Đề Xuất 2/2023 # Ngỡ Ngàng Nguồn Gốc Lịch Sử Giống Gà Tre Trứ Danh Việt Nam # Top 8 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 2/2023 # Ngỡ Ngàng Nguồn Gốc Lịch Sử Giống Gà Tre Trứ Danh Việt Nam # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ngỡ Ngàng Nguồn Gốc Lịch Sử Giống Gà Tre Trứ Danh Việt Nam mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngỡ ngàng nguồn gốc lịch sử giống gà tre trứ danh Việt Nam

Tên gọi chính xác của gà tre phải là ”gà che”. Sự thật và tên gọi nguồn gốc giống gà này sẽ khiến nhiều người không khỏi bất ngờ.

Là giống gà có trọng lượng nhỏ, thân hình đẹp, gà tre là một sinh vật cảnh được nhiều người Việt ưa chuộng. Sự thật và tên gọi nguồn gốc giống gà này sẽ khiến nhiều người không khỏi bất ngờ.

Theo đó, gà tre có tên gọi gốc là mon-che theo tiếng Khmer. Đây là một giống gà bản địa được đồng bào người Khmer nuôi từ xa xưa ở khu vực miền Tây Nam Bộ.

Tên gọi chính xác của giống gà này là “gà che”. Theo thời gian, khi gà “che” phổ biến khắp Việt Nam, người ta lại tưởng cái tên “che” là do dân miền Tây phát âm sai nên sửa lại là gà “tre”, và trở thành tên gọi chính thức như ngày nay.

Với trọng lượng từ 400 gram đến 600 gram cho gà mái, 500 gram đến 800 gram cho gà trống, có thể nói gà tre là giống gà bản địa nhỏ nhất Việt Nam và cũng là một trong các giống gà nhỏ nhất trên thế giới.

Trong vài thập niên trở lại đây, gà tre Nam Bộ bị suy giảm số lượng nghiêm trọng và đứng trước nguy cơ biến mất hoàn toàn do bị loại bỏ vì không mang lại hiệu quả kinh tế cao, bị lai tạo với nhiều giống gà khác.

Ở Việt Nam hiện tại có nhiều giống gà nhỏ được bán trên thị trường với tên gọi gà tre, nhưng thực chất đều là gà lai hoặc gà nhập ngoại, không phải giống gà tre bản địa của miền đất Nam Bộ.

Từ tên gọi một giống gà đặc hữu, gà tre đã trở thành tên gọi chung cho các giống gà cảnh cỡ nhỏ. Ngày nay, may ra ở các vùng sâu vùng xa mới còn sót lại những con gà tre Việt thuần chủng…

Mời quý độc giả xem video Hà Nội mùa cốm xanh về. Nguồn: VTV24.

T.B (tổng hợp)

Các Giống Gà Lai Tại Việt Nam, Nguồn Gốc Và Giống Nuôi Phổ Biến

Sự thích nghi

Gà JA có ưu thế thuần nhất về giống và sự phát triển đồng đều về trọng lượng. Gà có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, địa hình khả năng chịu bệnh tật cao. Gà tận dụng được nguồn thức ăn tại chỗ, phát huy lợi thế đất vườn đồi. Chúng có ưu điểm về thể trạng, ngoại hình, chất lượng thịt, tỉ lệ tiêu tốn thức ăn. Trọng lượng giữa gà trống và mái đồng đều, tỉ lệ mỡ thấp, phù hợp cho sắp cỗ, thời gian nuôi gà J chỉ từ 90 – 95 ngày (ít hơn gà ri 90 ngày), tỉ lệ tiêu tốn thức ăn khoảng 2,7 – 3 kg/1kg tăng trọng.

Trước các yêu của người tiêu dùng, các nhà khoa học đã nghiên cứu, lai tạo được nhiều giống gà ta lai chọi. Loại gà này cho thấy năng suất và chất lượng tốt. Tỷ lệ nuôi sống của gà lai chọi đạt 98,13%. Sinh trưởng bình quân đạt 21,19g/con/ngày. Tỷ lệ nuôi sống của gà lai chọi cao, đạt 100% trong tuần đầu tiên. Tỉ lệ nuôi sống trung bình đạt 98,13%. Tình hình sinh trưởng của đàn gà lai chọi tương đối tốt và ít biến động khối lượng gà ở 14 tuần tuổi đạt 2047,00 g/con. Sinh trưởng bình quân đạt 21,19g/con/ngày, đạt cao nhất ở tuần 11 là 34,46 g/con/ngày.

Gà nòi chân vàng và gà nòi ô tía dòng Ja

Dòng gà này có ưu thế của giống gà chọi, chúng có sự thuần nhất về giống và độ đồng đều cao về trọng lượng. Chúng có cơ địa săn chắc của giống gà nòi kết hợp với vị ngọt, hương thơm. Gà nòi chân vàng có mỏ vàng, mào nụ hoặc múi khế, lông ôm gọn và đỏ màu mận chín. Chân cao và vàng đặc trưng thể hiện vóc dáng hình thể của gà đá.

Trong khi gà nòi ô tía với mào nụ hoặc múi khế, lông ôm gọn màu đen tía, chân cao. Các giống gà nòi có khả năng, kháng bệnh và khả năng thích nghi cao với điều kiện thời tiết, khí hậu cũng như tập quán nhiều vùng miền Việt Nam.

Thời gian sinh trưởng của gà nòi ô tía từ 100 – 105 ngày, đạt khối lượng cơ thể bình quân 1,8 – 2,2 kg/con, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn 2,6 – 2,8 kg/1kg tăng trọng.Nhu cầu dinh dưỡng gà từ 01-20 ngày tuổi, năng lượng trao đổi từ 3100Kcal/kg. Từ 21-60 ngày tuổi năng lượng trao đổi là 3.000 Kcal/kg. Từ 61 ngày tuổi năng lượng trao đổi 2950 Kcal/kg.

Gà lai mía và các loại gà ta lai như J-Dabaco, J-Hải Phòng, gà ta Minh Dư, Vạn Phúc đề lãi, gà giống tăng nhẹ. Tại thị trường Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc giống gà lai mía 1 ngày tuổi được các lò ấp thủ công rao bán với giá 8.000 – 9.000 đồng một con. Trong khi đó, các giống gà ta lai cao cấp hơn như J-Dabaco, J-Hải Phòng, Minh Dư, Vạn Phúc… đang được bán tới tay người chăn nuôi 15.000 – 20.000 đồng

Nguồn Gốc Và Đặc Điểm Giống Gà Mía Nổi Tiếng Ở Việt Nam

Đăng ngày: 27/11/2013 19:51

Gà Mía có chất lượng thịt thơm, da giòn, mỡ dưới da ít, sức khoẻ tốt, thích hợp trong điều kiện chăn nuôi thả vườn nhưng tuổi đẻ muộn

Gà mía có nguồn gốc ở xã Phùng Hưng, huyện Tùng Thiện, tỉnh Hà Tây (nay thuộc xã Sơn tây – Hà Tây)

Đặc điểm ngoại hình: Gà mía là giống gà duy nhất ít bị pha tạp so với các giống gà nội khác. Ngoại hình gà mía hơi thô: Mình ngắn, đùi to và thô, mắt sâu, mào đơn, chân có 3 hàng vảy, da đỏ sắc lông gà trống màu tía, ga mái màu nâu xám hoặc vàng. Nói chung màu lông gà Mía tương đối thuần nhất. Tốc độ mọc lông chậm, đến 15 tuần tuổi mới phủ kín lông ở gà trống.

Đặc điểm ngoại hình của gà Mía tại Việt Nam

Khối lượng cơ thể lúc mới sinh là 32g (Theo sử An Ninh và đồng nghiệp- 2003). Lúc 4 tháng tuổi (giết thịt) bình quân con trống đạt 2,32 kg, con mái 1,9 kg, Gà 6 tháng tuổi con trống đạt 3,1 kg, con mái 2,4 kg (Theo tài liệu quỹ gen – 2001). Khi trưởng thành gà nặng 3 – 3,5 kg; gà trống đạt tới 5 kg (Lê Hồng Mận, Hoàng Hoa Cương – 1994). Theo hội chăn nuôi Việt Nam khối lượng gà mái trưởng thành 2,5 -3 kg; trống 3,5 – 4 kg.

Tuổi đẻ muộn 7-8 tháng, sản lượng trứng 50 – 55 quả/mái/năm, khối lượng trứng 50 – 55 g (Theo hội chăn nuôi Việt Nam – 2002). Tỷ lệ trứng có phôi 88%; tỷ lệ ấp nở 83%, tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần 98% (Theo sử An Ninh và đồng nghiệp – 2003). Gà Mía có sản lượng trứng trung bình 70 quả/mái/năm, tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở đạt 70 – 75% (Theo Bùi Đức Dũng, Lê Hồng Mận – 2003).

Gà Mía có chất lượng thịt thơm, da giòn, mỡ dưới da ít, sức khoẻ tốt, thích hợp trong điều kiện chăn nuôi thả vườn nhưng tuổi đẻ muộn, sản lượng trứng thấp nên hiện nay gà Mía được nuôi theo hướng thịt và ở một số vùng như Thành Phố Hồ Chí Minh, Bình Định, chủ yếu để lai với một số giống gà nội và nhập nội khác tạo gà lai nuôi thịt.

→ TẢI TÀI LIỆU

Gà Chọi Việt Nam, Nguồn Gốc Và Phân Loại Gà Chọi Việt

Gà chọi hay gà đá là những giống gà hiếu chiến, thường nuôi để chọi, đá. Gà chọi ở Việt Nam có hai loại chính là gà đòn và gà cựa. Gà đòn thường được nuôi ở khu vực phía Bắc, Trung; gà cựa được nuôi nhiều ở phía Nam.

Phân loại gà chọi

Gà đòn có trọng lượng chừng 2,8 kg – 4,0 kg. dùng đòn chân để đánh gà đối phương đến khi thắng. Gà nòi đòn là giống gà trụi cổ và là giống gà cổ xưa. Chân cao, cốt lớn dùng để đá chân trơn, hoặt bịt cựa, đây là giống gà tổ tiên cũa dòng gà chọi. Gà đòn có thể trạng khá lớn so với các dòng gà khác, Gan lỳ và dũng mãnh, tuy không nhanh nhen như dòng gà nòi cựa, nhưng đòn đá rất mạnh.

Gà cựa thường thấy chủ yếu nuôi ở khu vực phía Nam, gà được đá có cựa nguyên hoặc là cựa bằng kim loại gắn vào chân. Gà cựa thường có trọng lượng khoảng 3kg. Đá gà cựa là một hình thức sát phạt, người ta thường mua cựa sắt tra vào chân gà hoặc chuốt cựa gà thật bén. Chơi gà cựa thiên về ăn thua, không chiêm ngưỡng được tài nghệ của gà. Gà nòi cựa hay còn gọi là gà nòi, nhưng để phân biệt với giống gà nòi của Miền bắc, nên có nhiều nơi người ta gọi là gà cựa, hay gà nòi cựa.

Gà chọi (gà nòi) miền Bắc

Nguồn gốc và sự phân bố các loại gà chọi ở Việt Nam

Đã có khá nhiều tranh cãi về nguồn gốc gà nòi Việt Nam. Có những gà nòi Việt Nam đã đựơc thuần hoá cách đây 8000 năm tại Đông Nam Á trong một khu vực phạm vi bao gồm Thái Lan và Việt Nam, nơi mà ngày nay loại gà rừng đỏ hiện đang sinh sống.

Qua quá trình lai tạo và chọn giống, ở Việt Nam có một số giống gà nòi nổi tiếng được những người đá gà yêu chuộng. Miền Bắc có gà Thổ hà (Bắc Giang) Đồ Sơn (Hải Phòng), Nghi Tàm, Nghĩa Đô, Vân Hồ (Hà Nội) ngoài ra tại đa số các tỉnh như Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú thọ, Sơn La, Đô Lương – Nghệ An đều có các dòng gà nòi riêng.

Miền Trung có nhiều lò gà tên tuổi: Ninh Thuận có gà Phan Rang; Khánh Hoà có gà Vạn Giã, Gò Dúi; Quảng Ngãi có gà Sông Vệ, Sa Huỳnh, đặc biệt ở Bình Định nổi tiếng gà đòn, thế. Nếu đá gà liên tỉnh, các nơi gặp gà chọi Bình Định phải thận trọng. Bình Định có nhiều lò gà nổi danh: Hoài Nhơn có gà Hoài Châu, Kim Giao (Hoài Hải); Hoài Ân có gà Mộc Bài (Ân Phong); Phù Cát có gà Cát Chánh; Tuy Phước có gà Gò Bồi; Quy Nhơn có gà Phú Tài, đặc biệt Tây Sơn có gà Bắc Sông Kôn (dòng gà Nguyễn Lữ lưu truyền).

Miền Nam có gà Chợ Lách (Bến Tre), gà Cao Lãnh (Đồng Tháp), gà Châu Đốc (An Giang), gà Bà Điểm. Tuy nhiên ở miền Nam chủ yếu đá gà cựa.

Gà cựa miền Nam

Gà nòi Chợ Lách có những độc đáo riêng. Thời trước ở Chợ Lách đã có những trường gà chơi “chọi gà nghệ thuật”. Với điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi và hết sức đặc thù nên nghề nuôi gà nòi đã xuất hiện nơi này từ khá lâu. Chợ Lách cũng là một trong những nơi giữ được nguồn gien của các giống gà nòi quý hiếm. Để tạo ra gà giống tốt thì vấn đề quan trọng là phải biết chọn gà mái chất lượng, đi kèm với gà trống tuyệt hảo để lai tạo. Gà mái phải có ngoại hình khỏe mạnh, hung hăng để di truyền tính mạnh mẽ sang đàn con, còn gà trống thì phải có thể chất tốt, gan lỳ, chịu đòn và tránh đòn nhanh lẹ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ngỡ Ngàng Nguồn Gốc Lịch Sử Giống Gà Tre Trứ Danh Việt Nam trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!