Đề Xuất 1/2023 # Chăn Nuôi Gà Hiệu Quả Nhờ Sử Dụng Vitamin Đúng Cách – Venamti.vn # Top 7 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 1/2023 # Chăn Nuôi Gà Hiệu Quả Nhờ Sử Dụng Vitamin Đúng Cách – Venamti.vn # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chăn Nuôi Gà Hiệu Quả Nhờ Sử Dụng Vitamin Đúng Cách – Venamti.vn mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CHĂN NUÔI GÀ HIỆU QUẢ NHỜ SỬ DỤNG VITAMIN ĐÚNG CÁCH

Vitamin và khoáng chất là 2 hợp chất không chỉ cần thiết cho sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất và sự trao đổi chất trong cơ thể vật nuôi. Với nồng độ thấp nhưng Vitamin có vai trò quyết định sự tồn tại của tất cả quá trình sống. Vitamin tham gia vào cấu trúc của các nhóm enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa trong quá trình đồng hóa, dị hóa, quyết định sự sinh trưởng, sinh sản và tính kháng bệnh của gia cầm. Một vài loại vitamin không thể tự tổng hợp được trong ruột nên cần phải được bổ sung theo cách trộn lẫn vào thức ăn theo đường ăn, uống hoặc tiêm.

Vitamin cần được bổ sung theo đúng nhu cầu của từng loại động vật và theo đúng lượng của từng loại vitamin. Khi thiếu hoặc thừa vitamin sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng như sau:

Vitamin A có vai trò quan trọng trong việc điều hóa trao đổi protein, lipid, glucid cần thiết cho sự hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng,  vỏ tuyến thượng thận, nguyên liệu tạo rodopxin của thị giác. Thiếu vitamin A gà con sẽ còi cọc, chậm lớn, sừng hóa và viêm niêm mạc mắt, sừng hóa thanh khí quản nên dễ bị bệnh hô hấp, bệnh cầu trùng nặng. Một vài hiện tượng thực tế cho thấy, gà con chết sau 2-4 tuần với triệu chứng thần kinh trước khi chết, mổ khám sẽ thấy đường ống dẫn niệu tích đầy urat, gà đẻ giảm năng suất trứng do buồng trứng phát triển kém, niêm mạc ống dẫn trứng bị sừng hóa, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ thụ tinh thấp, tỷ lệ chế phôi cao.

Nguồn Vitamin A trong tự nhiên có nhiều trong bắp vàng, bột cỏ chứa nhiều caroten hỗ trợ cho màu lòng đỏ trứng đậm hơn, da và mỡ gà vàng. Vitamin A dễ hư hỏng khi trộn vào thức ăn nên cần có thêm chất chống oxy hóa, khi tồn trữ thức ăn lâu rất dễ bị mất vitamin A.

Triệu chứng thừa Vitamin A cũng gây nguy hiểm cho gia cầm như: da xù xì và đóng vảy, bị kích động mạnh và nhạy cảm khi va chạm, mất khả năng kiểm soát, có máu trong nước tiểu và phân, chân không đứng dậy được và co giật có tính chu kỳ ( với liều sử dụng khoảng 100.000 IU/kg thể trọng)

Nhu cầu của Vitamin A ở gia cầm phụ thuộc vào tuổi và sức sản xuất của chúng:

Gia cầm non đang sinh trưởng nhanh : khoảng 12.000 – 15.000 IU/kg thức ăn.

Gà đẻ trứng cần: 10.000 – 12.000 IU/kg thức ăn

Vitamin C tham gia vào quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống stress, tạo điều tiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng.

Gia cầm có thể tự tổng hợp vitamin C trong cơ thể . Nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống với liều lượng hợp lý khoảng: 100 – 500 mg/kg thức ăn. Chăn nuôi tại môi trường có khí hậu nóng ẩm, việc gia tăng liều lượng Vitamin Cc giúp chủng ngừa, cân gà hoặc đàn gà bị bệnh truyền nhiễm sẽ giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu tố bất lợi.

Trong nguyên liệu thức ăn hỗ trợ chăn nuôi rất nhiều loại vitamin C như : Vitamin C 35%, Vitamin C 97%, Vitamin C 99%. Tùy vào nhu cầu sử dụng để lựa chọn hàm lượng vitamin phù hợp.

VITAMIN D

Vitamin D giữ vai trong quan trọng trong việc tối ưu hệ thống khung xương của một con gà mái – giúp tăng cường xương, móng vuốt và mỏ. Vitamin Đ cũng có tác động tích cực tới chất lượng vỏ trứng. Lượng Vitamin D phụ thuộc rất nhiều vào hàm lượng và sinh khả dung của hai chất: canxi và phốt pho. Một số nguyên nhân gây thiếu vitamin D ở gia cầm như:

Khẩu phần ăn thiếu Vitamin D, đặc biệt là vitamin D3 làm không điều tiết hấp thu canxi cho cơ thể.

Do chuồng trại thiếu ánh sáng mặt trời vào buổi sáng (buổi sáng có tia tử ngoại làm chuyển hóa vitamin D ở dưới da của gà thành vitamin D3 có tác dụng điều tiết sự hấp thu canx và photpho từ thức ăn vào cơ thể giúp chống bệnh còi xương bại liệt và đẻ non)

Do trong thức ăn có chứa lưu huỳnh nên ảnh hưởng đến khả năng hấp thu vitamin D

Do vitamin D2 dễ bị phân hủy mất tác dụng bởi các chất oxy hóa hoặc kim loại khác phân giải.

Tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của từng loại gia cầm mà lượng vitamin D3 cần bổ sung sẽ khác nhau. Ví dụ như:

Gà đẻ: 2000 – 3000 IU/kg hỗn hợp thức ăn

Gà thịt: 2500 – 4000 IU/kg hỗn hợp thức ăn

Vitamin E giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp chất sinh học và các acid béo chưa no, tạo điều kiện thuận lợi trao đổi phospho, glucid và protein, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước tuyến yên, tăn cường sự hấp thu các vitamin A và D, giúp ổn định thành mạch, màng tế bào của tuyến sinh dục. Thiếu vitamin E sẽ gây tình trạng gà bị ngẹo đầu, mỏ trúc xuống, mất thăng bằng, đi đứng loạng choạng, đi thụt lùi, hoại tử cơ trắng vùng cơ ức và cơ đùi (giống như tình trạng thiếu selen). Ở gà đẻ sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh, giảm tỷ lệ đẻ, trứng và thị tonh có phôi phát triển kém, phôi chết nên tỷ lệ ấp nở sẽ thấp

Trong tự nhiên, Vitamin E có nhiều trong các hạt mầm, bột lá cây xanh non sấy nhanh. Tuy nhiên những chất này rất nhạy cảm với oxy và ánh sáng. Nếu dùng axit Propionic bảo quản hạt ngũ cốc trong thức ăn sẽ làm giảm vitamin E chứa trong hạt. Vì vậy, người chăn nuôi có thể lựa chọn các sản phẩm Nguyên Liệu Thức Ăn Chăn Nuôi – Vitamin E để tăng hiệu quả, giảm bớt chi phí và dễ bảo quản sử dụng.

Nhu cầu vitamin E cho gia cầm là 20 IU/kg thức ăn, khi hàm lượng chất béo trong thức ăn tăng cao 8 – 10% thì nhu cầu vitamin E tăng lên đến 30 IU/kg thức ăn.

VITAMIN H

Mặc dù gia cầm chỉ cần một lượng nhỏ không đán kể nhưng biotin (hay còn gọi là vitamin H) lại đóng một vai trò thực sự quan trọng trong việc trao đổi chất và có ảnh hưởng đến chi phí premix vitamin.

Gia cầm thiếu vitamin H có đặc điểm viêm biểu mô hàm dưới và bàn chân. Da và niêm mạc khô, trắng, có vảy. Khả năng tăng trọng giảm và tỷ lệ ấp nở thấp. Bệnh thiếu Biotin ở gà gây nên hiện tượng gà tăng trọng kém, lông giòn và rụng, da khô có vảy. Trường hợp nặng sẽ viêm biểu mô ở gốc miệng, bàn chân. Ở bàn chân hình thành các vết nứt. Mí mắt dính lại. Phôi chết xuất hiện trong tuần đầu và 3 ngày cuối.

Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh thiếu vitamin H ở gia cầm như:

Dùng nhiều kháng sinh cho uống hay trộn thức ăn, làm cho vi khuẩn đường ruột bị chết không tổng hợp được Biotin

Thức ăn không được bổ sung đầy đủ các premix có chưa biotin. Hoặc các nguyên liệu có chừa biotin không được cung cấp đủ như men bia, bột cao, gan, bột trứng.

Cung cấp đủ vitamin H (biotin) trong thức ăn với liều lượng 0.15 – 0.2 mg/kg thức ăn giúp gia cầm phòng bệnh thiếu vitamin H hiệu quả.

Hoặc khi gia cầm đã mắc bệnh, có thể dùng các premix chưa vitamin H tăng liều 2-3 lần, liên tục trong 5-7 ngày. Hoặc trộn lòng đỏ trứng gà vào thức ăn trong giai đoạn gà bệnh để tăng biotin cho gà.

VITAMIN K

Vitamin K được sử dụng rộng rãi trong thức ăn chăn nuôi là vitamin K3 – một loại vitamin quan trọng giúp ngăn chặn quá trình chảy máu không ngừng ở các vết thương, hay nói ngắn gọn là giúp đông máu. Trong các bệnh xuất huyết như bệnh cầu trùng, bệnh gumboro, bệnh giun đũa … đều dễ bị chảy máu và Vitamin K giúp làm đông máu để tránh gà bị mất máu dễ chết.

Một số triệu chứng dễ bắt gặp khi gia cầm bị thiếu vitamin K trong thức ăn kéo dài như:

Sau khi cắt mỏ gà bị chảy máu nhiều hơn bình thường Mỏ dính bết thức ăn lẫn máu.

Ở gà giò: Đôi khi chết đột ngột do chảy máu trong.

Ở gà mái: Màu nhợt nhạt và da xanh tím.

Bổ sung vào thức ăn khoảng 2-8mg/kg thức ăn giúp gia cầm phòng bệnh hiệu quả

Lưu ý rằng: Vitamin K là loại vitamin tan trong dầu. Vì vậy phải bổ sung vào thức ăn những nguyên liệu như bột cá, bánh dầu đậu tương, dầu gan cá loại tốt sẽ cung cấp đủ vitamin K cho cơ thể vật nuôi.

  + Vitamin B1:

– Gia cầm rất nhạy cảm với việc thiếu vitamin B1, khi thiếu dẫn đến triệu chứng chân đưa về phía trước, các ngón chân run, đầu ngẩng lên trên (ngược với thiếu vitamin E đầu gập xuống), đi đứng khó khăn, tích nước trong mô nên thịt nhão, phù nề do tích nước dưới da nhiều, nhu động ruột kém nên tiêu hóa kém, gà ăn ít, tình trạng nặng có thể co giật và chết. Gia cầm thường thiếu B1 trong trường hợp sử dụng nhiều thức ăn củ như khoai mỳ, khoai lang hoặc thức ăn hạt dự trữ lâu ngày, bảo quản không tốt nên bị mốc.

– Nguồn thức ăn chứa nhiều B1 như nấm men, men rượu, sử dụng chế phẩm từ nấm men 2 – 3% hoặc cám gạo, cám mỳ 5 – 10% trong thức ăn cho gia cầm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu vitamin B1 cho gia cầm là 2mg/kg thức ăn.

+ Vitamin B2:

– Thiếu vitamin B2 gà con sẽ bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, viêm quanh khóe mắt, chân bị liệt ngón co quắp, di chuyển khó khăn, mắt nhắm, ghèn dính làm mắt mở khó khăn. Gà đẻ giống sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 12 – 18, gà con mới nở bị liệt chân.

– Cần cung cấp cho gà con 3 – 4 tuần tuổi lượng vitamin B2 là 8mg/ kg thức ăn, các loại gà khác cần 5 – 6 mg/kg thức ăn.

– Vitamin B2 có nhiều trong các loại rau quả xanh non, mầm hạt, nấm men. Vitamin B2 rất dễ bị oxy hóa trong không khí và mau hư.

  + Vitamin B3:

– Thường chỉ gặp trường hợp thiếu do thức ăn bị sấy ở nhiệt độ cao làm vitamin B3 bị phân hủy. Thiếu sẽ gây hiện tượng viêm da ở góc mắt và miệng, viêm nứt các ngón chân, rụng lông, sinh trưởng chậm, giảm sức kháng bệnh, gà đẻ giảm năng suất, tỷ lệ ấp nở giảm.

– Vitamin B3 có nhiều trong các loại thức ăn hạt, nấm men, nghèo trong các loại củ quả. Nhu cầu đối với gia cầm là 20 mg/kg thức ăn hỗn hợp.

  + Vitamin B5:

– Tình trạng thiếu vitamin B5 giống như thiếu vitamin B2 và B3, các lóp biểu bì của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém.

– Nhu cầu viatmin B5 ở gà con là 40 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 30 mg/kg thức ăn.

– Vitamin B5 có nhiều trong thức ăn hạt, thức ăn lên men, thức ăn xanh, thường gặp những tình trạng thiếu vitamin B5 là do trong thức ăn thiếu tryptophan làm cho cơ thể khó hấp thu vitamin B5.

  + Vitamin B6:

– Thiếu sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính thèm ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu.

– Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 3,5 mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu cầu vitamin B6 cũng tăng lên.

  + Vitamin B9:

– Vitamin B9 có nhiều trong các loại thức ăn xanh và được vi khuẩn đường ruột tổng hợp, chỉ thiếu khi thức ăn nấu ở nhiệt độ cao hoặc gà bị bệnh đường ruột. Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, gà con giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên lông đen, vàng có những đốm trắng. Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp.

– Nhu cầu vitamin B9 cho gà con là 1mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7 mg/kg thức ăn.

  + Vitamin B12:

– Khi thiếu gây hiện tượng thiếu máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh kém, gà đẻ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều, và kéo theo thiếu Cholin.

– Vitamin B12 có nhiều trong thức ăn động vật, vi sinh vật.

– Nhu cầu vitamin B12 ở gia cầm phụ thuộc vào sự cung cấp đủ Methionin, Cholin, Vitamin B9, vitamin B3, nếu thiếu những chất này thì nhu cầu B12 sẽ tăng lên. Khi các chất trên đã cung cấp đủ thì nhu cầu vitamin B12 của gia cầm là 10 – 15 µg/kg thức ăn.

Nguồn: Sưu tầm 

Khi Nào Cần Phải Sử Dụng Vitamin C Trong Chăn Nuôi Gà

Vitamin C

Vitamin C tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể.

Vitamin C được tổng hợp trong cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống cho gia cầm với liều 100 – 500 mg/kg thức ăn. Khi thời tiết nóng, chủng ngừa, cân gà hoặc đàn gà bị bệnh truyền nhiễm thì dùng vitamin C liều cao giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu tố bất lợi. Vitamin C (acid Ascorbic) có vai trò quan trọng trong quá trình phòng chống stress, giúp cơ thể tăng khả năng chống chịu với những điều kiện bất lợi của môi trường. Vì vậy trong chăn nuôi gà sẽ thường xuyên sử dụng vitamin C điển hình như sau:Trước và sau khi chủng ngừa: trước khi chủng ngừa 1-2 ngày và sau khi chủng ngừa 3-5 ngày cần cung cấp vitamin C để giúp gà tạo kháng thể tốt, hạn chế bị sốc do chủng ngừa. Trong mùa nắng nóng: Thường xuyên cung cấp Vitamin C trong thức ăn hoặc nước uống để giúp gà ổn định năng suất và tăng sức chịu đựng

Điều cần chú ý là muốn sử dụng vitamin C đạt hiệu quả cao ta nên cho gà sử dụng vitamin C trước khi xảy ra stress từ 12 đến 14 giờ. Ví dụ: Dự tính ngày mai sẽ cắt mỏ gà thì ngày nay phải cho gà uống vitamin C, không đợi đến ngày cắt mỏ mới cho uống. Cũng cần chú ý thêm là vitamin C rất dễ bị hư và bị giảm tác dụng trong điều kiện sản xuất và bảo quản không tốt, như: ánh sáng, độ ẩm cao, nhiệt độ cao,… Tóm lại: Việc sử dụng vitamin C để hỗ trợ gà trong những điều kiện bất lợi là rất cần thiết, nó là một trong những qui trình quan trọng trong suốt quá trình nuôi.

Cho Gà Đá Ăn Tỏi Theo Đúng Cách Hiệu Quả Nhất Thường Được Áp Dụng

Cách cho gà đá ăn tỏi thật hiệu quả để có được một chiến kê siêu bền bỉ và kháng mọi bệnh tật

những bệnh mà tỏi rất có thể chữa dứt điểm như:

Gà chọi bị hen khẹc

Gà chọi bị khò khè

Gà chọi nạp năng lượng không tiêu

Cho gà ăn uống tỏi có công dụng gì?

Từ xa xưa những người dân nông dân nước ta đã hiểu cách thức cho gà nạp năng lượng tỏi để phòng bệnh và chữa bệnh. không chỉ có bên trên gà mà thực hiện tỏi đối với người cũng rất tốt cho sức khoẻ. Vậy cho gà ăn tỏi tất cả tốt không?

Bức tốc hệ miễn dịch

Hoạt chất trong tỏi giúp khung hình gà tăng cường hệ miễn dịch. tạo nên nhiều chủng loại bảo vệ màng tế bảo làm tổn thương nhiễm sắc thể. không chỉ có vậy chúng còn có khả năng kháng virut tương tự như phòng chống nhiễm trùng tương đối tốt. vì vậy Việc sử dụng tỏi thường xuyên giúp gà luôn khoẻ bạo gan.

Hoạt chất kháng sinh tự nhiên

rất nhiều người thường cho gà ăn uống liên đới tỏi hoặc dã nát pha với nước khiến cho gà chọi, gà nuôi thịt uống. đây là hoạt chất kháng sinh thoải mái và tự nhiên tác dụng. đặc biệt là đối với nhiều chủng loại bệnh đường hô hấp như hen, nghẹt thở, khò khè.

Ẳn tỏi liên tiếp cũng giúp cho gà hoàn toàn có thể giảm thiểu náo loạn tiêu hoá. Từ đó ngã ngũ dần tình hình đi bên cạnh đó phân xanh hoặc phân loãng. 1 hệ tiêu hoá khoẻ mạnh mẽ thì mới giúp gà chọi bao gồm sức khoẻ tốt. Sung sức hơn cho những trận đánh căng thẳng mệt mỏi.

Diệt và tẩy giun

một trong những nghiên cứu nhận định rằng tỏi hoàn toàn có thể làm giảm số lượng giun và trứng của chúng như các loại giun đũa, giun móc, giun kim. đó là loại thuốc tẩy giun an toàn và đáng tin cậy cho sức khoẻ của gà.

Cho gà chọi nạp năng lượng tỏi ra làm sao đem về công dụng tốt nhất?

gồm rất nhiều cách để áp dụng câu hỏi cho gà nạp năng lượng tỏi sâu xa sức khoẻ & đề kháng. Tuỳ theo con số nuôi mà quý khách hàng hoàn toàn có thể vận dụng một cách cân xứng nhất.

Cho ăn gián tiếp qua nước uống

Dã nát tỏi tươi và hoà với nước uống cho gà nhỏ, gà cứng cáp cũng chính là một cách tốt. sử dụng tuỳ theo liều lượng làm cho gà phòng chống bệnh lý & sâu sát sức khoẻ. chỉ cần thực hiện từ 1-2 nhánh tỏi cho khoảng 1 lít nước uống là có thể dùng được.

Nếu cho uống tiếp tục thì nên cần sử dụng liều lượng thấp. còn nếu như không cho uống cách nhật hoặc tuần 2-3 lần với liều lượng lớn hơn.

Ngâm rượu tỏi hoà nước

1 cách nữa mà có thể cho gà ăn tỏi rất có thể vận dụng đó chính là ngâm rượu tỏi. có thể pha loãng rượu tỏi vào nước theo nồng độ 60ml rượu tỏi cho 10 lít nước uống 2 ngày/lần. so với gà con thì áp dụng 10 lít nước cho 200 gà bé còn nếu gà lớn thì 100 nhỏ.

Rượu ngâm tỏi sẽ phát huy được hết những tác dụng của tỏi và giúp gà hấp thu tốt hơn. Cho uống theo điều độ lịch trình cụ thể chi tiết sẽ giúp gà luôn khoẻ to gan.

Khi cho gà ăn uống tỏi thì cần nhớ là đây không phải là thuốc tiên nên đâu phải lúc nào cũng cho ăn nhiều là tốt. phải cho ăn uống đúng và đủ liều lượng thì mới có thể tốt cho gà. nhất là những chiến kê gà chọi bắt buộc để ý hơn. Liều lượng & con số là vấn đề cần chăm lo nhất.

Mật ong ngâm tỏi cũng chính là một cách khá hay để cho gà nạp năng lượng tỏi.

Cách Nuôi Gà Tây Cho Hiệu Quả Cao Đúng Chuẩn Kỹ Thuật

Gà tây hay còn gọi là gà lôi là giống gà cho hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, để đảm bảo được hiệu quả kinh tế khi nuôi gà lôi các bạn cần phải nắm được kỹ thuật nuôi gà lôi từ khâu chọn giống đến khi xuất bán hoặc nuôi gà lôi sinh sản. Trong bài viết này, Nông nghiệp Online (NNO) sẽ đưa ra cách nuôi gà tây cho hiệu quả cao đúng kỹ thuật để các bạn tham khảo.

Cách nuôi gà tây thả tự do

Nuôi gà tây thả vườn là mô hình nuôi gà tây được khá nhiều địa phương áp dụng. Ưu điểm của phương pháp này là tận dụng được môi trường xung quanh để giảm chi phí thức ăn cho gà tây mà lại giúp gà có chất thịt ngon. Để nuôi gà tây thả tự do các bạn cần chú ý nuôi gà đến khoảng 21 ngày tuổi thì mới bắt đầu thả tự do để gà tìm thức ăn. Trước khi gà đủ 21 ngày tuổi, các bạn cần úm gà tây con và có chế độ ăn hợp lý.

Khi gà tây 1 ngày tuổi nên úm ở nhiệt độ 35 độ C, mỗi tuần giảm nhiệt độ xuống 3 độ C để gà tây quen với nhiệt độ môi trường. Sau ngày 21 (3 tuần) thì không cần úm nữa. Trong quá trình úm gà tây, nếu thấy thời tiết quá nóng thì không cần phải úm gà liên tục mà chỉ úm gà vào buổi sáng và ban đêm.

Gà tây khi mới nở không cho ăn ngay mà nên để khoảng 12 tiếng sau mới cho ăn. Một hai ngày đầu chỉ nên cho ăn bột ngô, các ngày sau cho ăn cám hỗn hộp cho gà với hàm lượng protein khoảng 20 – 22%. Chia đều các bữa ăn cho gà tây thành 4 – 5 bữa mỗi ngày. Lượng thức ăn cho gà tây trong 3 tuần đầu như sau:

Về nước uống các bạn dùng nước sạch, mát có pha thêm sinh tố tổng hợp: B-complex hoặc Ovimix cho gà uống sẽ tốt hơn. Ngoài ra, từ 1 – 15 ngày tuổi bạn nên tiêm vắc xin cho gà tây để gà tránh được các bệnh thường gặp. Sau ngày 21 các bạn có thể cho gà thả tự do để gà tự tìm thức ăn.

Mặc dù gà tây thả tự do có thể tự tìm thức ăn nhưng bạn vẫn cần bổ sung thêm thức ăn để gà lớn nhanh hơn. Thức ăn bổ sung có thể là cám công nghiệp, bột cám và rau xanh. Tùy theo khu vực chăn thả gà tây mà bạn có chế độ bổ sung thức ăn thêm hợp lý cho gà vừa giúp tiết kiệm chi phí vừa giúp gà mau lớn.

Khi gà tây nuôi được ngoài 9 tuần có thể bắt đầu bán thương phẩm. Trước khi bán 7 – 10 ngày bạn nên cho gà tây ăn chế độ đặc biệt hơn để vỗ béo. Ngoài lượng thức ăn thông thường nên cho ăn thêm lúa, gạo, tấm, bắp xay nấu để gà tây đạt trọng lượng lớn nhất.

Cách nuôi gà tây trong chuồng

Ngoài mô hình nuôi gà tây thả tự do, các bạn có thể nuôi gà tây trong chuồng. Cách nuôi gà tây trong chuồng sẽ tốn kém hơn so với phương pháp thả tự do nhưng hiệu suất cao hơn. Khi nuôi gà tây trong chuồng, các bạn cần đảm bảo vệ sinh chuồng trại, mật độ nuôi phù hợp cũng như lượng thức ăn theo trọng lượng của gà.

Khi nuôi gà tây các bạn cũng cần thực hiện phòng bệnh cho gà. Nên tuân thủ đúng nguyên tắc 3 sạch: ăn sạch, uống sạch, ở sạch để đảm bảo gà không bị các bệnh thường gặp. Cùng với đó, bạn nên kết hợp tiêm phòng cho gà tây là tốt nhất:

4 ngày tuổi: 50mg/1kg thể trọng Octamix, 50mg/1kg thể trọng Gentadox, cùng các loại vitamin tổng hợp, GlucoK-C

5 ngày tuổi: các loại vaccin Lasota, thuốc nhỏ mắt, mũi để phòng bệnh Newwcastle

7 ngày tuổi: Các loại vaccin Gumboro D78 lần 1, thuốc nhỏ mắt, mũi, phòng chủng đậu, màng cánh

8 – 12 ngày tuổi: Các loại vaccin Tylanvet 1g/1 lít, các loại vitamin tổng hợp

14 – 16 ngày tuổi: Các loại vaccin Gumboro D78 lần 2, thuốc Coxymax, Vetpro, Baycox, sử dụng trong 2 ngày để phòng bệnh cầu trùng

15 ngày tuổi: Các loại vaccin chống dịch cúm gia cầm, tiêm dưới da cổ

Kỹ thuật nuôi gà tây sinh sản

Giai đoạn gà tây được 9 – 28 tuần tuổi là giai đoạn nuôi gà thương phẩm có thể chuẩn bị để bán. Trong giai đoạn này, các bạn nếu không bán có thể nuôi làm gà hậu bị để chuẩn bị cho giai đoạn gà sinh sản. Khi gà nuôi được 25 – 26 tuần tuổi các bạn có thể chọn gà tây để đẻ trứng. Cách chọn gà tây đẻ trứng cũng rất đơn giản, nếu chọn con trống thì nên chọn con cao to, mào đỏ, ngực nở, mắt sáng, lưng rộng, sức khỏe tốt, đi lại nhanh nhẹn, cứng cáp. Còn chọn con mái thì ngoài các yếu tố trên nên chú ý thêm một số tiêu chí khác như phàm ăn, hông rộng, phần đít hơi xệ sẽ tốt hơn.

Sau khi chọn được gà để để trứng các bạn có thể ghép trống mái theo tỉ lệ 1 trống với 5 – 6 con mái. Chế độ dinh dưỡng vẫn nên đảm bảo khẩu phần ăn và nước uống đầy đủ. Tránh cho gà tây ăn nhiều quá gà béo sẽ không đẻ được, ngược lại gà bị gầy thiếu chất cũng sẽ không đẻ được.

Gà tây để trứng đầu tiên gọi là trứng gà so hay trứng gà con so. Trứng này có kích thước nhỏ và thường không dùng để ấp vì tỉ lệ nở rất kém. Từ các trứng sau kích thước trứng sẽ lớn hơn và có thể dùng trứng này để ấp. Khi gà tây đẻ trứng, các bạn chú ý nhặt trứng để bảo quản chuẩn bị mang đi ấp. Hiện nay người chăn nuôi không cho gà tây tự ấp trứng mà dùng máy ấp trứng sẽ cho hiệu quả kinh tế và tỉ lệ nở tốt hơn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chăn Nuôi Gà Hiệu Quả Nhờ Sử Dụng Vitamin Đúng Cách – Venamti.vn trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!