Đề Xuất 2/2023 # Cá Trê Vàng Lai Cho Lãi Cao – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 10 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 2/2023 # Cá Trê Vàng Lai Cho Lãi Cao – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cá Trê Vàng Lai Cho Lãi Cao – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lưu ý khi thả nuôi

Cá trê lai vàng sống trong môi trường nước hơi phèn và điều kiện nước hơi lợ (độ mặn <5‰). Cá phát triển tốt trong môi trường nước có độ pH khoảng từ 5,5-8. Do có cơ quan hô hấp phụ nên cá trê vàng lai sống được trong ao, đìa nước tù, hàm lượng oxy trong nước xuống thấp (1-2mg/l). Cá hoạt động, bơi lội, ăn mạnh vào buổi chiều tối hoặc đêm, lúc trời mờ sáng, vì vậy việc kéo lưới thu hoạch cá (giống và thịt) thực hiện vào thời gian trên sẽ đạt hiệu quả.

Mùa vụ thả nuôi thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10 âm lịch hàng năm. Khi chọn giống cần lưu ý, chọn cỡ cá đồng đều, khỏe mạnh, không bị xây xát, không bị bệnh, bơi lội nhanh nhẹn, đánh móng mạnh. Nếu ao không bị rò rỉ, có thể rút cạn nước và diệt tạp triệt để thì nên thả nuôi cỡ cá nhỏ 3-4cm hoặc 4-5cm để giảm chi phí về con giống. Nếu không thì phải thả cỡ 5-6cm hoặc 10-12cm, nhằm giảm được tỷ lệ hao hụt của cá nuôi.

Cá trê vàng lai ăn tạp, rất háu ăn. Cá bột mới nở không ăn, sống bằng noãn hoàn. Từ ngày thứ 3 trở đi, cho cá ăn các loài giáp xác nhỏ trong ao. Nếu ương trong bể xi măng hoặc bể bạt thì cá ăn trùng chỉ là chính. Từ cỡ 4-6cm trở đi cá có thể ăn được ruốc, tép, côn trùng, các phế phẩm và thức ăn tinh như cám, bắp, bột cá. Ngoài ra, để giúp cá tăng trưởng nhanh, ít bệnh, trong quá trình nuôi cần định kỳ bổ sung premix vitamin (loại dùng cho heo thịt) 1 lần/tuần với lượng 1-2% của tổng lượng thức ăn trong ngày. Nên cho ăn ở những vị trí cố định trong ao, thường xuyên theo dõi và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Tránh trường hợp thức ăn dư thừa làm thối bẩn nước ao, tạo điều kiện cho bệnh cá phát triển.

Trong thời gian nuôi cần theo dõi hoạt động của cá, màu nước trong ao. Sau một tháng đầu, cá tương đối lớn, có thể định kỳ lấy nước vào trong ao, cứ 5-7 ngày một lần thay khoảng 30% nước trong ao. Sử dụng nhiều thức ăn tươi cần chú ý thay nước thường xuyên hơn.

Hiện, giá cá trê vàng lai thương phẩm có giá khoảng 40-45.000 đồng/kg

Hiệu quả kinh tế cao

Cá trê vàng lai rất mau lớn, trong điều kiện nuôi với mật độ thích hợp, thức ăn đầy đủ, sau 2,5-3 tháng nuôi cá sẽ đạt kích cỡ thương phẩm (150-250g/con). Lúc này, hình dáng bên ngoài của cá trê vàng lai sẽ rất giống cá trê vàng (chỉ khác ở chỗ u lồi xương chẩm).

Thu hoạch đợt 1 xong sẽ tiếp tục cho cá ăn tích cực, khoảng 10-15 ngày sau sẽ thu hoạch đợt 2. Thường ở đợt này, lượng cá thu hoạch sẽ được nhiều hơn và tương đối đồng đều về kích cỡ. Nếu trong ao vẫn còn cá chưa đạt quy cỡ thì sẽ tiếp tục nuôi vỗ 2 tuần nữa và thu hoạch toàn bộ. Nên thả cá giống ngay từ đầu vụ để đến thời điểm thu hoạch vào tháng 6, 7, 8 âm lịch cá thịt bán được giá cao, chi phí đầu tư con giống rẻ, dễ nuôi hơn lúc cuối vụ (do thời tiết lúc cuối vụ thường lạnh, cá dễ bị bệnh). Sau khi trừ chi phí cải tạo ao, con giống, thức ăn, công chăm sóc bảo vệ… người nuôi có thể lãi 40-45% so với vốn ban đầu. Thu hoạch cá vào những mùa đụng cá đồng (thả giữa và cuối vụ), tiền lãi thu được sẽ thấp hơn do giá con giống cao, giá thịt rẻ, thường chỉ lãi 20-25%. Hiện, giá cá trê vàng lai thương phẩm có giá khoảng 40-45.000 đồng/kg.

Nuôi cá trê vàng lai không cần phải có nhiều kinh nghiệm, không cần diện tích lớn, vốn đầu tư thấp, thời gian nuôi ngắn, rủi ro thấp, lợi nhuận ổn định nên một số hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư nuôi với quy mô lớn kiểu trang trại, bước đầu thu lại hiệu quả.

Hải Linh

Kỹ Thuật Nuôi Cá Trê Vàng Lai

Cá trê vàng lai là kết quả của lai giống bằng phương pháp sinh sản nhân tạo giữa cá trê phi và cá trê vàng.

Cá trê vàng lai có ngoại hình tương tự ,cá trê vàng, da trơn nhẵn, đầu bẹp, thân hình trụ, dẹp ở phía đuôi. Thân có màu vàng xám hoặc nâu vàng xám, phần bụng màu vàng nhạt, trên thân lốm đốm nhiều bông cẩm thạch và nhiều chấm trắng nhỏ theo chiều đứng ( thẳng góc với thân cá ).

Cá trê vàng lai rất mau lớn, trong điều kiện nuôi với mật độ thích hợp thức ăn đầy đủ, sau 3-4 tháng nuôi cá sẽ đạt trọng lượng trung bình từ 150-200g/con. Cá sống trong môi trường nước hơi phèn và trong điều kiện nước hơi lợ ( độ mặn < 5 0/00 ). cá phát triển tốt trong môi trường nước có độ pH trong khoảng từ 5,5-8,0. Do cá có cơ quan hô hấp phụ nên sống được trong ao, đìa nước tù, chịu đựng được cả những khi hàm lượng oxy trong nước xuống thấp ( 1-2mg/l ).

Cá trê vàng lai hoạt động, bơi lội, ăn mạnh vào buổi chiều tối hoặc ban đêm, lúc trời mờ sáng, vì vậy việc kéo lưới thu hoạch cá ( cá giống và thịt ) nếu thực hiện vào những thời gian kể trên sẽ đạt hiệu quả cao.

Mùa vụ thả nuôi thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10 âm lịch hàng năm.

II. Kỹ thuật nuôi cá thương phẩm

1. Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi có diện tích từ 1.000 – 3.000m2 sẽ thuận tiện cho việc cho ăn, chăm sóc và thu hoạch. Nếu là ao cũ: vét bùn đáy ao, lấp hang hốc, phát quang bụi rậm, phơi đáy ao 2-3 ngày, bón vôi từ 30-50kg/1.000m2 để diệt tạp và điều chỉnh độ pH của nước ao. Bón lót phân chuồng với liều lượng 100-150kg phân/1.000m2. Lấy nước qua lưới lọc vào ao để ngăn ngừa cá dữ, địch hại theo vào trong ao.

Sau 5-7 ngày có thể thả cá vào ao nuôi được. Mực nước ban đầu lấy vào khoảng 1m, sẽ được tăng dần lên sau 1 tháng nuôi đến khi đạt độ sâu 1,2-1,5m.

Nếu là ao mới đào: bón vôi với lượng từ 70-100kg/1.000m2 để giữ cho độ pH của nước ao từ 6-7,5 là tốt nhất.2. Chọn cá giống

Chọn cỡ cá đồng đều, khỏe mạnh, không bị xây xát, không bị bệnh, bơi lội nhanh nhẹn, đánh móng mạnh. Nếu ao không bị rò rỉ, có thể rút cạn nước và diệt tạp triệt để thì phải thả cá cỡ 5-6cm hoặc cá lứa ( 10-12 cm ), nhằm giảm được tỉ lệ hao hụt.

3. Mật độ thả

Nuôi đơn

Cỡ cá (cm) Mật độ thả (con/m2) Thời gian bắt đầu thu hoạch

3 – 4 60 – 70 Sau 3 tháng nuôi 4 – 6 40 – 50 Sau 3 tháng nuôi 5 – 7 30 – 40 Sau 3 tháng nuôi 10 -12 20 – 30 Sau 2,5 tháng nuôiNuôi ghép

Mục đích là tận dụng hết thức ăn trong ao nuôi, có thể thả ghép với các loại cá sau: rô phi, chép, trắm cỏ, trôi. Mật độ thả cho từng cá như sau:

Loại cá Cỡ cá (cm) Mật độ thả (con/m2) Thời gian bắt đầu thu hoạch

Trê vàng lai 4 – 6 10 Sau 3 tháng (=250g/con) Trôi 6 – 8 5 Sau 6 tháng (=250g/con) Chép 6 – 8 3 Sau 6 tháng (=300g/con) Rô phi 6 – 8 10 Sau 4 tháng (=200g/con) Trắm 6 – 8 1 – 2 Sau 8 tháng (=500g/con)

Trong thời gian này thời gian thu hoạch sẽ thay đổi theo loại cá, tốc độ lớn, kích cỡ thương phẩm được thị trường ưa chuộng. Như vậy sau thời gian nuôi 3 tháng sẽ thu hoạch và thả bù cá trê vàng lai với kích cỡ lớn hơn, thường là 10 – 12cm hoặc 12 – 15cm, thả bù cá rô phi cỡ 8 – 10cm sau khi kéo lưới thu hoạch đợt 1.

4. Thức ăn nuôi cá và chăm sóc

Cá trê vàng lai ăn tạp, rất háu ăn, có tập tính ăn gần như cá trê vàng. Thức ăn nuôi cá thường gồm các loại phụ phế phẩm của các nhà máy đông lạnh như đầu vỏ tôm, da ruột mực, đầu lòng cá, ruột sò điệp… cám thức ăn gia súc, cám gạo, bắp xay, con ruốc, cá phân ( xay ).

Ngoài ra để giúp tăng trưởng nhanh, ít bệnh trong quá trinh nuôi cần định kỳ bổ sung premix vitamin ( loại dùng cho heo thịt ) 1 tuần 1 lần với lượng 1 – 2% của tổng lượng thức ăn cho ăn trong ngày.

Trong hai tuần đầu khi mới thả cá còn nhỏ nên băm thức ăn để vừa với miệng cá.

Bắp xay nên ngâm nước cho nở khoảng 15 – 20 phút trước khi nấu với nước sôi. Sau khi nấu chính trộn với cám khô theo tỉ lệ 1/1 rồi trộn tiếp với con ruốc hoặc cá phân.

Nếu cho ăn thức ăn tươi ( đầu tôm, lòng ruột cá… ) lượng thức ăn cho ăn trong ngày bằng 10 -15% tổng trọng lượng cá dự đoán dưới ao. Nếu dùng thức ăn tinh như cám, bắp… lượng thức ăn cho cá ăn trong ngày bằng 5 – 7% trọng lượng cá dự đoán. Trường hợp nuôi ghép thì nên dùng kết hợp thức ăn tinh với thức ăn tươi theo tỉ lệ 1/1. Nếu cá ghép trong ao đã lớn thì có thể cho cá ăn bắp hột ( xay thô ) ngâm nước mà không cần nấu chín.

Nếu cho ăn ở những vị trí cố định trong ao, thường xuyên phải theo dõi và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Tránh trường hợp cho ăn quá dư thừa làm thối bẩn nước ao tạo điều kiện cho bệnh cá phát triển.

Trong thời gian nuôi cần theo dõi hoạt động của cá, màu nước trong ao. Sau 1 tháng đầu, cá tương đối lớn, có thể định kỳ lấy nước vào trong ao, cứ 5 – 7 ngày 1 lần thay khoảng 30% nước trong ao. Sử dụng nhiều thức ăn tươi thì cần chú ý thay nước thường xuyên hơn.

5. Một số bệnh5.1 Một số bệnh trên cá hương, cá giống

Ương cá từ cá bột lên cá hương, cá giống là giai đoạn rất quan trọng. Ở giai đoạn này da cá mỏng, rất nhạy cảm với với sự thay đổi của môi trường bên ngoài nên cá dễ bị nhiễm bệnh, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, có khi gây chết hàng loạt.

Bệnh trắng mình

* Dấu hiệu: Thân cá có nhiều mảng trắng, cá bị tuột nhớt, râu cong quặp cá treo thân thẳng đứng với mặt nước hoặc bơi lội lờ đờ, chết rất nhanh với số lượng lớn. Bệnh có thể xảy ra ở cá bột cỡ 5 – 7 ngày tuổi, cỡ cá giống lớn 6 – 8cm vẫn có thể nhiễm bệnh này.* nguyên nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Flexibater columnaris, bệnh thường xảy ra ở các bể ương với mật độ dày, chất lượng nước xấu, nước bị thối bẩn do thay nước không thường xuyên. Vi khuẩn xâm nhập các cơ quan nội tạng của cá, hủy hoại mang và các tế bào ở da cá làm cá khó thở, gây chết. Ở bệnh này cùng với sự xâm nhập của vi khuẩn, nấm và nguyên sinh động vật gây bệnh cũng đồng thời xâm nhập làm cá chết rất nhanh.* cách xử lý: Trong bề xi măng hoặc bể bạt dùng Oxytetracyline với liều lượng 10 – 20ppm kết hợp với Formalin 25 ppm ( 25ml/1m3 nước ). hoặc dùng Oxytetracyline với liều lượng 10 – 20ppm kết hợp với muối ăn.

6. Thu hoạch

Sau 2 tháng đến 3 tháng nuôi cá sẽ đạt kích cỡ thương phẩm ( 150 – 250g/con ). Lúc này hình dáng bên ngoài của cá sẽ rất giống cá trê vàng ( chỉ khác ở chỗ u lồi xương chẩm ). Thu hoạch đợt 1 xong sẽ tiếp tục cho ăn tích cực, khoảng 10 – 15 ngày sau sẽ thu hoạch đợt 2, thường ở đợt này lượng cá thu hoạch sẽ được nhiều hơn và tương đối đồng đều về kích cỡ hơn so với đợt 1. Nếu trong ao vẫn còn 1 số cá chưa đạt quy cỡ thì sẽ nuôi vỗ tiếp tục 2 tuần nữa và thu hoạch toàn bộ. Nên thả cá giống ngay từ đầu vụ ( tháng 3 – 4 âm lịch ) để đến thời điểm thu hoạch vào tháng 6, 7, 8 âm lịch cá thịt bán được giá cao, chi phí đầu tư con giống rẻ, dễ nuôi hơn lúc cuối vụ ( do thời tiết cuối vụ thường lạnh, cá dễ bị bệnh ).

Sau khi trừ chi phí cải tạo ao, con giống, thức ăn, công chắm sóc bảo vệ… người nuôi thường có thể được lãi 40 – 45% so với tiền vốn bỏ ra ban đầu. Thu hoạch cá vào những mùa đụng cá đồng ( thả cá vào giữa và cuối vụ ) thì tiền lãi thu được sẽ thấp hơn do giá con giống cao, giá cá thịt rẻ, thường chỉ lãi 20 – 25% so với tiền vốn ban đầu.

HIỆN NAY TRẠI GIỐNG CỦA CHÚNG TÔI CÓ CUNG CẤP ĐẦY ĐỦ CÁ BỘT VÀ KÍCH CỠ CON GIỐNG. BÀ CON NÀO CÓ NHU CẦU NUÔI THẢ XIN VUI LÒNG LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI

RẤT HÂN HẠNH ĐƯỢC PHỤC VỤ BÀ CON!

Kỹ Thuật Nuôi Cá Thương Phẩm Trê Vàng Lai

1. Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi cá trê vàng lai có diện tích từ 1.000 – 3.000 m2 sẽ thuận tiện cho việc cho ăn, chăm sóc và thu hoạch.

Nếu là ao cũ: Vét bùn đáy ao, lấp hang hốc, phaats quang bụi rậm, phơi đáy ao 2 – 3 ngày, bón vôi từ 30 – 50 kg/1.000m2 để diệt tạp và điều chỉnh độ pH của nước ao.

Bón lót phân chuồng với liều lượng 100 – 150 kg phân/1.000 m2.

Lấy nước qua lưới lọc vào ao để ngăn ngừa cá dữ, địch hại theo vào trong ao.

Sau 5 – 7 ngày có thể thả cá vào ao nuôi được.

Mực nước ban đầu lấy vào khoảng 1 m, sẽ được tăng dần lên sau 1 tháng nuôi đến khi đạt độ sâu 1,2 – 1,5 m.

Nếu là ao mới đào: Bón vôi với lượng từ 70 – 100 kg/1.000 m2 để giữ cho độ pH của nước ao từ 6 – 7,5 là tốt nhất.

2. Chọn cá giống

Chọn cỡ cá đồng đều, khoẻ mạnh, không bị xây sát, không bị bệnh, bơi lội nhanh nhẹn, đánh móng mạnh.

Nếu ao không bị rò rỉ, có thể rút cạn nước và diệt tạp triệt để thì nên thả nuôi cá cỡ nhỏ 3 – 4 cm hoặc 4 – 5 cm để giảm được chi phí về con giống.

Nếu ao có lỗ muội bị rò rỉ, không diệt được tạp triệt để thì phải thả cá cỡ 5 – 6 cm hoặc cá lứa (10 – 12 cm), nhằm giảm được tỷ lệ hao hụt của cá nuôi.

3. Mật độ thả Nuôi đơn

Cỡ cá (cm) Mật độ thả (con/m2) Thời gian bắt đầu thu hoạch

3 – 4cm 60 – 70 con/m2 Sau 3 tháng nuôi

4 – 6cm 40 – 50 con/m2 Sau 3 tháng nuôi

5 – 7cm 30 – 40 con/m2 Sau 3 tháng nuôi

10 – 12cm 20 – 30 con/m2 Sau 2,5 tháng nuôi

Nuôi ghép

Mục đích là tận dụng hết thức ăn trong ao nuôi, có thể thả ghép cá trê vàng lai chung với các loại cá sau: rô phi, chép, trắm cỏ, trôi.

Mật độ thả cho từng cá như sau:

Loại cá Cỡ cá (cm) Mật độ thả (con/m2) Thời gian bắt đầu thu hoạch

Trê vàng lai 4 – 6cm 10 con/m2Sau 3 tháng (= 250g/con)

Trôi 6 – 8cm 5 con/m2 Sau 6 tháng (= 250g/con)

Chép 6 – 8cm 3 con/m2 Sau 6 tháng (= 300g/con)

Rô phi 6 – 8cm 10 con/m2 Sau 4 tháng (= 200g/con)

Trắm 6 – 8cm 1 – 2 con/m2 Sau 8 tháng (= 500g/con)

Trong trường hợp này thời gian thu hoạch sẽ thay đổi theo lại cá, tốc độ lớn, kích cỡ thương phẩm được thị trường ưa chuộng.

Như vậy sau thời gian nuôi 3 tháng sẽ thu hoạch và thả bù cá trê vàng lai với kích cỡ lớn hơn, thường là 10 – 12 cm hoặc 12 – 15 cm, thả bù cá rô phi cỡ 8 – 10 cm sau khi kéo lưới thu hoạch đợt 1.

4. Thức ăn nuôi cá và chăm sóc

Cá trê vàng lai ăn tạp, rất háu ăn, có tập tính ăn gần tương tự như cá trê vàng.

Thức ăn nuôi cá thường gồm các loại phụ phế phẩm của các nhà máy đông lạnh như đầu vỏ tôm, da ruột mực, đầu lòng cá, ruột sò điệp … cám thức ăn gia súc, cám gạo, bắp xay, con ruốc, cá phân (xay).

Ngoài ra, để giúp tăng trưởng nhanh, ít bệnh, trong quá trình nuôi cần định kỳ bổ sung premix vitamin (loại dùng cho heo thịt) 1 tuần 1 lần với lượng 1 – 2% của tổng lượng thức ăn cho ăn trong ngày.

Trong hai tuần đầu khi mới thả cá còn nhỏ nên băm thức ăn để vừa với cỡ miệng của cá.

Bắp xay nên ngâm nước cho nở khoảng 15 – 20 phút trước khi nấu với nước sôi.

Sau khi nấu chín trộn với cám khô theo tỷ lệ 1/1 rồi trộn tiếp với con ruốc hoặc cá phân.

Nếu cho ăn thức ăn tươi (đầu tôm, lòng ruột cá …) lượng thức ăn cho ăn trong 1 ngày bằng 10 – 15% tổng trọng lượng cá dự đoán dưới ao.

Nếu dùng thức ăn tinh như cám, bắp… lươngj thức ăn cho cá ăn trong 1 ngày bằng 5 – 7% trọng lượng cá dự đoán.

Trường hợp nuôi ghép chung với các loại cá khác (chép, trắm, trôi…) thì nên dùng kết hợp thức ăn tinh với thức ăn tươi theo tỷ lệ 1/1.

Nếu cá ghép trong ao đã lớn thì có thể cho ăn bắp hột (xay thô) ngâm nước mà không cần phải nấu chín.

Nếu cho ăn ở những vị trí cố định trong ao, thường xuyên phải theo dõi và điều 3 chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Tránh trường hợp cho ăn quá dư thừa làm thối bẩn nước ao tạo điều kiện cho bệnh cá phát triển.

Trong thời gian nuôi cần theo dõi hoạt động của cá, màu nước trong ao.

Sau một tháng đầu, cá tương đối lớn, có thể định kỳ lấy nước vào trong ao, cứ 5 – 7 ngày một lần thay khoảng 30% nước trong ao.

Sử dụng nhiều thức ăn tươi thì cần chú ý thay nước thường xuyên hơn.

Đảng Cộng Sản Việt Nam

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đọc diễn văn bế mạc Đại hội XII của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I: diễn ra từ ngày 27 – 31/3/1935 tại Ma Cao (Trung Quốc) do đồng chí Hà Huy Tập chủ trì.

Đại hội bầu đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư. (Đến tháng 10/1936, Trung ương Đảng được tổ chức lại, đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư; tháng 3/1938, BCH Trung ương Đảng họp Hội nghị toàn thể, bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư; tháng 11/1940, Hội Nghị Trung ương 7, đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư).

Đại hội lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng, đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp Nhân dân dưới sự lãnh đạo của BCH Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II: diễn ra từ ngày 11 – 19/2/1951 tại xã Vinh Quang, Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Dự đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên cộng sản trên toàn Đông Dương.

Đại hội đã tổng kết 21 năm Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, 5 năm lãnh đạo chính quyền non trẻ và công cuộc kháng chiến kiến quốc; Đại hội đã phát triển đường lối kháng chiến và đề ra những chính sách cụ thể để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn và chuẩn bị những tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi kháng chiến thành công. Đại hội quyết định lấy tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam.

Đại hội bầu ra BCH Trung ương gồm 19 đồng chí chính thức và 10 đồng chí dự khuyết. Bộ Chính trị có 7 đồng chí chính thức và 1 dự khuyết. Đại hội đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III: diễn ra từ ngày 5 – 10/9/1960 tại Hà Nội. Có 525 đại biểu chính thức thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước đã về dự Đại hội.

Đại hội đã tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng, nêu lên những bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 đồng chí và 31 ủy viên dự khuyết. BCH Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Thứ nhất BCH Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV: diễn ra từ ngày 14 – 20/12/1976 tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.008 đại biểu chính thức thay mặt cho 1,55 triệu đảng viên cả nước, cùng với sự có mặt của nhiều đảng cộng sản và các tổ chức quốc tế khác.

Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 101 đồng chí chính thức. BCH Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V: diễn ra từ ngày 27 – 31/3/1982. Tham dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt 1,727 triệu đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở.

Đại hội lần thứ V tập trung giải quyết những vấn đề gay gắt nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam. Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của Nhân dân”.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết. BCH Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI: Đại hội diễn ra từ ngày 15 – 18/12/1986 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế.

Đại hội đề xướng và lãnh đạo thực hiện sự nghiệp đổi mới.

Đại hội đã bầu BCH Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết. BCH Trung ương Đảng đã bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII: diễn ra từ ngày 24 – 27/6/1991 tại Hà Nội. Dự đại hội có 1.176 đại biểu, thay mặt cho hơn 2.155.022 đảng viên trong cả nước.

Đại hội VII là Đại hội của trí tuệ – đổi mới, dân chủ – kỷ cương – đoàn kết; là Đại hội lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đại hội cũng đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000.

Đại hội đã bầu BCH Trung ương gồm 146 ủy viên, BCH Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên (Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 6 khóa VII tháng 11/1993 đã bầu bổ sung thêm 4 ủy viên Bộ Chính trị). Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: diễn ra từ ngày 28/6 – 1/7/1996 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.198 đảng viên đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước.

Đại hội khẳng định: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, đại hội rút ra 6 bài học chủ yếu.

Đại hội đã bầu BCH Trung ương gồm 170 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư (sau đó, tại Hội nghị BCH TW lần thứ 4, khóa VIII – tháng 12/1997, đồng chí Lê Khả Phiêu đã được bầu làm Tổng Bí thư).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: diễn ratừ ngày 19 – 22/4/2001 tại Hà Nội. Tham dự có 1.168 đại biểu là những đảng viên ưu tú được bầu từ các đại hội đảng bộ trực thuộc, đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội IX của Đảng có ý nghĩa trọng đại mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đại hội đã bầu BCH Trung ương khoá IX gồm 150 uỷ viên. Hội nghị lần thứ nhất BCH Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: diễn ra từ ngày 18 – 25/4/2006 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Đây là Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững. Chủ đề của Đại hội là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết, với Bộ Chính trị gồm 14 thành viên và Ban Bí thư có 8 thành viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được tái cử Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: diễn ra từ ngày 12 – 19/1/2011, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.377 đại biểu đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên sinh hoạt tại 57 nghìn tổ chức cơ sở Đảng.

Chủ đề của Đại hội là:”Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Đại hội lần thứ XI của Đảng là Đại hội mở đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XXI; Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020 là những văn kiện quan trọng có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước.

Đại hội đã bầu BCH Trung ương Đảng gồm 175 ủy viên chính thức và 25 dự khuyết, BCH Trung ương bầu Bộ Chính trị 14 đồng chí (Hội nghị Trung ương 7, tháng 5/2013 bầu bổ sung 02 đồng chí). Ban Bí thư gồm 11 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII: sẽdiễn ra từ ngày 20 – 28/1/2016, tại Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.510 đại biểu đại diện cho hơn 4,5 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Chủ đề của Đại hội là:”Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Phương châm của Đại hội: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đổi mới”.

Đại hội tổng kết 30 năm đổi mới, đánh giá quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011 – 2015) và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước trong giai đoạn 2016 – 2020; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, UBKT Trung ương Khóa XII (2016 – 2020).

Phạm Văn Triều

Lượt xem: 4249

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cá Trê Vàng Lai Cho Lãi Cao – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!