Đề Xuất 2/2023 # Giới Thiệu Một Số Đặc Điểm Xem Chân Gà Chọi Cực Chuẩn # Top 3 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 2/2023 # Giới Thiệu Một Số Đặc Điểm Xem Chân Gà Chọi Cực Chuẩn # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giới Thiệu Một Số Đặc Điểm Xem Chân Gà Chọi Cực Chuẩn mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài viết này tôi xin chia sẻ cho các sư kê về cách nuôi và cách xem chân gà chọi các sư kê chọn hậu biên đồng hành tức là Hậu Biên Tiên Lộ.Nghĩa là hàng biên và hàng hậu cùng song song đi xuống, cuối cùng các vảy hàng hậu tấp vào hàng biên cùng đi xuống ngón ngoại. Đây là gà quý.Các sư kê nên xem chân gà chọi này để tuyển chọn vào trận đấu để có những trận đấu hay.

1.Cách xem chân gà:

a.Giáp Long Chi Tự Điềm Lành Hữu Linh

Khi nói đến vảy loại này thì vảy của loại gà giáp long đóng ở ngón thới. Vảy này có đặc điểm như hình cánh bướm hoặc từa tựa vảy rồng nên nhiều sư kê gọi là giáp long. Loại gà được gọi là thần kê này chuyên dùng móng làm trảo để áp sát và điểm vào mắt địch. Xem chân gà chọi được kĩ càng thì sau này chúng ta mới sở hữu con gà tốt được

Hoặc rung khẩu hạ biết ra vẹn toàn.

Tiếng gáy âm minh thư đoản là tiếng gáy thanh, rít mà ngắn ở tiếng ngân cuối tiếng gáy rất vang. Cũng là loại gà chọi nòi có tài.Rất tốt

Âm minh hùng đoản là tiếng gáy mà loại gà này phát ra mạnh mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Tiếng gáy của loại gà này có âm thanh như cọp rống. Khi gà gáy mạnh và tiếng gáy kết thúc ngắn gọn thì đó là gà dữ.

– Gà gáy phải há lớn miệng mới tốt. Gáy mà ngậm miệng lặng câm không tốt.

– Khi gáy mỏ dưới không rung mới tốt. Rung thì cũng chưa vẹn toàn.Chưa phải là gà toàn diện

Xem gà ta phải cho tường,

Nhiều người chơi gà chuyên nghiệp nói khi chọn đá gà là đạo vì nó đòi hỏi sự thông suốt kê kinh.

Có mà “giáp độc” chận ngay là tài.

– Vảy “Hoa Thới” tức là xem chân gà chọi có vảy là Thới Hoa Ðăng. Vảy của ngón thới không ngưng lại ở chậu mà chạy thẳng lên tới cựa rõ ràng thắng tắp thì gọi là Hoa Thới.Rất tốt

– Vảy của ngón nội không ngưng ở chậu mà chạy thẳng lên tiếp ứng với Thới Hoa Ðăng sẽ tạo thành ngã ba và nhập một đi thẳng tới cựa.Vảy này tốt chúng ta nên chọn loại gà có vảy này

b.”Hổ Thần Đệ Nhị” cũng phân rõ ràng.

– Đệ Nhị Thần Hổ Đao là gà có loại vảy nằm ở hàng Quách và cũng há miệng ngậm ngọc giống như Đệ Nhất Thần Hổ Đao. Cả hai vảy này đều nằm trên cựa 1 ly nhưng vảy Đệ Nhị Thần Hổ Đao không phải là một đại giáp mà chỉ là một liên giáp.Có nghĩa là vảy đại giáp do ba vảy tạo thành, liên giáp chỉ do hai vảy mà thôi.Nên cũng không tốt lắm khi chúng ta lựa chọn

– Cách xem chân gà chọi loại này là Thới Hoa Đăng của vảy phải rõ ràng và thẳng tắp. Có lẽ vì những vảy này của chúng nổi lên tròn trịa đẹp như đèn hoa nên có tên là Hoa Đăng.Loại gà có vảy này cũng để chúng ta đáng để lựa chọn

Giới Thiệu Một Số Giống Gà Thả Vườn Việt Nam

Gà thả vườn bao gồm các giống gà nội như như gà Ri, gà Mía, gà Đông Tảo, gà Tàu và số lượng rất ít là gà Tây.

Nội dung trong bài viết

Gà thả vườn nội

Gà Ri

Phân bố rộng toàn miền đất nước nhưng đã bị pha tạp nhiều, sắc lông không đồng nhất. Gà mái có màu vàng, nâu, nâu nhạt, đen hoặc lốm đốm hoa mơ.

Gà trống màu tía hoặc vàng, có nơi pha lông đen như ở vùng Sơn Tây, Ninh Bình. Đầu thanh, đa số mào đơn. Da chân vàng, chân có 2 hàng vẩy, thịt vàng. Khối lượng 1 năm tuổi con trống nặng 1,8 – 2,5 kg, mái nặng 1,3 – 1,8 kg. Gà Ri phát dục sớm: 4 – 4,5 tháng đã bắt đầu đẻ. Sản lượng trứng năm 90 – 110 trứng. Nếu nuôi tốt, thực hiện chế độ cai ấp có con cho sản lượng trứng 164 – 182 quả (kết quả nghiên cứu của Viện Chăn nuôi, 1970). Khối lượng trứng 42 – 43 g. Thịt và trứng thơm ngon, tỷ lệ lòng đỏ cao (33,8%), nuôi con khéo, chịu đựng tốt, nhưng tầm vóc bé, trứng bé, sản lượng trứng thấp và tính đòi ấp cao.

Gà Đông Tảo

Gà ở thôn Đông Tảo, Khoái Châu, Hưng Yên. Sắc lông gà mái màu nâu bạc. Gà trống lông tía. Đặc điểm: đầu to, mào nụ, mắt sâu, chân to xù xì có nhiều hàng vảy, xương to, nhiều thịt nhưng thịt không mịn, da đỏ. Tiếng gáy đục và ngắn. Mái nặng 2,5 – 3 kg, trống nặng 3,5 – 4 kg. Sản lượng trứng năm 55 – 60 quả. Khối lượng trứng 55 – 57 g. Ưu: tầm vóc lớn, khối lượng trứng to. Nhược: xương to, đẻ ít, mọc lông muộn.

Gà Hồ

Nguồn gốc làng Hồ, Bắc Ninh, sắc lông gà mái màu trắng sữa, màu vỏ nhãn hay màu đất thó. Gà trống màu tía, đầu cổ to, da đỏ. Chân hai hàng vảy, mào đơn. Mái trưởng thành nặng 2,5 – 3 kg, trống nặng 3,5 – 4 kg. Tuổi đẻ muộn 7,5 – 8 tháng. Sản lượng trứng năm 50 – 55 quả. Khối lượng trứng 55 – 58 g.

Gà Mía

Nguồn gốc ở huyện Tùng Thiện, xã Phùng Hưng, Hà Tây, bị pha tạp nhiều, sắc lông gà trống màu tía, gà mái màu nâu xám hoặc vàng. Đầu to, mắt sâu, mào đơn, chân thô có 3 hàng vẩy, da bụng đỏ. Khối lượng gà mái trưởng thành 2,5 – 3 kg, trống 3,5 – 4 kg. Tuổi đẻ muộn 7-8 tháng. Sản lượng trứng 55 – 50 quả, nặng 50 -55g.

Gà Phù Lưu Tế

Gà Phù Lưu Tế ở xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Ngoại hình và năng suất giống gà Đông Tảo. Có ý kiến cho rằng gà Phù Lưu Tế có nguồn gốc từ gà Đông Tảo.

Gà Văn Phú

Nuôi nhiều ở Phú Thọ. Lông đen, chân chì, xương nhỏ. Một năm tuổi trống nặng 3,2kg, mái nặng 2-2,3 kg. Sản lượng trứng khá, một năm đẻ 80-100 trứng, khối lượng trứng 45g.

Gà Ô

Nuôi nhiều ở vùng Hà Giang, Lào Cai. Mình dài, thon, đùi to, lông đen, chân chì, cổ khoẻ, đầu dài, mỏ quặp, mắt lồi. Đây là một giống gà dùng để nuôi chọi. Một năm tuổi trống nặng 3,2-3,5 kg, mái nặng 2,5-2,8 kg. Sản lượng trứng năm 60-70 quả, khối lượng trứng 58-59 g.

Gà Nam Bộ

Hướng cho thịt và trứng. Màu lông vàng hoặc lốm đốm trắng. Chân có lông. Năng suất tương tự gà Văn Phú. Gà Nam Bộ có nguồn gốc là gà Cô – Khanh – Khin hay Lang San (Trung Quốc).

Gà Ác (Trà Vinh, Long An, Tiền Giang)

Gà Ác màu lông trắng xù như bông. Da, thịt, xương, mỏ, chân đều màu đen. Mào cờ đỏ bầm. Chân có hoặc không có lông và 5 ngón nên còn gọi là gà “ngũ trảo”. Sức sống cao, tỷ lệ sống từ mới nở đến 8 tuần tuổi đạt 98%. Phát dục sớm 110-120 ngày có thể đẻ. Sản lượng trứng năm 70 – 80 quả, nặng 30 – 32 g. Đây là loại gà thuốc, bồi dưỡng sức khoẻ cho nam phụ lão ấu. Tỷ lệ sắt (Fe) trong thịt cao hơn gà thường là 45%, tỷ lệ axit amin cao hơn 25%.

Gà Ta vàng

Ở miền Nam, phân bố rộng như gà Ri miền Bắc (Đông Nam bộ – Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh). Lông màu vàng có con pha lẫn màu đen, Con mái đầu thanh, mỏ vàng, mào đơn đỏ, tích và dái tai màu đỏ, cổ ngắn vừa phải, chân thấp có 2 hoặc 2,5 hàng vảy. Năng suất giống gà Ri.

Gà Tre

Vóc dáng nhỏ, thịt thơm ngon. Sáu tháng tuổi trống nặng 800-850 g, mái nặng 600-620 g. Đầu nhỏ, mào hạt đậu. Con trống thường có màu vàng ở cổ và đuôi, phần còn lại màu đen, lông dài. Lông con mái thường màu xám xen lẫn màu trắng. Sản lượng trứng 50-60 quả, nặng 21-22 g. Có nơi dùng gà Tre để làm cảnh và thi chọi.

Gà Nòi (còn gọi là gà Chọi)

Số lượng không nhiều, rải rác nhiều nơi, thường nuôi để đi thi gà chọi. Vùng Hóc Môn và các tỉnh miền Đông thường cho lai với gà ta để nuôi lây thịt. Đặc điểm: màu lông đen xám, pha lẫn màu vàng tươi, lông đuôi đen, đầu to, mỏ màu đen, mào hạt đậu, tích và dái tai màu đỏ, mắt đen có vòng đỏ, cổ dài và to. Thân dài rộng, lưng ngang phẳng, chân cao có vảy đen xám, cựa aắc và dài. Một năm tuổi trống nặng 2,5-3 kg, mái nặng 1,8- 1,9 kg. Sản lượng trứng 50-60 quả, vỏ trứng màu hồng.

Gà Tầu vàng

Phổ biến chủ yếu ở miền Nam, pha tạp nhiều. Mào đơn hoặc hạt đậu. Lông vàng. Chân có lông ở bàn, có khi ở cả ngón. Trưởng thành trông nặng 3kg, mái 2kg. Sản lượng trứng 70-90 quả, nặng 45-50g.

Gà ta lai gà Miên

Thường gặp ở vùng Tây Ninh, vùng giáp Miên. Đầu to vừa phải, mỏ màu vàng nhạt hoặc đen, mào hoa dâu, mắt màu nâu đen. Thân mình nhỏ, 12 tháng tuổi trống nặng 2-2,1 kg, mái nặng 1,6-1,65 kg. Khả năng chống bệnh tốt. Năng suất tương tự gà Ta vàng.

Gà ta lai gà rừng

Thường gặp ở huyện Bình Long tỉnh Bình Phước. Đầu con trống khá to, cổ dài 12-15 cm, mống mắt màu đỏ, mỏ màu trắng ngà, gốc sống mỏ có pha màu đen. Trống có mào đơn, mào mái hình hạt đậu, tích đỏ, dái tai trắng, chân màu chì. Sản lượng trứng 50 – 70 quả. Khối lượng trứng bé 28 – 29g. Khả năng chịu đựng rất cao.

Gà thả vườn nhập nội

Gà Tam Hoàng

Nhập vào nước ta từ Trung Quốc, Hồng Kông có 3 dòng: S82, Jiangcun (Giang thôn), Lương Phượng.

+ Dòng 882 màu lông vàng hoặc lốm đốm đen, đa số có cườm cổ. Ở 11 tuần tuổi trống nặng 1400-1450 g, mái nặng 1200g. Sản lượng trứng năm 155 quả, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 3,200 kg.

+ Dòng Giang thôn (Jiangcun) lông màu vàng tuyền, 11 tuần tuổi trống nặng 1300g, mái nặng trên dưới lkg. Sản lượng trứng năm 270 quả, tiêu tốn thức ăn/10 trứng từ 2,9-3,0 kg.

+ Dòng Lương Phượng lông vàng hoặc lốm đốm hoa, 11 tuần tuổi trống nặng 1900g mái nặng 1300g. Sản lượng trứng năm 158 – 160 quả, tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng là 3,3kg.

Gà Sasso

Do hãng Sasso (Pháp) tạo ra, có nhiều dòng nhưng nước ta mới nhập 2 dòng SA31 và SA51. Gà có màu lông nâu vàng hoặc nâu đỏ, màu đơn; chân, da, mỏ rất vàng. Gà có sức chịu đựng tốt với điều kiện nóng ẩm. Dòng SA31 có sản lượng trứng 66 tuần tuổi là 187 quả. Khối lượng mái 20 tuần nặng 2010g. Dòng SA51 có sản lượng trứng 197 quả ở 66 tuần tuổi. Khối lượng mái 20 tuần trên dưới 1500g.

Gà Kabir (Israel)

Nhập vào nước ta tháng 7/1999 và được người nuôi ưa chuộng, sức sống tốt, phù hợp với điểu kiện khí hậu Việt Nam. Gà có màu lông nâu vàng hoặc đỏ vàng. Khối lượng cơ thể mái ở 20 tuần tuổi từ 2000 – 2100 g. Sản lượng trứng 70 tuần tuổi trên dưới 200 quả. Khối lượng trứng 57 – 58 g.

Gà thả vườn cải tiến trong nước

Gà BT1, BT2

Được lai tạo tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Bình Thắng trên đối tượng gà Goldline 54 và gà Rhode Ri. Gà có màu lông nâu nhạt, mào đơn, khối lượng cơ thể 20 tuần trống nặng 2000 – 2200 g, mái nặng 1500 – 1700 g. Sản lượng trứng năm 180 – 200 quả, khối lượng trứng 54 – 55 g.

Gà Rhode Ri

Do Viện Chăn nuôi lai tạo, được công nhận nhóm giống năm 1985. Gà có màu lông nâu nhạt, mào đơn.

Chân và da vàng. Sản lượng trứng năm 180 – 203 quả, khối lượng trứng 51 – 52g. Ở 20 tuần tuổi trống nặng 2000g, mái nặng 1600 – 1700 g.

Một Số Giống Gà Chọi Trên Thế Giới

Giống gà sumatra bắt nguồn từ đảo Sumatra, Inđônêsia. Đây là một trong những giống gà chọi lâu đời nhất và có ảnh hưởng di truyền đáng kể lên những giống gà đá khác. Tuy nhiên, có những nghi vấn về nguồn gốc thực sự của giống gà này bởi giống gà sumatra ngày nay và những con gà chọi trong quá khứ không hề có quan hệ huyết thống.

Ở Anh, gà sumatra trắng được tạo ra bằng cách lại xa với yokohama trắng; tuy còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện chất lượng những con gà trắng này. Ba Cá thể đầu tiên được nhập vào Mỹ từ năm 1847. Nhờ màu lông ánh kim và vẻ ngoài duyên dáng mà chúng trở nên rất phổ biến.

Vào năm 1883, giống gà sumatra được ghi nhận trong tiêu chuẩn gia cầm Mỹ. Vào cùng thời điểm, chúng du nhập vào Đức và năm 1900, du nhập vào Anh.

Ở Sumatra, giống gà chọi này vẫn được duy trì dưới tên ayam sumatra. Ở các nước phương Tây, gà sumatra được lai tạo chủ yếu với mục đích làm. Ở Pháp giống gà này được tái lại tạo cho mục đích chọi gà.

Gà sumatra có kích thước trung bình với bề ngoài giống như chim trĩ. Lưng có chiều dài vừa phải, mã dày. Đuôi dài và rậm. Lông phụng cong tại hà phân ba chiều dài và cụp xuống. Lông phụng không lết trên mặt đất được chuộng hơn. Gà mái đuôi tương đối dài nhưng chỉ những lông phụng trên cùng mới cong. Gà sumatra trống có màu xanh bang. Gà mái cũng có đuôi tương đối dài, những lông trên cùng hơi cong ở đầu cuối.

Đầu gà nhỏ (còn gọi là đầu rắn) với mồng dâu ba khía. Màu của mồng biến thiên từ đó đến tím. Màu mắt càng sẫm càng tốt. Nhưng con người và tròng mắt phải rõ ràng.

Ở Hà Lan, chỉ có màu đen ánh kim mới được coi là màu chuẩn, ánh đỏ hay tím cũng tồn tại nhưng bị coi là lỗi. Ngoài ra còn có những màu khác nữa. Ở bán đảo Scandinavia người ta duy trì cả sumatra xám tro.

Ở Hà Lan, chỉ một số ít người duy trì màu xám tro. Ở Đức có một số cá thể màu đen – đỏ hay nâu sậm. Ở Anh và Mỹ có một số gà sumatra xám trắng nhưng đến nay chúng vẫn chưa được đưa vào tiêu chuẩn. Ở Bỉ có một số gà sumatra bờm đỏ (màu điều) được triển lãm nhưng những màu này cũng chưađược cập nhật thành tiêu chuẩn. Hành vi ở sumatra cho thấy chúng vẫn duy trì những đặc điểm của tổ tiên. Chúng thực sự thích đi dạo loanh quanh và và cũng rất cảnh giác. Nếu cảm thấy bị đe dọa thì ngay lập tức chúng có thể bay qua hàng rào cao một cách dễ dàng. Nếu được lựa chọn giữa chuồng gà với một cành cây thì hầu hết gà sumatra đều chọn cách thứ hai. Bởi hành vi như vậy mà gà sumatra cần chuồng nuôi rộng rãi và chạc cây cao. Chúng cũng cần chạc để giữ cho bộ lông sạch sẽ và cơ bắp mạnh khỏe. Gà sumatra không đòi hỏi loại thức ăn cầu kỳ nào khác. Đôi khi chỉ cần tăng cường thêm một lượng chất đạm để kích thích lông phát triển.

Gà sumatra là giống gà mạnh mẽ với khả năng kháng bệnh cao. Bạn chỉ cần theo dõi bệnh viêm đường hô hấp mãn tính hay CRD (Chronic Respiratory Disease), một loại bệnh di truyền ở gà. Để giúp gà mạnh khỏe, tốt nhất nên giữ môi trư khô ráo và che chắn vào ban đêm.

* Giống gà chọi Nhật Bản

Giống gà satsumadori bắt nguồn từ Nhật Bản. Giống gà này xuất hiện từ thời Edo (1603 – 1867). Satsuma là tên gọi cũ của tỉnh Kagoshima. Vào thời đó, giống gà được gọi là ojidori (gà lớn). Tên gọi hiện tại (xuất hiện từ những năm 1920) đơn giản ám chỉ giống gà địa phương của tỉnh Satsuma. Đôi khi giống gà còn được gọi là gà chọi Kagoshima. Vào năm 1943, giống gà được chính thức công nhận và bảo vệ theo luật di sản của Bộ Văn hóa Nhật Bản.

Giống gà satsumadori được phát triển bằng việc lai xa với shamo và shoukoku (và một số giống gà địa phương khác). Những con gà chọi nhanh nhẹn này đá nhau bằng cựa sắt gắn vào hai chân. Có lẽ người Nhật học hỏi lối chọi gà và sử dụng cựa dao từ người Philippine. Một thời gian sau giống gà được du nhân vào châu Âu nhờ dàn đuôi dài và hấp dẫn giống như gà sumatra và yokohama. Các nhà lai tạo Hà Lan và Bỉ đặc biệt ưa chuộng giống gà này, các nhà lai tạo Đức cũng nhanh chóng theo sau.

Về căn bản, không ngạc nhiên khi các nhà lai tạo phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng, chàng hạn như đồng huyết. Do vậy, họ lại xa satsumado với các giống gà khác, điều này dễ hiểu nhưng không may đó thường là những giống gà mang các đặc điểm trôi rất khó loại bỏ. Chẳng hạn, một trong những giống này là kraienkoppe (gà twente). Thoạt nhìn, cả hại trông khá giống nhau nhưng kraienkoppe mang gen trội, do đó các đặc điểm điển hình của satsumadori bị biến mất.

Là Nhờ vậy mà những cá thể gà satsumadori với màu sắc “châu Âu” mới xuất hiện.

Trọng lượng gà trống khoảng 3.5kg và gà mái khoảng 2.5kg. Tương tự như gà sumatra, gà satsumadori có đầu nhỏ và mồng trích ba khía. Mồng càng nhỏ càng tốt, mông lớn không được ưa chuộng . dễ bị cắn.

Tai màu đỏ. Chân màu vàng, trừ gà màu đen Màu mắt vàng rực cũng được chuộng hơn. Điểm da. trưng của gà satsumadori là mạnh mẽ, chân xon. rộng, lưng dài và đuôi xòe. Lông phụng dài rộng cũng là một đặc điểm chính. Đuôi phải bó gọn lúc bình thường, nhưng khi gà trong trạng thái kích thích thì ngay lập tức đuôi xòe ra..

Một đặc điểm nữa là gà tăng trưởng chậm. Độ tăng trưởng chỉ ngừng vào năm thứ hai, đặc biệt là khi gà trống trưởng thành. Một nhà lai tạo hay trong tài phải cân nhắc đến yếu tố này.

Màu sắc theo thuật ngữ của Nhật Bản khác xa so với châu Âu. Màu là đặc điểm phụ, nhất là với gà chọi. Họ gọi theo màu của lông cổ. Màu sắc cũng khác chút so với gà châu Âu mặc dù vẫn là những màu cơ bản mà chúng ta biết.

Shirozasa: nghĩa là “bờm trắng”. Shiro=trắng và zasa (hay sasa) = lông cổ. Đây là gà chuối, nhưng gà mái hơi khác một chút với ngưc xám.

Akazasa: nghĩa là “bờm đỏ”. Gà mái cũng không có ngực nâu, hơi khác so với những gì mà chúng tôi biết ở gà điều.

Kinasa: nghĩa là “bờm vàng”. Đây là gà chuối lửa L; màu sẫm và cô vàng

Người Nhật lý tưởng hóa mọi thứ. Điều này cũng sở với các giống gà nội địa. Gà satsumadori gốc có Lộ cao và thanh thoát, nhờ vậy chúng di chuyển rất nhanh.

* Gà rừng đỏ ở bán đảo Malaysia

Màu nền của gà rừng trống trưởng thành là màu đen cùng với đủ mọi sắc độ đỏ và vàng ở cổ, cánh và lưng. Lông đuôi hẹp về phương ngang, lông phụng tá đều và ngắn hơn nhiều so với lông phụng chủ. Độ dài trung bình lông đuôi từ 14.3 đến 19.9cm. Tổng số lông đuôi của một con gà trưởng thành hoàn toàn là 12, mỗi bên có 6 cái. Số lượng lông phụng tá là 4 cái mỗi bên.

Ở cá thể lại điển hình, lồng phụng tá dài hơn và nhiều cái cong xuống chụm vào lòng phụng chủ. Màu của các lông phụng chủ và phụng tá là ánh kim đen với tông xanh. Đầu gà rừng tương đối nhỏ. Mồng lá, cứng cáp nhưng tương đối nhỏ, mỏng và răng cưa.

Chiều dài mồng trung bình, đo từ gốc trước đầu Cho đến gốc sau đầu trong tầm từ 7 đến 9.2cm. Độ cao nông trung bình, đo từ chớp gai cao nhất đến gốc mông là 3.9 đến 5.1cm. Số gai mông trung bình (kể cả Các thùy nhỏ) là từ 6 đến 13. Tích và dái tai cũng phát triển nhưng thường nhỏ hơn gà lai và mặt có màu đỏ tía giống như mồng. Hai tích khi quan sát t. phía trước thường nằm sát hơn so với gà lai, vốn tương đối rộng. Chiều dài trung bình của dái tai là + 1.5 đến 3,5cm, chiều rộng trung bình của dái tai là từ 1.7 đến 3.4cm. Chiều dài trung bình của tích là từ 3 đến 3.4cm, chiều rộng trung bình của tích là từ 2.6 đến 3.7cm.

Mồng gà mới bẫy được chuyển thành màu phớt xanh trong môi trường nuôi nhốt. Dái tại có nhiều màu và kích cỡ, màu đỏ tuyền, trắng tuyền hay trăng phớt đỏ. Màu phớt đỏ phổ biến nhất. Màu xung nhanh tròng đen ở hầu hết cá thể là hành đỏ khác với đa số cá thể lại vốn trắng hay hanh vàng. Cánh rất phát triển và dài hơn chiều dài thân, tính cả đuôi.

Chiều dài trung bình của cánh khi giương hết cỡ tầm từ 63 đến 76cm. Chiều rộng trung bình của cánh là từ 20 đến 23.6cm. Màu lông trước ngực là màu đen ánh xanh, cánh vai màu đỏ sẫm, lông bao màu đen, một số lông có những chỉ phớt đỏ, lông bay thứ nửa đen, nửa nâu vàng và lông bay Sơ màu đen với chỉ ngắn hanh vàng ở chính giữa. Số lông bao đầu tiên ở mỗi bên là 3, số lông cánh sơ ở mỗi bên từ 9 đến 11 trong khi số lông cánh thứ ở mỗi bên từ 12 đến 14. ( Lông bờm chuyển từ cam hanh đỏ ở đầu cho đến đó hanh vàng gần xuống đến làng. Màu lưng đỏ sẫm. Thân gà rừng khá mảnh dẻ và thuôn như chiếc thuyền, chân mảnh khảnh và trơn láng. Chiều dài trung bình của thân là từ 35 đến 38.1cm. Chiều dài trung bình của cẳng chân là từ 8.1 đến 9.4cm. Đường kính trung bình của đùi từ 3.4 đến 3.9cm.

Cẳng chân gà rừng có màu xanh ngọc trong khi cẳng chân gà lại có màu đen xanh, hanh lục hay hanh vàng. Cựa có hình tam giác và có xu hướng cong lên ở gà già. Chiều dài trung bình của cựa ở gà trống trưởng thành từ 1.9 đến 3.2cm.

Gà rừng trống lại thường nuôi hoặc lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với gà rừng rặt. Đầu thường lớn hơn, mông và tích cũng lớn, nhám và dày hơn. Lồng ngực có những vệt hanh hay vàng hay nâu trên nền đen. Một những khác biệt quan trọng giữa gà rừng và gà lai gáy. Tiếng gáy của gà lai hoặc kéo dài hơn hoặc lên quá cao trước khi ngắt đột ngột so với gà rặt. Gà lai cũng gáy nhiều hơn so với gà rặt. Tuy nhiên, gà lại có tiếng gáy gắt hơn.

* Gà nòi Việt Nam

Không ai biết gà nòi Việt Nam có nguồn gốc từ đâu. Xuất xứ khởi thủy của nó không thể truy cứu được vì thiếu tài liệu. Hơn nữa, nước Việt phải trải qua một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm khiến hàng triệu người phải bỏ mình, nhà cửa tan nát lại càng khiến cho các tài liệu gà nòi khác đều khan hiếm.

Có thể Việt Nam là quốc gia duy nhất có giống gà nòi đòn trụi cổ, mặt mũi băm trợn như thường thấy vì giống gà này không có xuất xứ từ những quốc gia khác. Trong những thập niên gần đây, gà nòi đã được xuất cảng qua các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Inđônêsia, và Malaysia. Những người Việt hiện sinh sông ở Hoa Kỳ cũng đã đem được trứng gà nòi qua đây và ấp nở thành công.

Đã có khá nhiều tranh cãi về nguồn gốc gà nòi. gà nòi có hai loại là gà nòi đòn và gà nòi cựa:

Gà nòi đòn là loại gà cổ trụi, chân cao, cốt lớn dùng để đá chân trơn hoặc bịt cựa. Gà đòn được chia ra hai loại rõ rệt. Đó là loại gà mã lại (còn gọi mà mái) và gà mã chỉ. .

Theo nghiên cứu thì gà mã lại bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam. Theo lời kể của một vị sư kê lớn tuổi ở miền Bắc thì người dân miền Bắc đã chọi gà mã lại từ thời Pháp thuộc. Những con gà mã lại có bộ lông màu xám lợt hoặc đặm đều được gọi chung là gà xám mã lại. Các tay nuôi gà thường chuộng gà xám có bộ lông khô như câu:

Nhất xám khô, nhì Mã Chỉ

Gà mã chỉ là loại gà có lông mã (trên lưng gần A. dài và nhọn. Gà mã chỉ cũng sẽ có lông bờm dài và nhọn. Cả hai thứ này đều khác với gà “mã lại”. Ngoài ra, gà mã chỉ cũng sẽ có thêm lông đuôi phụ cong dài phủ trên lớp lông đuôi chính.

Đây là một loại gà đòn miền Trung. Gà có vóc cao, thế đứng ưỡn ngực, mặt mũi dữ tợn. Lông mã nằm gọn trên lưng, ngăn và nhỏ lăn tăn như là nên còn được gọi là “mã kim”.

Đặc điểm chung của gà đòn:

+ Gà không có cựa

Gà đòn thường được sách vở mô tả là loại gà chân trơn, không cựa, hoặc cựa mọc không dài, cựa vừa nhú như hạt ngô. Gà này được dùng theo thuật đá. đòn bịt cựa. Danh từ “gà đòn” phát xuất từ miền Trung được dùng để gọi riêng loại gà đá đòn bằng quản và bàn chân. Ngày nay danh từ gà đòn đã được công chúng dùng một cách rộng rãi để gọi chung các

loại gà nòi đấu ở trường gà đòn trong đó có những loại gà miền Nam có cựa dài và biết sử dụng cựa. Ở miền Trung chọi gà là thú vui tiêu khiển của người dân, khi hết mùa đồng áng mới bắt tay vào việc chơi gà. Người miền Trugn thích chơi gà đòn-một độ dùhay thua cũng kéo dài suốt mấy giờ hó khi suốt ngày. Vì chuyên về gà đòn nên người dân miền Trung tuyển chọn cản gà khiến gà bị nín cựa bị mọc chậm và ngắn. Nếu con nào có cựa mọc dài cũng sẽ bị cưa hoặc mài ngắn. Khi cựa mới nhú n bị chủ gà bấm cựa, không nhú ra được.

Nhìn chung thì lối đá của gà đòn khác hẳn gà cưa. Gà đòn dùng quản và bàn chân để quất. Gà cựa thì dùng cựa để đâm. Cựa của gà đòn có gốc to và mọc rất chậm so với gà cựa.

+ Đầu và diện mạo

Xương sọ gà nòi lớn hơn gà thường, đỉnh đầu của xuơng thường lớn bản và bằng. Mặt gà rộng bản với xương gò má nhô cao. Vì được gần gũi và chăm sóc bởi chủ kê nên gà nòi có những đặc tính tâm lý rất khác biệt với các loại gà khác, chẳng hạn khi được chủ kê cho ăn hay tắm rửa, khuôn mặt gà nòi biểu lộ nét thoải mái và tự tin, khi có người lạ đến gân gà nòi sẽ ngâng cao đầu và nghiêng mặt, trố mắt tò mò theo dõi nhìn.

Khi đối diện một con gà khác, đôi mắt gà đòn sẽ gườm lên thách thức so tài. Khi lâm trận thì mắt gà nòi nộ lên sát khí.

+ Cổ lớn, dạ dày và nhăn

Cổ gà nòi lớn và trông rất mạnh bạo với một chiều dài vừa phải, xương cổ rất cứng cáp và các khớp xương gắn bó đều đặn và rắn chắc.

Lớp da ở cổ gà nòi được xếp lớp theo hình sóng dợn. Những người xa lạ với gà nòi thường thắc mắc không biết gà nòi trụi lông một cách tự nhiên hay do tác động của con người.

Câu trả lời không đơn giản vì còn tùy thuộc vào loại gà. Có những loại gà nòi trụi lông cổ tự nhiên hoặc có rất ít lông nhưng cũng có những loại có lông phủ đầy mình.

Thông thường thì gà nòi trơ trụi cho đến khi được 3, nếu được nuôi ở những nơi có thời tiết và khí hậu ấm như nước ta. Lông ở cổ và đùi có thể sẽ không mọc lại được trong lần thay lông của mùa sau. H, tay chơi gà thường ding các thủ thuật làm cho án sừng (da trên mặt) và lớp biểu bì săn chắc lại hiến cho các chân lông bị khô nên lông khó mọc lại.

Gà nòi đã được mang qua Hoa Kỳ nuôi và chúng đã dần dà phát triển bộ lông đầy đủ để thích nghi với khí hậu lạnh. Gà nòi nơi đây thường có bộ lông đầy đủ hoặc chỉ trụi chút đỉnh ở phần cổ khi được 9 tháng tuổi.

Chân gà nòi thường có hai hàng vay với đường đất chạy hình chữ chi ở giữa hai hàng vày. Gà nòi với ba hay bốn hàng vảy thường rất hiếm. Có sách ghi rằng gà ba hàng vảy tuy đá nhanh đòn nhưng đòn. không mạnh.

Trong khoảng hơn ba thập niên qua, các tay chơi gà ở miền Nam thường không thích gà nòi có chân màu vàng, lý do là màu chân vàng là màu của gà thịt, một loại gà Tàu hay gà Bắc Thảo nuôi để lấy thịt. Ngày nay loại gà chân vàng tuy chưa được ưa chuộng một cách rộng rãi nhưng cũng đã được chấp nhận trong giới mộ điệu chơi gà.

+ Mắt ếch

Nếu gà nòi có mắt lớn thì không thích hợp cho các trận đá nhưng gà có mắt lồi như mắt ếch thì lại khác. Gà mắt ếch có đặc điểm lanh lợi và linh động khi ra trận.

Nếu gà nòi mắt ếch mà có màu chân xanh thì được xem là hợp cách nên rất quý. Các tay chơi ga thường truyền tụng câu ca dao: “Chân xanh mắt ếch đánh chết không chạy”.

+ Những đặc tính khác

Đùi: Nở nang và thường dài hơn phần quảng

Chân: Tương đối cao. Loại chân vuông hoặc tam giác thường được các sư kê ưa chuộng.

Mình: Rắn chắc và dài đòn. Phần bụng nhỏ và không phát triển.

Da: Dày và đỏ. Thịt: thịt gà nòi là loại có cơ bắp lớn nở nang do 8 vận động và tập luyện. Chính vì thế mà thịt gà nòi trở nên dai.

Xương: gà nòi có bộ xương rất lớn và nặng ký do n có thời gian lâu cho gà phát triển. Trung bình hơn 1 năm gà nòi mới đủ thể lực và cứng cáp để có thể ra trường đấu.

Đuôi: đuôi gà nòi ngắn, lông ống cứng có hình cánh quạt để chống đỡ khi nhảy, ngã. Gà có lông “Mã chỉ thường có thêm lớp lông vũ phú thêm bên ngoài lớp lông ống.

Cựa: Loại cựa đơn là thông thường nhất. Tuy nhiên có loại gà nòi có từ 2 đến 6 cựa chột nhà đầu định nơi chân được gọi là gà “Nhị Đinh”, “Tam Định”,… “Lục Định”. Đây là những loại gà nòi dòng khác biệt.

Bộ lông: Lông rất thưa thớt ở phần đầu, cổ và đùi. Lông cứng, giòn và dễ gãy. Gà nòi có nhiều sắc lông chính như xám, ô, nhạn, điều và vàng. Các con gà có sắc lông pha trông rất rực rỡ và đẹp mắt như xám son, ô điều (tía), chuối và ó.

Trọng lượng: gà nòi có trọng lượng từ 2.8kg tới 5kg.

Tiếng gáy: Gà nòi không gáy nhiều như các loại gà tre, gà Thái hay gà Tàu. Tiếng gáy của gà nòi trầm hùng.

Tính nết: Đặc tính của gà nòi là can đảm, lì lợm và bất khuất.

Địa điểm: Gà nòi đòn nổi tiếng hiện nay được nuôi nhiều ở các tỉnh miền Trung như: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đà Nẵng và nhiều vùng cao nguyên. Gà nòi cũng được phát triển rộng rãi các tỉnh, vùng ngoài Bắc như: Lạng Sơn, Bắc Giang, Hà Nội, Nam Định, vv… Trong miền Nam gà nòi được biết nhiều qua các địa danh Vũng tàu, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Tháp…

* Gà nòi cựa: – Gà cưa là loại gà nhỏ và nhẹ hơn với bộ lông phát triển đầy đủ, cựa sắc nhọn và dài. Gà cựa phát xuất từ miền Nam và được đa số người miền Nam yêu chuộng chọi gà theo lối gà cựa. 9 Gà cựa Nam Bộ có lông bờm rộng, lông mã (lưng) phủ kín xuống, lông đuôi dài. Con gà tốt cần “đồng thân, đồng thủ”, nghĩa là đầu, mình cân xứng, cổ liền lạc, phao câu nở, đuôi xòe, không dị tật. Thêm các tiêu chuẩn chi tiết như: đầu nhỏ, mỏ ngắn chắc, khỏe miệng cao, mồng thẳng, mắt sâu, mí mỏng, con người nhỏ, đùi dài hơn cẳng… Cẳng gà đá rất quan trọng vì nó mang cặp vũ khí quyết định trận đấu. Cắng phải tròn, hình tháp bút hay ba góc rõ ràng. Vảy phải khô, đông sát, sờ nhám tay… nằm trong tiêu chuẩn quy fe. Các vảy tốt như An thiên (trên ba ngón chân), hù địa (dưới ba ngón chân), Liên giáp nội (vảy lớn 5 ngang hàng cựa), Huyền châm (vảy nhỏ xen giữa các váy ngang cựa). Cặp cựa gà tốt nhất được đặt các tên: Nhật nguyệt, Siêu đao, Song đao…, chủ luôn chăm sóc cho sắc lõm. Con gà ngủ cũng có các… quý tướng như: ngủ tử mị (ngủ như chết), ngủ móc (treo chân giống loài dơi, hiếm thấy), ngủ tử hình (dạng gà chết). Riêng loại gà dáng lệt bệt, lom khom giống vịt được xếp loại “bần kê chi tướng”, chắc chắn không ai nuôi để đá. Đặt tên gà theo hình dạng, màu lông như: gà khét, ô hoe, điều, nhạn, chân xanh, mắt ếch…, có khi gây giống qua mấy đời vẫn gọi theo tên chủ nuôi ví dụ như “bổn gà điều Năm Chà, bổn gà xanh Tám Niên…”

Mắt: mắt gà cựa nhỏ và tròn, mí mắt mỏng.

Cổ: cổ gà cựa ngắn và nhỏ hơn nhiều so với gà nòi.

Chân: ngắn và nhỏ.

Đuôi: đuôi gà cựa là loại lông ống nhỏ mềm mại, khó gẫy. Các lông phủ đuôi mọc dài và cong vòng như lông đuôi chim phụng.

Trọng lượng: gà cựa cân nặng từ 2.2kg đến 3.2kg. Trong truyền thuyết về đời vua Hùng Vương thứ 18 khi kén rể đã truyền rằng “Ai sắm đủ các thứ sau: Tín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao…” thì vua sẽ gả công chúa.

Những tưởng gà nhiều cửa chỉ có trong truyền thuyết, thế nhưng trên thực tế vẫn tồn tại loại gà này.

Giới Thiệu Các Giống Gà Tre Lai Tại Việt Nam Và Đặc Điểm Của Chúng

Nguồn gốc của các giống gà tre lai tại Việt Nam

Các giống gà tre thuần chủng nước ta không hề ít. Tuy nhiên chúng cũng đang ngày càng được lai tạo để tạo ra thành các giống gà tre mới. Do đó mà nếu muốn nói đến nguồn gốc gà tre ở Việt Nam rất khó xác định chính xác.

Hiện nay trên thị trường có các giống gà tre lai phổ biến là gà tre Mỹ, gà tre Tân Châu với gà tre Thái và Serama.

Đặc điểm của các giống gà tre lai tại Việt Nam

Giống gà tre Tân Châu

Gà tre Tân Châu là gà có nguồn gốc từ Việt Nam, cụ thể là Tân Châu An Giang. Tuy nhiên đây cũng không phải giống gà tre thuần chủng. Sở dĩ nói chúng có nguồn gốc Việt Nam là do gà tre Tân Châu được lai tạo từ gà nội địa với gà tre của Nhật Bản.

Gà Tân Châu thường được nuôi làm cảnh, do lông chúng mịn và dày, lại che kín toàn thân. Phần lông cổ là phần nổi bật nhất bởi chúng mềm mịn, phủ từ dưới tai xuống đến giữa lưng gà.

Lông đuôi gà nhiều và xếp lớp, bản lông thì khá rộng. Phần phía trên dài cong xuống đất, không hơn quá đầu. Giống này rất thích hợp với điều kiện thời tiết nước ta.

Giống gà tre Mỹ

Mặc dù tên là gà tre Mỹ nhưng chúng cũng không phải giống thuần chủng. Chúng đã được lai với các dòng gà khác như peru, asil hay gà rừng.

Gà tre Mỹ cũng được nuôi làm cảnh và đồng thời được nuôi làm gà đá. Thân hình chúng thon gọn với màu lông sặc sỡ, khác biệt hoàn toàn so với những giống gà khác. Song bản tính chúng hung hăng và máu chiến, bo đá lớn và lại có tốc độ.

Giống gà tre Serama

Một trong các giống gà tre lai tiếp theo là Serama. Đây là giống gà tre có kích thước và thân hình nhỏ bé. Ngực nở nhô về phía trước, đứng thẳng. Phần cánh thẳng chạm đất che phủ hết chân và lông đuôi cũng thẳng đứng gần chạm tới mồng gà.

Giống gà tre Thái

Gà tre Thái có nguồn gốc từ Nhật Bản nhưng lại được nuôi phổ biến ở đất nước Thái Lan. Hình dáng của chúng khá giống với gà tre Serama. Lông gà rất đẹp, dày và dài. Phần lông đuôi rộng và cặp lông phụng chủ phải hơi cong cong như hình lưỡi kiếm.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giới Thiệu Một Số Đặc Điểm Xem Chân Gà Chọi Cực Chuẩn trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!