Đề Xuất 12/2022 # Kỹ Thuật Nuôi Gà Lôi Rừng Thành Công / 2023 # Top 21 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 12/2022 # Kỹ Thuật Nuôi Gà Lôi Rừng Thành Công / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kỹ Thuật Nuôi Gà Lôi Rừng Thành Công / 2023 mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chăn nuôi gà lôi rừng rất dễ bán thịt vì thịt gà lôi rất ngon được nhiều người yêu thích. Nhu cầu thị trường về chất lượng thịt cũng rất cao. Chính vì vậy phải áp dụng và thực hiện kỹ thuật nuôi tốt mới tạo ra năng suất và hiệu quả cao.

Cách chọn giống nuôi gà lôi rừng

Nếu bạn nuôi gà lôi rừng theo hướng công nghiệp hoặc nuôi theo dạng gà thả vườn. Thì để đạt được hiệu quả cao người nuôi nên lưu ý sau khi trứng gà ấp nở thành con. Bà con hãy tách gà con ra nuôi nhốt riêng.

Nên chọn các cơ cở cung cấp gà lôi rừng thuần chủng uy tín để chất lượng gà được khỏe mạnh không chết yểu hay suy yếu khi môi trường thay đổi.

Chuồng trại khi nuôi gà lôi rừng

Bạn nên dùng bóng đèn để giữ ấm cho gà con đến khoảng 30 ngày tuổi ở trong môi trường thích hợp. Chẳng hạn như trong lồng khung tre, gỗ hay trên nền lót trấu khô sạch, dày tầm khoảng 10-15cm.

Trong tuần đầu tiên hãy nhớ thay giấy lót hàng ngày, 3 tuần đầu. Bởi vì phải để cho gà đủ ấm thì gà mới khỏe mạnh tránh được bệnh tật. Đặc biệt phải tránh chó, mèo, chuột vào chuồng làm hại đến gà.

Mật độ giữ ấm duy trì khoảng 50 con/m2 trong 1-2 tuần đầu, từ tuần thứ 2 trở đi cho 25 con/m2.

Khi nuôi gà lôi rừng để thả, bạn nên thả chúng vào khoảng 8 tuần tuổi hoặc đợi cho đến khi chúng trưởng thành hoàn toàn. Thả một con gà lôi rừng trưởng thành sẽ giúp cho gà có cơ hội sống sót cao hơn. Tất cả phụ thuộc vào thiết lập của bạn và những gì phù hợp với bạn.

Thức ăn nuôi gà

Thức ăn tốt nhất cho gà lôi rừng là trong giai đoạn nuôi gà mới 1-2 ngày tuổi nên cho gà ăn bắp xay nhuyễn.

Bắt đầu từ ngày thứ 3 trở đi cho ăn thức ăn hỗn hợp ít nhất 4-5 lần/ngày, nhưng phải cân đối đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng…

Gà lôi rừng có khả năng tiêu hóa và hấp thụ tốt các thức ăn xanh, vậy nên bắt đầu từ giai đoạn này cần tập trung cho gà ăn rau xanh 3-4 lần/ngày. Ngoài ra nước uống cũng đóng vai trò rất quang trọng nếu thiếu nước có thể gà sẽ chết. Hoặc suy yêu dễ bị nhiễm bệnh.

Gà lôi rừng hay mắc các bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hóa. Vì vậy người chăn nuôi cần lưu ý cho gà ăn sạch, uống sạch, ở sạch. Thường xuyên theo dõi tình trạng đàn gà thường xuyên để phòng, trị bệnh kịp thời.

Phòng bệnh cho gà lôi rừng

Cần tiêm vắc-xin phòng bệnh theo định kỳ cho gà lôi rừng. Như vậy sẽ giúp chúng tránh được bệnh và nâng cao sức đề kháng. Bổ sung thêm thức ăn để gà con tăng trọng lượng và khỏe mạnh tạo ra năng xuất hơn.

Tốt nhất là để gà con được 35-40 ngày tuổi mới thả ra vườn nuôi trong môi trường tự nhiên, sau 3 tháng nuôi thì gà đạt trọng lượng một con gà từ 3kg trở lên và có thể xuất bán.

Chăn nuôi gà lôi rừng mỗi tháng thu lãi hơn chục triệu đồng là chuyện không khó. Vì chúng sinh sống và thức ăn chủ yếu từ ngoài tự nhiên. Như vậy giúp bạn tiết kiệm được chi phí thức ăn lớn.

Thành Công Với Mô Hình Nuôi Gà Lôi. / 2023

Gà lôi dễ nuôi, thị trường tiêu thụ mạnh, người nuôi có lời… đó cũng là lời chia sẻ của anh Tư Quí (Nguyễn Tấn Quí), ở khu vực Bình Thạnh B, phường Bình Thạnh, thị xã Long Mỹ, đã nhiều năm nuôi thành công giống gà này.

Đàn gà lôi đang trong thời kỳ đẻ trứng tại hộ gia đình anh Quí.

Anh Quí cho biết gà lôi còn có tên gọi khác là gà tây (Meleagrisgallopavo), là loài gia cầm có nguồn gốc từ châu Mỹ, gà lớn con, thời gian tăng trưởng dài, thịt ngon. Gà có màu lông bông xám đen hoặc xám trắng, một số ít có màu lông trắng, gà trống có lông màu sặc sỡ, mào và tích tròn dài lòng thòng. Gà con trưởng thành sau 28-30 tuần tuổi có thể đạt trọng lượng từ 5-6kg/con trống và 3-4kg/con mái và bắt đầu đẻ trứng. Gà mái mỗi lứa có thể đẻ từ 10-12 trứng/con rồi tự ấp, sau 28-30 ngày gà nở. Ưu điểm của giống gà lôi là dễ chăm sóc, thức ăn cho gà chủ yếu là lúa, cây cỏ, lục bình, hay chuối cây băm nhuyễn trộn tấm, cám… Đây là những thứ không chỉ dễ tìm trong tự nhiên, mà còn là nguồn thức ăn bổ dưỡng cho gà, người nuôi sẽ tiết kiệm được một phần chi phí, tăng thêm phần lợi nhuận.

Với kinh nghiệm nuôi gà nhiều năm, anh Quí cho rằng nếu muốn nuôi gà lôi theo hướng công nghiệp hoặc nuôi theo dạng gà thả vườn để đạt được hiệu quả cao thì người nuôi cần lưu ý sau khi trứng gà ấp nở thành con nên tách gà con ra nuôi nhốt riêng. Dùng bóng đèn để giữ ấm cho gà con đến khoảng 30 ngày tuổi ở môi trường thích hợp như trong lồng khung tre, gỗ hay trên nền lót trấu khô sạch, dày khoảng 10-15cm. Trong tuần đầu tiên nên thay giấy lót hàng ngày, 3 tuần đầu phải để cho gà đủ ấm và tránh chó, mèo, chuột vào. Mật độ giữ ấm khoảng 50 con/m2 trong 1-2 tuần đầu, từ tuần thứ 2 trở đi cho 25 con/m2. Thức ăn cho gà lôi trong giai đoạn gà mới 1-2 ngày tuổi tốt nhất là cho gà ăn bắp xay nhuyễn, từ ngày thứ ba trở đi bắt đầu cho ăn thức ăn hỗn hợp ít nhất 4-5 lần/ngày, nhưng phải cân đối đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng…

Gà tây có khả năng tiêu hóa và hấp thụ tốt thức ăn thô xanh, cho nên ngay từ giai đoạn này cần tập trung cho gà ăn rau xanh 3-4 lần/ngày và nước uống cũng không thể thiếu đối với gà. Gà lôi thường hay mắc bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, vì vậy người nuôi cần cho gà ăn sạch, uống sạch, ở sạch. Thường xuyên theo dõi đàn gà để phòng, trị bệnh kịp thời. Trong thời gian này, cần tiêm vắc-xin phòng bệnh theo định kỳ cho gà, bổ sung thêm thức ăn để gà con tăng trọng lượng và tăng sức đề kháng. Tốt nhất là để gà con được 35-40 ngày tuổi mới thả ra vườn nuôi trong môi trường tự nhiên, sau 3 tháng nuôi thì gà đạt trọng lượng từ 3kg trở lên/con và có thể xuất bán.

Với nụ cười như mãn nguyện trên môi, anh Quí tâm sự: “Tôi cũng không ít lần thất bại trong những năm đầu nuôi gà lôi. Nhưng qua tìm tòi học hỏi kinh nghiệm trên báo, đài và sự hướng dẫn của cán bộ ngành chăn nuôi, gần 10 năm qua (2009-2019) tôi luôn ổn định nguồn thu nhập khoảng 100 triệu đồng/năm từ tiền bán con giống và gà thịt”.

Anh Quí cho biết hiện tại anh có gần 100 con gà lôi bố mẹ, mỗi con đẻ từ 10-12 trứng, tỷ lệ ấp nở đạt trên 90%. Nhờ đó, mỗi năm anh Quí bán ra hơn 1.000 con gà giống và gà thương phẩm cho bà con chăn nuôi không chỉ trong tỉnh, mà còn có các tỉnh lân cận như An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu… Với giá bán tại chuồng hiện nay là 120.000-130.000 đồng/kg gà thịt, 50.000-90.000 đồng/con gà từ 10-60 ngày tuổi. Bấm đốt ngón tay, anh Quí suy đi tính lại sau khi trừ đi các khoản chi phí mỗi tháng anh có nguồn thu hơn 20 triệu đồng. Anh Quí cho rằng với mô hình nuôi gà lôi thương phẩm theo lối nuôi gà thả vườn nếu được bà con vùng nông thôn, hộ ít đất hoặc hộ có đất vườn trồng cây ăn trái rộng thì rất phù hợp. Bởi nuôi gà trên cùng diện tích đất vườn sẽ ít tốn kém hơn tiền chi phí đầu tư xây cất chuồng trại, lại vừa nhẹ công chăm sóc, lợi nhuận cũng nhiều hơn.

Bài, ảnh: QUANG HẢI – chúng tôi

Kỹ Thuật Nuôi Heo Rừng Lai / 2023

Ngày nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản qúy hiếm. Một trong những động vật hoang dă được nhiều người Việt Nam ưa chuộng đó là lợn rừng. Thuần hóa lợn rừng, lai tạo với lợn nhà đang được nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi của nước ta nghiên cứu và ứng dụng. Giống và đặc điểm giống:

Tên gọi: Heo rừng lai là con lai giữa heo rừng đực với heo nái là heo địa phương thả rông của người dân tộc thường nuôi (giống heo gần như hoang dă) tạo ra con lai với ưu thế lai cao của cả bố và mẹ: Có sức đề kháng mạnh, khả năng chịu đựng kham khổ với môi trường sống tự nhiên cao, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt rất thấp…

Vóc dáng: Heo rừng lai cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đ̣n, lưng thẳng, bụng thon, chân dài và nhỏ, cổ dài, đầu nhỏ, mơm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, răng nanh phát triển mạnh, da lông màu hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn, ánh mắt lấm lét trông hoang dă… Trọng lượng lúc trưởng thành (con đực thường lớn hơn con cái), con đực nặng 50 – 70 kg, con cái nặng 30-40 kg…

Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Heo rừng lai hơi nhút nhát, thính giác, khứu giác tốt, sinh hoạt bầy đàn và chọn lọc tự nhiên thể hiện tính hoang dă… Thích sống theo bầy đàn nhỏ vài ba con, heo đực thường thích sống một ḿnh (trừ khi heo cái động dục).

Môi trường sống thích hợp là vườn cây, trảng cỏ gần ao hồ… Thích hoạt động về ban đêm, ban ngày t́m nơi yên tĩnh, kín đáo để ngủ, nghỉ…

Giá trị và thị trường: Thịt heo rừng lai màu hơi nhạt, không đỏ như thịt heo nhà, nhưng nhiều nạc, ít mỡ, da mỏng và ḍn, thịt ḍn thơm ngon rất đặc trưng, hàm lượng Cholerteron thấp, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao…

Thấy được giá trị của heo rừng, những năm gần đây, nhiều hộ gia đ́nh ở các tỉnh như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước… đă tổ chức thuần hoá heo rừng, tổ chức lai tạo, chăm sóc nuôi dưỡng heo rừng lai, tổ chức liên doanh, liên kết tiêu thụ sản phẩm với các nhà hàng, khách sạn ở các thành phố lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Ghép đôi giao phối:

Tốt nhất, nên cho heo rừng lai cái phối giống với heo rừng đực hoặc cho heo rừng lai cái phối giống với heo rừng lai đực để tạo ra con lai thương phẩm nuôi thịt…

Phối giống và thời điểm phối giống thích hợp:

Bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, v́ cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít, phối giống, đậu thai hiệu quả thấp.

Chu kỳ lên động dục của heo là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tuỳ theo giống, tuổi), cho nên cần theo dơi biểu hiện của heo lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ́) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.

Khi heo cái có dấu hiệu động dục ta cho heo đực vào vườn nuôi heo cái hay cho heo cái vào vườn nuôi heo đực. Heo đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào heo cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, heo cái không động dục trở lại, có thể heo cái đă có bầu.

Chuồng trại:

Chuồng trại rất đơn giản, tuy nhiên, phải nắm vững một số đặc điểm và tập tính của heo rừng lai để bố trí chuồng trại.

Nên chọn chỗ đất cao và thoát nước để bố trí nuôi. Chỗ nuôi cũng nên có nguồn nước sạch. Nó không những cung cấp đủ nước cho heo uống mà quan trọng hơn là nó sẽ duy trì được hệ thực vật phong phú tại nơi nuôi chúng và giữ được độ ẩm thích hợp.

Chuồng trại càng cách xa khu dân cư và đường sá càng tốt. Bản năng hoang dă đă đưa chúng vào t́nh trạng hết sức cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.

Ta có thể nuôi heo rừng lai theo kiểu nhốt trong chuồng hoặc nuôi theo kiểu thả rông trong những khu vực có cây xanh, có rào che chắn xung quanh. Điều quan trọng là hệ thống hàng rào phải hết sức chắc chắn. Ta có thể vây lưới B40 thành các vườn nuôi tự nhiên, có móng kiên cố (v́ heo rừng lai hay đào hang), mỗi vườn nuôi rộng 50-100m2 (tuỳ theo khả năng đất đai) trong đó có chuồng nuôi rộng 20 – 30m2 nuôi khoảng 4-5 heo cái trưởng thành, chúng sẽ sống và sinh sản trực tiếp trong khu vực này. Heo đực giống nuôi riêng, mỗi con một vườn, mỗi vườn nuôi rộng 40 – 50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2 . Chuồng nuôi, có mái che mưa, che nắng, cao trên 2,5m, nền đất tự nhiên, có độ dốc 2-3%… đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh mưa tạt, gió lùa…

Với quy mô ban đầu nuôi 10 con (1 đực, 9 cái) cần có 3 vườn nuôi. Hai vườn nuôi heo cái sinh sản, mỗi vườn rộng 50-100m2 trong đó có 2 chuồng nuôi, mỗi chuồng rộng 20-30m2. Một vườn nuôi heo đực giống rộng 40-50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2…

Thức ăn và khẩu phần thức ăn:

Bao gồm, thức ăn xanh tươi (cỏ, cây các loại), thức ăn tinh (hạt ngũ cốc, củ quả, mầm cây, rễ cây các loại), muối khoáng như tro bếp, đất sét, hỗn hợp đá liếm… Thực tế cho thấy, heo rừng thường tìm đến nương rẫy mới đốt kiếm tro, đất sét để ăn.

Khẩu phần thức ăn cho heo rừng lai thông thường: 50% là rau, củ, quả các loại (có thể sản xuất tại trang trại), 50% là cám, gạo, ngũ cốc các loại, hèm bia, bã đậu… Mỗi ngày cho ăn 2 lần (sáng, chiều), một con heo lai trưởng thành tiêu thụ hết khoảng 2,0 -3,0 kg thức ăn các loại.

Thức ăn cho heo rừng lai, do con người cung cấp có thể thiếu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố… cho nên ngoài việc bổ sung thức ăn tinh giàu đạm, sinh tố, cần thiết phải bổ sung thêm đá liếm cho heo. Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn 100g; sắt sunphát 100g; đồng sunphát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g… đất sét vừa đủ 3kg) cho heo liếm tự do cũng chỉ hết khoảng 20-25 gam/con/ngày.

Thức ăn của heo rừng lai chủ yếu là thực vật. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi heo rừng lai v́ nó sẽ làm cho phẩm chất thịt của heo rừng lai bị biến đổi và nhiều khi làm cho heo bị bệnh tiêu chảy…

Heo ăn thức ăn xanh tươi ít uống nước, tuy nhiên cũng cần có đủ nước sạch và mát cho heo uống tự do. Nước không có ư nghĩa về mặt dinh dưỡng, nhưng có ư nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của heo, nhất là khi thời tiết nắng nóng…

Hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn bỏ thức ăn thừa, rửa sạch máng ăn, máng uống…

Chăm sóc nuôi dưỡng:

Heo rừng lai thích hợp với phương thức nuôi chăn thả trong vườn cây có rào dậu hay chăn thả tự nhiên, ít có sự tác động của con người. Heo rừng lai rất dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao.

Khẩu phần thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống, rau, củ quả, mầm cây, rễ cây, thức ăn tinh gồm hạt ngũ cốc các loại, thức ăn bổ sung muối khoáng như tro bếp, đất sét… Ngoài ra, cũng có thể bổ sung vào chuồng nuôi hoặc vườn nuôi chăn thả một số thức ăn tinh hỗn hợp, xương, bột xương, bột ṣ, hỗn hợp đá liếm… cho heo ăn tự do có vậy thay răng nanh mới bị cùn bớt.

Heo đực giống: Quản lư và chăm sóc tốt, 1 heo đực có thể phối 5-10 heo cái. Heo đực giống phải nuôi riêng và có chế độ bồi dưỡng, nhất là thức ăn tinh giàu đạm. Ngày phối giống bổ sung thêm thức ăn tinh, 1-2 quả trứng, muối khoáng, sinh tố cho ăn tự do…

Heo cái giống: Heo rừng lai mắn đẻ, đẻ nhiều con, mỗi năm có thể đẻ 2 lứa, mỗi lứa 6-7 con, cá biệt có lứa đẻ 9-10 con và khéo nuôi con (nuôi con rất giỏi). Trong tự nhiên, khi đẻ heo mẹ tự chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tự tách bầy khi con lớn…

Đối với heo nái mang thai, 2 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình thường rau, củ, quả, hạt ngũ cốc các loại… có thể bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp, 15g muối, 20g khoáng mỗi ngày. Sau 2 tháng đến khi đẻ cần thiết phải bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng, sinh tố… Ngày heo đẻ có thể cho heo ăn cháo loăng, ít muối, ít rau xanh để đề pḥòng sốt sữa… Heo mang thai nên nuôi riêng để tiện chăm sóc nuôi dưỡng…

Đối với heo nái nuôi con, khẩu phần thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng và chủng loại. Khi heo con được 1,5-2 tháng tuổi, đã ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cho mẹ ăn khẩu phần ăn bình thường. Không nên phối giống cho heo nái động dục trong thời kỳ nuôi con, vì khó thụ thai hoặc thụ thai nhưng số lượng và chất lượng heo con sinh ra không đạt yêu cầu.

Heo con:

Heo sơ sinh màu lông đen, có những sọc nâu vàng chạy dọc thân, không cần đỡ đẻ, cắt rốn, chỉ khoảng 30 phút đến 1 tiếng đồng hồ heo con đã có thể đứng dậy bú mẹ. 15-20 ngày chạy lon ton và bắt đầu tập ăn cỏ, cây. Heo con được 1,5-2 tháng tuổi đã cứng cáp, ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cai sữa, tách bầy làm giống…

Heo sơ sinh có thể đạt 300-500 gr/con, 1 tháng tuổi 3-5 kg, 2 tháng tuổi 8-10 kg, 6 tháng tuổi 20-25 kg, 12 tháng tuổi có thể đạt 60-70% trọng lượng trưởng thành. Với cách nuôi và chế độ dinh dưỡng thông thường, sau 6 tháng nuôi, heo con có thể đạt trọng lượng 25 kg và bán thịt.

Hàng ngày, nên cho heo con vận động và tiếp xúc gần gũi với con người.

Công tác thú y:

Heo rừng lai là vật nuôi mới được lai tạo, sức đề kháng cao, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, heo rừng lai cũng thường bị một số bệnh như: Dịch tả, tiêu chảy, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, bệnh sán lá, bệnh ghẻ lở và một số bệnh khác…

Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hoá có thể dùng các loại thuốc trị đau bụng, sình bụng, đầy hơi, khó tiêu… Cho uống hay chích, hoặc có thể dùng 5-10 kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc bổ sung thức ăn, nước uống đắng, chát như ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa… cũng có thể khỏi.

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ… Cần áp dụng tốt các biện pháp an toàn sinh học như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, cách ly khu vực chăn nuôi với các khu vực xung quanh… định ì tiêm pḥòng các bệnh truyền nhiễm như phó thương hàn, dịch tả, lở mồm long móng (FMD), E.coli, dại… theo đặc điểm dịch tễ học của vùng và qui định của cơ quan thú y.

Khi thời tiết thay đổi hoặc trạng thái sức khoẻ đàn heo có biểu hiện bệnh, cần thiết phải bổ sung kháng sinh vào thức ăn hoặc nước uống cho heo theo quy tình ” dùng thuốc 3 ngày, nghỉ 7 hoặc 10 ngày, rồi dùng tiếp 3 ngày”, cứ thế cho đến khi đàn heo trở lại bình thường, với liều pḥòng chỉ bằng 1/2-1/3 liều điều trị…

Ngô Ngọc Thuần Vietnamgateway

Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nuôi Gà Lôi ( Gà Tây ) / 2023

Ngày đăng: 2016-03-16 08:49:10

I. Giống và đặc điểm giống gà lôi :

Gà tây (Meleagrisgallopavo) hay còn gọi gà Lôi, là loài gia cầm có nguồn gốc từ châu Mỹ, hiện được nuôi nhiều ở nước ta. Gà tây có màu lông bông xám đen hoặc xám trắng, một số ít có màu lông trắng, gà trống có lông màu sặc sỡ, mào và tích tròn dài lòng thòng. Gà trưởng thành 28-30 tuần tuổi có thể đạt 5-6 kg/con trống và 3-4 kg/con mái và bắt đầu đẻ trứng. Gà tây tự ấp, mỗi lứa đẻ 10-12 quả, trọng lượng trứng 60-65 g/quả, thời gian ấp nở 28-30 ngày, tỷ lệ ấp nở 65-70%, tỷ lệ nuôi sống 60-65%, sản lượng trứng 70-80 quả/mái/năm… Gà tây có nhiều ưu điểm: có khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô xanh, tiết kiệm được lương thực, có thể trọng lớn, thời gian tăng trưởng dài, phẩm chất thịt ngon, chất lượng tốt, tỷ lệ protein cao (trên 22%), tỷ lệ mỡ rất thấp (dưới 0,5%).

II. Giai đoạn úm gà lôi con từ 1-4 tuần tuổi

1. Lồng úm gà lôi:

Lồng úm được đóng bằng khung gỗ, nẹp tre hay lưới mắt cáo 1x1cm, có nắp đậy, kích thước 2x1x0,5m. Nếu không có lồng, có thể úm nền, lót trấu khô và sạch dày 10-15cm. Trong tuần úm đầu tiên, nên thay giấy lót hàng ngày, 3 tuần lễ đầu phải úm cho gà đủ ấm và tránh chó, mèo, chuột….

Mật độ úm: 1-2 tuần: 50 con/m2; 2-4 tuần: 25 con/m2.

Nhiệt độ úm: Dùng đèn điện 75W sưởi ấm và thắp sáng, 1 bóng/m2 lồng úm có thể úm bằng gas, hoặc đèn dầu, nhưng phải đủ nhiệt cho gà.

– Tuần thứ 1: từ 35-320C.

– Tuần thứ 2: 31-290C.

– Tuần thứ 3: 28-250C.

– Tuần thứ 4: Nhiệt độ bình thường.

Mỗi tuần giảm dần 30C là thích hợp.

2. Thức ăn của gà lôi:

Giai đoạn 1-2 ngày đầu nên cho gà ăn bắp xay nhuyễn, từ ngày thứ ba trở đi, bắt đầu cho ăn thức ăn hỗn hợp của gà con: protein thô 22%, năng lượng trao đổi 2.900-3.000 Kcal/kg thức ăn.

– Tuần thứ 1: 20-30 g/con ngày.

– Tuần thứ 2:420-50 g/con ngày.

– Tuần thứ 3: 60-70 g/con ngày.

– Tuần thứ 4: 80-100 g/con ngày.

Cho gà ăn nhiều lần trong ngày (ít nhất 4-5 lần/ngày).

3. Nước uống:

Dùng nước sạch, mát đựng trong bình nhựa cho gà uống, nên bổ sung sinh tố tổng hợp: B-complex hoặc Ovimix cho gà uống.

III. Giai đoạn gà choai 5-8 tuần tuổi:

1. Chuồng nuôi gà lôi con:

Chuồng nuôi nên lót trấu 8-10cm, thoáng mát, khô ráo, sạch sẽ… Mật độ 8-10 con/m2, chuyển dần sang giai đoạn thả vườn.

2. Thức ăn của gà lôi:

Yêu cầu protein thô 20%, năng lượng trao đổi 2.800-2.900 Kcal/kg thức ăn, có thể dùng thức ăn hỗn hợp hoặc thức ăn tự trộn, nhưng phải cân đối đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố… Gà tây có khả năng tiêu hóa và hấp thụ tốt thức ăn thô xanh, cho nên ngay từ giai đoạn này cần tập trung cho gà ăn rau xanh. Cho ăn 3-4 lần/ngày.

3. Nước uống:

Cung cấp đầy đủ nước sạch và mát cho gà.

IV. Giai đoạn nuôi gà lôi thả vườn 9-28 tuần tuổi.

+ Giai đoạn nuôi thịt thả vườn:

1. Chuồng nuôi gà lôi :

Nên lót trấu 8-10cm, thoáng mát, khô ráo, sạch sẽ, trong chuồng nên gác kèo đậu cho gà ngủ, nghỉ, mật độ 4-5 con/m2. Có thể nuôi gà bằng chuồng sàn, trên ao thả cá sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

2. Thức ăn của gà lôi: Yêu cầu protein thô 16-18%, năng lượng trao đổi 2.800-2.900 Kcal/kg thức ăn.

3. Nước uống: Cung cấp đầy đủ nước uống sạch và mát cho gà dưới bóng mát các gốc cây.

4. Vỗ béo gà tây: 7-10 ngày trước khi xuất bán, nên vỗ béo gà tây bằng lúa, gạo, tấm, bắp xay nấu.

+ Giai đoạn nuôi hậu bị thả vườn: Cần lưu ý cho gà ăn vừa phải để khống chế khối lượng, tránh mập quá hay ốm quá, gà đều đẻ kém, không vỗ béo gà hậu bị để nuôi sinh sản.

V. Giai đoạn nuôi gà lôi sinh sản

1. Thức ăn của gà lôi :

Thức ăn cho gà đẻ yêu cầu cao hơn gà thịt, protein thô 18-20%, năng lượng trao đổi 2800-2900 Kcal/kg thức ăn, cho nên cần bổ sung thêm thức ăn giàu đạm, khoáng và sinh tố cho gà như: cá, tôm, cua… Gà tây ăn nhiều rau xanh, mỗi ngày có thể ăn từ 300-400 g/con.

2. Ghép trống mái:

Từ tuần tuổi thứ 25-26, nên ghép trống mái theo tỷ lệ thích hợp, 1 trống/5-6 mái.

3. ổ đẻ:

Đóng bằng nẹp hay ván gỗ, kích thước 1,2×0,4×0,6m, để xung quanh vách chuồng.

4. Bảo quản trứng ấp:

Bảo quản trứng trong phòng mát 18-200C là tốt nhất, nếu không có điều kiện thì chỉ nên bảo quản trứng tối đa là 5-6 ngày, trước khi đưa vào máy ấp.

VI. Các biện phòng bệnh trị bệnh cho gà lôi

Thực hiện 3 sạch: ăn sạch, uống sạch, ở sạch, cần bổ sung kháng sinh và vitamin cho gà 3-5 ngày để tăng sức đề kháng và chống stress, thường xuyên theo dõi đàn gà để phòng, trị bệnh kịp thời. Giai đoạn gà con, gà tây hay bị bệnh đậu, bệnh đường hô hấp, bệnh đường tiêu hóa,….

TIN TỨC KHÁC :

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kỹ Thuật Nuôi Gà Lôi Rừng Thành Công / 2023 trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!