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh hông, thần kinh cánh bị sưng to, có khi to hơn 4 – 5 lần so với bình thường và có thể bị phù thũng.

Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, mổ khám bệnh tích bằng việc phát hiện các khối u ở da, gan, thận, phổi, buồng trứng, lá lách, trong cơ các tổ chức mềm khác của gà bị bệnh Marek.

Bệnh không có thuốc chữa đặc hiệu.

Cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh sau đây :

– Tiêm vắc xin phòng bệnh Marek bắt buộc cho gà con 1 ngày tuổi dùng để sinh sản (gà ông bà, bố mẹ, gà nuôi lấy trứng) tại cơ sở ấp trứng.

– Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng để ngăn chặn bệnh Marek lây lan trong khu chuồng nuôi. Hàng ngày quét, nhặt thu dọn lông và đốt hết lông vì vi rút tồn tại lâu trong chân lông.

– Đối với các trại gà chăn nuôi công nghiệp nhất thiết phải có khu riêng biệt nuôi gà mái đẻ và khu nuôi gà con, phải tuyệt đối chấp hành nguyên tắc: cùng nhập, cùng xuất (gà đưa vào nuôi cùng một lúc, xuất ra cùng một lúc). Sau khi xuất chuồng phải tiến hành tổng tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi bằng các loại thuốc khử trùng ,sau đó chuồng trại phải để trống ít nhất 1 tháng. Riêng đối với đàn đã nhiễm bệnh trước đó để trống chuồng ít nhất 3 tháng và thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng.

– Thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Chú ý không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn.

– Giám sát phát hiện sớm;

– Cách ly đàn mắc bệnh, không được vận chuyển gà trong đàn nhiễm bệnh ra ngoài;

– Tiêu huỷ toàn bộ đàn mắc bệnh (bằng cách đốt, sau đó chôn giống như đối với bệnh cúm gia cầm), đồng thời xử lý các chất tồn dư (phân, rác vv..);

– Cấm nhập gà giống về nuôi trong thời gian xử lý đàn gà bệnh;

– Để trống chuồng ít nhất 3 tháng.

Bệnh Marek Ở Gà: Cách Nhận Biết Và Phòng Chống

Marek là bệnh truyền nhiễm của gà do một loại virus thuộc nhóm herpes gây ra. Đến nay người ta đã phân lập được ba type virus herpes:

Serotype 1: Những chủng tạo khối u, có độc lực cao và thay đổi.

Serotype 2: Những chủng ngoài tự nhiên, không gây khối u.

Serotype 3: Những chủng có độc lực thấp, không gây bệnh, chủ yếu trên gà tây. Thường được sử dụng làm vaccine.

Tỷ lệ mắc bệnh từ 10 – 60%.

Tỷ lệ chết có thể lên tới 100%.

Tất cả các loại gà đều mẫn cảm với bệnh. Gà thường mắc bệnh sau 6 tuần tuổi, xảy ra chủ yếu ở độ tuổi 8 – 24 tuần tuổi. Ngoài gà còn có ghi nhận bệnh sảy ra trên thủy cầm và các loại chim.

Bệnh có đặc điểm là sự tăng sinh cao độ tế bào lympo dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên, các cơ quan nội tạng, da và cơ làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn vận động và bại liệt.

Bệnh có thể lây lan nhanh, mạnh trên đàn gà vì virus có trong các nang lông. Sau khi nhiễm bệnh 14 ngày, gà con đã lây bệnh cho nhau.

Virus có thể tồn tại nhiều tháng trong môi trường ở nhiệt độ 20-25 độ C và hàng năm ở 4 độ C. Khi xâm nhập vào đàn, virus có khả năng lây lan nhanh giữa gia cầm chưa được tiêm phòng. Gà nhiễm bệnh tiếp tục mang trùng và là nguồn lây bệnh trong thời gian dài. Virus có thể lan truyền rất xa trong không khí.

Bệnh lây trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ bằng đường hô hấp và lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và cơ sở ấp trứng có chứa mầm bệnh.

Bệnh không lây qua phôi.

Bệnh tiến triển chủ yếu ở hai thể cấp tính và mãn tính.

– Thể cấp tính: Chủ yếu ở gà 4 – 8 tuần tuổi, có thể sớm hơn.

Bệnh ít có triệu chứng điển hình, ngoài hiện tượng chết đột ngột. Tỷ lệ chết thường cao, có khi tới 20 – 30%, thường thể hiện triệu chứng ủ rũ và gầy yếu trước khi chết.

Gà thường bỏ ăn, ỉa phân lỏng và giảm tỷ lệ đẻ, đi lại khó khăn, bại liệt, sã cánh một bên do viêm dây thần kinh vận động.

– Thể mãn tính (thể cổ điển): C hủ yếu xảy ra ở gà 4 – 8 tháng tuổi thường ở hai thể, thể thần kinh và thể mắt.

+ Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, liệt nhẹ rồi dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có thể bị rủ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh sã xuống một bên hoặc cả hai bên.

+ Thể viêm mắt: Trong nhiều ổ dịch, gà thường viêm mắt. Bệnh bắt đầu bằng hiện tượng viêm mắt nhẹ. Gà tỏ ra rất mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong. Dần dần viêm màng tiếp hợp rồi viêm mống mắt. Mủ trắng đóng dầy khoé mắt, khả năng nhìn kém dần, không mổ trúng thức ăn và cuối cùng có thể bị mù.

Nhìn chung gà chết nghi bệnh Marek thường có xác gà gầy mòn. Xác gà chết có một chân đưa về phía trước và một chân về phía sau.

– Thể cấp tính: Từ ngoài vào trong chúng ta nhận thấy da gà sần sùi, lỗ chân lông nở to và dày lên từng cục. Tiếp đến là các khối u ở nội tạng như: gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, dịch hoàn…

Thể u lan tràn: U thường có ở gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … gan, lách sưng to hơn nhiều lần so với bình thường, nhạt màu và bở.

Thể u hạt: Khối u ở thể hạt làm mặt gan sần sùi với nhiều nốt to nhỏ không đồng đều nhau màu trắng xám. Trường hợp khối u ở đường tiêu hóa như dạ dày tuyến, thành ruột, sẽ làm tổ chức này dày lên. U ở cơ làm tổ chức cơ phồng to, mặt cắt khối u màu trắng xám do thâm nhiễm bạch cầu.

– Thể mãn tính: bệnh tích chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh hông, thần kinh cánh bị sưng to, có khi to hơn 4 – 5 lần so với bình thường và có thể bị phù thũng. Ngoài bệnh biến ở tổ chức thần kinh còn một số bệnh tích khác như các cơ bị teo, mắt mù, con ngươi biến dạng.

Bệnh Marek rất dễ nhầm lẫn với bệnh Lơ-cô và bệnh Niu-cat-xơn:

Khối u ở bệnh Marek không có ranh giới với cơ quan bình thường và lát cắt khô không đều màu, đôi khi có điểm tụ huyết hoặc xuất huyết đây là đặc điểm phân biệt với bệnh Lơ-cô (Leuco).

Còn bệnh Niu-cat-xơn đặc trưng bởi những điểm xuất huyết bề mặt ở thực quản, dạ dày tuyến, dạ dày cơ và không tạo khối u ở nội tạng như bệnh Marek.

Bệnh không có thuốc chữa đặc hiệu.

Cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh sau đây :

Khi chưa có dịch xảy ra:

– Tiêm vắc xin phòng bệnh Marek bắt buộc cho gà con 1 ngày tuổi.

– Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng để ngăn chặn bệnh Marek lây lan trong khu chuồng nuôi. Hàng ngày quét, nhặt thu dọn lông và đốt hết lông vì vi rút tồn tại lâu trong chân lông.

– Đối với các trại gà chăn nuôi công nghiệp nhất thiết phải có khu riêng biệt nuôi gà mái đẻ và khu nuôi gà con, phải tuyệt đối chấp hành nguyên tắc: cùng nhập, cùng xuất (gà đưa vào nuôi cùng một lúc, xuất ra cùng một lúc). Sau khi xuất chuồng phải tiến hành tổng tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi bằng các loại thuốc khử trùng ,sau đó chuồng trại phải để trống ít nhất 1 tháng. Riêng đối với đàn đã nhiễm bệnh trước đó để trống chuồng ít nhất 3 tháng và thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng.

– Thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Chú ý không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn.

Khi có bệnh xảy ra:

– Giám sát phát hiện sớm.

– Cách ly đàn mắc bệnh, không được vận chuyển gà trong đàn nhiễm bệnh ra ngoài.

– Tiêu huỷ toàn bộ đàn mắc bệnh (bằng cách đốt, sau đó chôn giống như đối với bệnh cúm gia cầm), đồng thời xử lý các chất tồn dư (phân, rác vv..).

– Vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ 1 – 2 lần/1 tuần, phun thuốc sát trùng BIO-DINE (đặc biệt khuyến cáo đối với bệnh Marek, Niu-cát-xơn…)

– Cấm nhập gà giống về nuôi trong thời gian xử lý đàn gà bệnh.

– Để trống chuồng ít nhất 3 tháng.

Bệnh Đầu Đen (Bệnh Histomonas) Trên Gà

-Bệnh kén ruột.

-Bệnh viêm gan ruột truyền nhiễm.

Giới thiệu về tên bệnh đầu đen:

Gà mắc và chết do bệnh “đầu đen” có biểu hiện ở đầu …. không đen chút nào. Cái tên đầu đen ra đời bắt nguồn từ những người chăn nuôi, nó được lan rộng và phổ biến tới mức hiện nay cả những người điều trị, những người trong ngành chăn nuôi – thú y biết tới nó, gọi tên nó đều thông qua tên gọi này là chủ yếu.

Thực chất những con gà mắc bệnh “đầu đen” và bị chết có đầu mặt màu tái và hốc hác, một số ít trường hợp có màu tái tới mức xanh xao, chứ chưa ghi nhận trường hợp nào gà trong bệnh đầu đen có đầu biến đổi màu đen cả, có tên gọi như vậy bắt nguồn từ những bà con chăn nuôi gà thả vườn dựa trên triệu chứng không điển hình của gà mắc bệnh này.

Mặt khác biểu hiện ở đầu, mặt của gà mắc bệnh này không điển hình do có thể nhầm lẫn với triệu chứng mặt tái nhợt, mặt gầy hốc hác trong các bệnh khác như: Newcastle, tiêu chảy mãn tính do Ecoli, kí sinh trùng máu, cầu trùng . . . Vì vậy, nếu chỉ dựa vào triệu chứng bên ngoài thường không chẩn đoán chính xác được bệnh, đối với những đàn nghi mắc bệnh đầu đen, khuyên nên dựa vào bệnh tích điển hình (đặc biệt trên manh tràng, gan) để đưa ra được chẩn đoán chính xác nhất.

Bản chất và nguyên nhân gây bệnh.

– Bệnh xảy ra chủ yếu trên gà nuôi chăn thả và một số hoang cầm cùng nòi.

– Chưa ghi nhận trường hợp nào gà công nghiệp mắc phải bệnh này.

– Bệnh xảy ra ở tuổi gà sau 2 tuần tới 3-4 tháng tuổi, thực tế với các giống gà nuôi thả vườn, bệnh xảy ra sau 1 tháng tuổi là mạnh nhất, tuổi gà càng cao bệnh càng nặng, đã ghi nhận trường hợp gà đẻ trứng nuôi nền 7 tháng tuổi vẫn mắc bệnh.

– Truyền qua đường ăn uống, bởi dùng chung máng ăn máng uống, qua chất độn, môi trường chăn thả chứa mầm bệnh Histomonas Meleagirdis.

– Trung gian truyền bệnh là giun kim Heterakis galline, thông qua việc gà ăn phải trứng giun kim có chứa mầm bệnh, khi vào cơ thể gà, histomonas sẽ kí sinh tại gan và manh tràng rồi gây bệnh, mầm bệnh được thải ra ngoài qua trứng giun kim và trực tiếp qua phân tạo thành vòng lây nhiễm và gây bệnh ra đàn gà.

– Mặt khác, khi bị thải ra cơ thể gà, trứng giun kim lại được giun đất ăn vào, tồn tại rất lâu trong môi trường khu vực chăn nuôi, đó là lí do bệnh rất khó thanh trừ hoàn toàn ở những khu vực chăn nuôi đã từng mắc bệnh, tỉ lệ tái bệnh cho những đàn sau luôn rất cao.

M ầm bệnh thật sự ở đây truyền lây là do Histomonas chứ không phải là trung gian giun kim Heterakis galline hay giun đất, vì vậy trong quá trình điều trị và phòng bệnh cũng cần phân biệt rõ nhằm thanh toán tận gốc bệnh mang lại hiệu quả cao nhất.

– Là bệnh đặc thù của gà và gà tây nuôi thả vườn, nhưng cũng phát hiện thấy ở một số giống gà kiêm dụng nuôi lấy trứng trong điều kiện nuôi nhốt ở môi trường đã từng nhiễm bệnh.

– Các triệu chứng không điển hình

Ủ rũ, sốt, rúc đầu vào cánh, tìm chỗ có nắng, ấm áp để nằm, phân sáp vàng, sáp đen, phân dạng giống gạch cua, phân nước có thỏi phân sống ở giữa …

Gà ủ rũ

Phân gà mắc bệnh

Gà sốt cao, gà lù rù, mặt hốc hác tái nhợt và chết nhanh trong vòng 1 -2 ngày kể từ khi phát hiện những triệu chứng không điển hình, nếu chỉ dựa vào triệu chứng thường rất khó để chẩn đoán chính xác bệnh phục vụ công tác điều trị, vì khi đàn gà mắc bệnh đầu đen thường có hiện tượng đi phân sáp, sáp vàng, sáp đen, phân lẫn máu rất giống với bệnh cầu trùng, mặt khác biểu hiện sốt rất cao, lù rù, mặt hốc hác, tái nhơt có thể lẫn với bệnh Kí sinh trùng đường máu hoăc một số bệnh khác tương tự.

Tỉ lệ chết trong trường hợp này có thể lên tới 85-90% nếu không được điều trị kịp thời hoặc điều trị không đúng cách.

Xảy ra với mức độ và thiệt hại đầu con nhẹ hơn, chủ yếu ở những đàn gà lớn (trên 5 tháng) bệnh kéo dài, thiệt hại chủ yếu là giảm năng suất chăn nuôi, tỉ lệ chết không cao.

Biểu hiện bệnh khi mổ khám

Bệnh tích của bệnh đầu đen biểu hiện chủ yếu ở gan và ruột thừa, cũng là biểu hiện đặc trưng, là bệnh tích điển hình của bệnh giúp chẩn đoán chính xác và chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác (cầu trùng, Marek, Leuco, Lao hạch….)

Bệnh tích điển hình của bệnh đầu đen có thể biểu hiện rõ ràng ở cả gan và ruột thừa cùng lúc, có trường hợp chỉ biểu hiện ở gan hoặc ở ruột thừa. Trong đa số các trường hợp gà mắc bệnh đầu đen, bệnh tích ở ruột thừa (manh tràng) là biểu hiện đặc trưng luôn đi kèm và dễ dàng nhận biết nhất.

Bệnh tích ở gan: Đặc trưng nhất là gan sưng to hơn bình thường và xuất hiện những vết hoại tử hình hoa cúc với bề mặt hoai tử hơi lõm khắp bề mặt gan, (ý kiến cá nhân: thực ra thì rất khó để hình dung ra vết hoại tử hình hoa cúc là như thế nào, nên tôi hay gọi nó là vết hoại tử loang lổ). – Phần chẩn đoán phân biệt sẽ nói rõ hơn làm sao để phân biệt vết hoại tử gan trong bệnh đầu đen với vết hoại tử gan trong các bệnh khác.

Gan gà mắc bệnh histomonas

+ Bên trong không có chất chứa dạng canxi hóa, mà chỉ thấy thành ruột thừa tăng sinh dày lên, bên trong có chất màu nhờ nhờ máu cá (dạng máu lẫn trong dịch thẩm xuất, màu hồng nhạt, nhớt nhớt). Có thể tìm thấy giun kim hoặc không.

+ Manh tràng không tăng sinh sưng to, mà tăng sinh kiểu teo nhỏ, nhìn manh tràng có cảm giác nhỏ quắt lại, nhưng thực chất là do thành ruột tăng sinh dày làm cho toàn bộ manh tràng co lại, cắt đôi cảm thấy lòng manh tràng hẹp lại, bên trong không có chất chứa, có thể thấy giun kim hoặc không .

+ Manh tràng bắt đầu tăng sinh dày lên, bên trong không có chất chứa nhưng có máu tươi bắt đầu khô lại . Thường gặp trong trường hợp đàn gà mắc bệnh Cầu trùng máu tươi, sau đó kế phát bệnh đầu đen.

Manh tràng chứa kén

Trong quá trình mổ khám phát hiện bệnh, ngoài kết hợp những triệu chứng không điển hình thì việc dựa vào những bệnh tích điển hình là việc quan trọng không thể bỏ qua, nên mổ khám ít nhất 2 con gà mang triệu chứng chung của đàn để đưa ra kết luận chính xác nhất có thể, nên mổ cả con đã chết và con còn sống (nếu có). Nếu phát hiện ra dù chỉ 1 trong 2 biến đổi đặc trưng ở ruột thừa (manh tràng) hoặc gan thì đều có thể kết luận chẩn đoán nghi bệnh đầu đen, nếu phát hiện cả 2 biểu hiện bệnh tích thì chính xác hơn nữa, ngoài ra cần phát hiện những bệnh ghép hoặc các dạng kế phát để đưa ra phác đồ điều trị hợp lí.

Hiện trên thị trường có rất nhiều bộ sản phẩm trị bệnh Viêm gan ruột truyền nhiễm – bệnh đầu đen – bệnh kén ruột. Dù sử dụng bất cứ bộ sản phẩm của công ty nào, bà con nên điều trị liệu trình ít nhất 4 ngày cho toàn đàn gà, kết hợp với giải độc gan thận lách và hạ sốt để mang lại hiệu quả cao nhất. Khi kết thúc liệu trình bà con nên cho gà uống monosunfa kết hợp với ivermectin 1% pha 1ml vào 1lit nước cho đàn gà uống.

– Không nuôi chung gà với gà Tây.

– Bắt đầu từ 20 ngày tuổi trở đi, định kì 20 ngày 1 lần nên pha thuốc tím hoặc sunphat đồng cho gà uống (uống theo chỉ định ở phần điều trị ).

– Phòng bệnh thông qua diệt trung gian truyền bệnh: Kết hợp các loại sát trùng để diệt Histomonas, đồng thời định kì hàng tháng nên rắc vôi ở bãi chăn thả và khu vực chuồng trại chăn nuôi nhằm diệt trung gian truyền bệnh giun kim và giun đất, có thể dùng foocmon 2% phun chuồng trại và khu vực chăn nuôi để diệt giun đất và khử trùng chuồng trại

Lưu ý: Bà con khi mua vôi nên mua loại vôi củ về để nguyên bao, sau 1 thời gian vôi sẽ tự bở ra thành vôi bột, rắc vôi này là tốt nhất, không nên mua vôi bột loại đóng bao sẵn để khử trùng chuồng trại vì hiện nay trên thị trường có rất nhiều vôi bột không đảm bảo (thực chất là bột đá được gom lại trong quá trình khai thác đá – loại này không có tác dụng khử trùng chuồng trại). Việc rắc vôi ở khu vực chăn nuôi nên rắc khi chuồng trại không có gà, có thể nhốt gà và rắc phía ngoài bãi chăn thả, nên rắc khi trời chuẩn bị mưa hoặc khi trời vừa mưa xong, rắc khi vừa cuốc xới sân vườn.. như vậy vừa đỡ bụi , vừa đạt được hiệu quả cao trong tiêu diệt trung gian truyền bệnh.

Bệnh tích trên gan của bệnh đầu đen có thể chẩn đoán phân biệt với các trường hợp gan hoại tử ở một số bệnh khác: Marek, tụ huyết trùng, lao ở gà.

Vết hoại tử loang lổ hoa cúc, có dạng hơi lõm xuống chứ không lồi lên như dạng khối u, vết hoại tử ăn sâu xuống dưới, càng sâu phía dưới thì càng nhỏ lại, vì thế khi cắt dọc xuống tại bề mặt vết hoại tử ta thấy mặt cắt có dạng như hình nón ngược. Vết hoại tử xuất hiện ở bề mặt gan, không xuất hiện ở mặt nơi tiếp giáp giữa 2 thùy gan.

Vết hoại tử chính là khối u tăng sinh, bề mặt gồ lên, khối U thường có màu vàng nhạt đến vàng chanh trên nền gan sưng, cắt đôi vết hoại tử ta không thấy có dạng hình nón ngược, ổ hoại tử gọn gàng hơn, vết hoại tử (khối u) xuất hiện cả ở mặt tiếp giáp giữa 2 thùy gan.

Gan có u marek

Gan cũng sưng và xuất hiện những vết hoại tử nhưng vết hoại tử trong bệnh tụ huyết trùng rất nhỏ, xuất hiện lấm chấm màu vàng ngà, chỉ bé bằng đầu đinh ghim tới hạt kê, nhìn vào bề mặt gan trong bệnh tụ huyết trùng có thể liên tưởng đến một vùng trời nhiều sao lấm chấm sáng.

Gan mắc bệnh tụ huyết trùng

Ổ hoại tử bề mặt gan trong bệnh lao không rõ ràng, nhưng khi cắt đôi sâu xuống vết hoại tử ta có thể thấy vết hoại tử ăn sâu vào lòng gan tạo thành dạng hang hốc phức tạp.

Một số trường hợp bệnh đầu đen ghép với các bệnh khác

– Bệnh hen ghép đầu đen. – Bệnh đầu đen kế phát trong trường hợp đàn gà mắc Cầu trùng ghép Ecoli bại huyết (cầu trùng ỉa máu tươi – cầu trùng cấp). – Đầu đen ghép bệnh đậu gà (gặp ở những đàn chưa được chủng đậu).

Các trường hợp trên cần có những phác đồ điều trị đặc biệt và kết hợp liệu trình hợp lí để đảm bảo kết quả điều trị mong muốn, sẽ được trình bày chi tiết hơn trong các bài viết kế tiếp.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Marek Trên Gà trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!