Đề Xuất 1/2023 # Nuôi Gà Thả Vườn Kiểu Mới Nâng Cao Chất Lượng Và Năng Suất # Top 2 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 1/2023 # Nuôi Gà Thả Vườn Kiểu Mới Nâng Cao Chất Lượng Và Năng Suất # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nuôi Gà Thả Vườn Kiểu Mới Nâng Cao Chất Lượng Và Năng Suất mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hiện nay, các sản phẩm gà thả vườn luôn được thị trường ưa chuộng do thịt gà dai, thơm ngon và giàu dinh dưỡng. Đầu ra của gà thả vườn luôn ổn định hơn các các loại gà chăn nuôi công nghiệp hay gà nhốt chuồng. Vì vậy ở nhiều nơi bà con đã chọn lựa hình thức nuôi gà thả vườn để phát triển kinh tế. Ngoài cách nuôi gà thả truyền thống, bà con đang dần chuyển sang mô hình nuôi gà thả vườn kiểu mới, nhằm đem lại chất lượng và năng suất cao hơn.

Tại sao nên lựa chọn nuôi gà thả vườn kiểu mới?

Đối với nuôi gà truyền thống (gà thả tự do hoàn toàn) bà con có thể tận dụng được lợi thế về đất vườn, đất đồi. Phân gà được bón trực tiếp cho cây trong vườn. Đàn gà với tập tính bới đất nên không cần dọn cỏ và xới vườn. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích đó, cách nuôi gà truyền thống đem lại nhiều rủi ro cho bà con. Do phân gà ngấm xuống đất vườn lâu ngày là môi trường lý tưởng cho các mầm bệnh phát triển. Việc vệ sinh tiêu độc khó thực hiện nên dịch bệnh dễ bùng phát. Để phòng bệnh, chi phí cho thuốc thú y là rất lớn, ngoài ra còn làm giảm năng suất và chất lượng thịt.

Để phòng tránh các loại dịch bệnh thường xảy ra khi nuôi theo cách truyền thống, bà con nên chuyển sang chăn nuôi gà thả vườn kiểu mới (bán chăn thả) theo hướng an toàn sinh học.

Thuận lợi và khó khăn khi nuôi gà thả vườn kiểu mới

Thuận lợi

Hiện nay đời sống kinh tế của người dân đã được cải thiện, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm được chú trọng. . Người dân ưa chuộng thực phẩm hữu cơ, nhu cầu về thực phẩm sạch ngày càng tăng. Do đó sản phẩm gà thả vườn có đầu ra ổn định và có giá bán cao hơn các loại gà khác.

Nước ta có rất nhiều giống gà thích hợp cho việc chăn nuôi thả vườn, cho hiệu quả kinh tế cao. Bà con có thể lựa chọn các giống gà sau: Gà lương phượng, gà tam hoàng, gà tàu vàng, gà tre, gà ri, gà mía, gà Đông Tảo…

Tại các địa phương làm nông nghiệp, diện tích trồng trọt và đất vườn lớn, thuận lợi về nguồn thức ăn và bãi chăn thả cho việc phát triển chăn nuôi gà.

Đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, đã rất nhiều thiết bị, máy móc sẵn sàng cho bà con chế biến thức ăn sạch, thức ăn hữu cơ tại nhà.

Khó khăn:

Đối với nuôi gà thả vườn kiểu mới, bà con cần tốn kém chi phí đầu tư trang thiết bị ban đầu: Hệ thống chuồng trại, máng ăn, máng uống, sân chơi, hàng rào vây ngăn cách khu nuôi gà, rãnh thoát nước. Ngoài ra, cần đầu tư dụng cụ bảo hộ lao động như: quần áo, khẩu trang, ủng bảo hộ, hố sát trùng. Gà giống phải nhập rõ nguồn gốc, chất lượng cao. Gà được tiêm phòng định kì, nền chuồng và bãi thả phải xử lý hóa chất sát trùng định kỳ.

Một khó khăn nữa đó chính là chi phí cho thức ăn đầu vào. Hiện giá thành thức ăn công nghiệp khá cao, khiến bà con chăn nuôi không có lãi, thậm chí thua lỗ. Giải pháp lâu dài cho bà con chính là chuyển hướng sang tự sản xuất thức ăn chăn nuôi từ những nguyên liệu có sẵn, giá rẻ tại địa phương.

Thêm nữa, kiến thức về chăn nuôi gà thả vườn kiểu mới còn hạn chế. Bà con còn thiếu kiến thức về chăm sóc gà thả vườn và phòng trừ dịch bệnh. Do đó để chăn nuôi thành công, bà con cần nắm được kỹ thuật nuôi gà thả vườn kiểu mới sau đây.

Yêu cầu về chuồng trại, bãi chăn thả

Bà con cần quy hoạch nơi xây dựng chuồng trại xa khu dân cư, xa đường giao thông, xa nguồn nước sinh hoạt và xa các trại chăn nuôi khác.

Chuồng nuôi phải có diện tích đủ rộng, tùy vào quy mô chăn nuôi của bà con. Ví dụ chuồng nuôi gà con 10 – 12 con/m2, chuồng nuôi gà do 5 – 6 con/m2, chuồng nuôi gà đẻ 4 – 4,5 con/m2.

Nền chuồng láng xi măng và có độ dốc về phía rãnh thoát nước, để dễ dàng làm vệ sinh, khử trùng tiêu độc.

Mái chuồng lợp lá cọ, lá tranh, Fibro xi măng. Tường vách chuồng chỉ nên xây cao 30 – 40 cm, còn lại phía trên dùng lưới thép tạo độ thông thoáng.

Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ chăn nuôi như máng ăn, máng uống, hệ thống sưởi ấm, lồng úm, dụng cụ sát trùng…

Yêu cầu đối với nuôi gà thả vườn kiểu mới, bãi chăn thả cần diện tích đủ rộng, mật độ 1-4 con/m2. Không gian thông thoáng, nhiều ánh sáng để gà có thể hấp thụ, tổng hợp vitamin. Bãi thả được lót nilon sau láng vữa xi măng trên đổ cát vàng 10 – 15 cm, đáp ứng tập tính bới, tắm cát và ăn sỏi của gà. Gà được phơi nắng trên sân cát sẽ giúp tăng sức đề kháng, lông bóng đẹp, hệ tiêu hóa phát triển tốt. Đồng thời sẽ hạn chế được mầm bệnh phát triển.

Bà con có thể sử dụng vỏ trấu, vỏ bào gỗ hay mùn cưa để làm chất độn chuồng. Nguyên liệu này có khả năng hấp thụ nước tốt, giá thành rẻ, và có thể tận dụng làm phân bón sau khi sử dụng. Khi sử dụng chất độn chuồng, bà con có được nhiều lợi ích như:

Giúp phân giải vào hấp thu nước tiểu, phân thải của gà, giúp nền chuồng khô ráo, hạn chế sự tiếp xúc giữa phân và gà.

Chất độn chuồng còn có chức năng giữ ấm cho chuồng nuôi.

Chất độn chuồng ức chế sự phát triển của mầm bệnh, giúp hạn chế dịch bệnh bùng phát.

Đồng thời chất độn chuồng giúp chân gà khô ráo, lông gà bóng mượt, thịt chắc hơn, tồn dư ít kháng sinh.

Khi sử dụng chất độn chuồng sẽ hạn chế được mùi hôi, giảm khí độc trong chuồng nuôi. Tiết kiệm được nhân công, chi phí điện nước dọn rửa chuồng.

Đối với gà thả vườn bà con có thể chọn gà mía hoặc các loại gà lai như: Mía lai Lương Phượng, Lạc Thủy lai Lương Phượng, gà Ri lai Lương Phượng…

Khi nhập gà giống bà con cần chọn nơi cung cấp uy tín. Đảm bảo phải có hồ sơ nguồn gốc đầy đủ như hóa đơn, giấy kiểm dịch thú y. Con giống phải đạt tiêu chuẩn về giống (màu lông, màu da chân, trạng thái sức khỏe, không mắc dị tật).

Con giống nhập về cần nuôi cách ly khoảng 2 tuần để theo dõi. Đảm bảo an toàn, không có dịch bệnh thì mới đưa vào khu chuồng nuôi chính.

Thức ăn chăn nuôi

Thức ăn và nguyên liệu thức ăn (ngô, cám gạo, thóc, khô dầu, bột cá, bột vitamin, bột xương, khoáng) khi sử dụng phải đảm bảo không mốc, không vón cục, không lẫn tạp chất

Thức ăn hỗn hợp viên phải có nhãn mác rõ ràng và còn hạn sử dụng. Đặc biệt, bà con có thể tự chế biến cám viên tại nhà với các sản phẩm máy ép cám viên 3A. Chúng tôi cung cấp công thức phối trộn khoa học kèm theo khi bà con mua máy. Đảm bảo cám viên tự chế sẽ có chất lượng tốt và tiết kiệm được chi phí rất hiệu quả.

Khi bảo quản trong kho, thức ăn hỗn hợp và nguyên liệu thức ăn phải xếp riêng từng loại và có kệ kê cao cách mặt nền 20cm và cách tường 20cm. Không để thuốc sát trùng, thuốc bảo vệ thực vật và xăng, dầu trong kho chứa thức ăn chăn nuôi

Mời bà con theo dõi video sản xuất cám viên tại Thanh Hóa, sử dụng Máy ép cám viên 3A22Kw

Các biện pháp phòng bệnh

Phải thực hiện triệt để mặc bảo hộ lao động khi vào khu chăn nuôi (có quần áo mặc riêng, đi ủng, đội mũ).

Hố sát trùng trước cửa chuồng thường xuyên có vôi bột hoặc các chất sát trùng phù hợp.

Đình kỳ phun sát trùng xung quanh khu chăn nuôi (1 tuần/lần hoặc muộn hơn) tùy theo tình hình dịch tễ.

Thực hiện sát trùng chuồng nuôi, dụng cụ, thiết bị trước khi chăn nuôi, trong khi chăn nuôi và sau khi bán sản phẩm hoặc di chuyển đàn gà sang các nơi khác.

Tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin cho gà (marek, newcatson, gumboro, viêm phế quản truyền nhiễm, cúm gia cầm, đậu gà) theo lịch hướng dẫn.

Mở sổ ghi chép lịch tiêm phòng, và sử dụng thuốc kháng sinh.

Kỹ Thuật Nuôi Gà Thả Vườn Đạt Năng Suất Cao

Sau khi trải qua giai đoạn nuôi úm gà con thì sau 1 tháng có thể thả gà ra để nuôi ở môi trường ngoài. Nhưng để gà ít bị nhiễm bệnh cũng như phát triển nhanh chóng thì các điều kiện về thức ăn, nước uống cũng phải được đảm bảo là tốt nhất.

Thức ăn của gà sẽ được thay đổi từ cám công nghiệp chuyển dần thóc, lúa đối với gà chọi dùng để đá. Hoặc từ cám viên chuyển sang cám dạng đậm đặc trộn lẫn với cám để tăng trọng lượng. Cho gà ăn theo các bước như sau:

Ngày đầu tiên úm gà chỉ cho uống nước, sau cho ăn tấm hoặc bắp nhuyễn

Sau đó, cho gà tập ăn cám công nghiệp và ăn thành nhiều bữa

Sau úm thì cho ăn thêm rau xanh, giun nhỏ để bổ sung lượng đạm dồi dào

Cho uống thêm một số vitamin A, C và điện giải Bcomplex để tăng sức đề kháng

Vật nuôi thả vườn khá nhạy cảm với môi trường và dễ bị tác động bởi các vi khuẩn tự nhiên. Do đó để phòng bệnh cho gà ngay từ khi còn nhỏ thì không nên cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rữa. Thường xuyên vệ sinh máng ăn, máng uống cho sạch sẽ

Gà con có sức đề kháng rất kém nên ngoài việc bổ sung các loại vitamin cần thiết thì cùng nên phòng bệnh bằng các loại vacxin ở 2 loại bệnh thường gặp nhất:

Đối với gà đẻ trứng thả vườn thì cần chú ý đến các yếu tố như chọn gà mái đẻ, chuồng nuôi và thức ăn cho gà đẻ. Đó cũng là những yếu tố bắt buộc phải có khi áp dụng kỹ thuật nuôi gà thả vườn để lấy trứng.

Chọn mái con của mái mẹ đẻ tốt, không mắc bệnh

Chọn con mái chân cao vừa phải, đầu thanh, mắt sáng, mọc lông sớm

Khoảng cách giữa xương lườn và xương chậu để lọt bàn tay, bụng mềm, lỗ huyệt mọng, khoảng cách giữa hai xương chậu rộng.

Chuồng phải cao ráo, thoáng mát, có hệ thống lót ổ đẻ cách sàn khoảng 1 m. Được lót bằng rơm hoặc lá khô.

Diện tích chuồng để có mật độ từ 4 – 6 con/m2

Kỹ thuật nuôi gà thả vườn để lấy trứng thì phải cung cấp đầy đủ lượng thức ăn. Chất dinh dưỡng để tạo trứng. Đóng vai trò quan trọng nhất là lượng tinh bột, chất đạm và các vitamin. Ngoài ra, hãy để gà tự do kiếm ăn kết hợp với quan sát để gà có lượng thức ăn cho phù hợp. Đồng thời, nếu muốn gà để nhiều trứng thì cũng nên áp dụng một số phương pháp như:

Cho gà phơi nắng từ 12 – 14 giờ liên tục trong 3 tuần để kích thích hocmon giúp gà đẻ nhiều hơn.

Cho gà ăn 2 lần/ ngày sáng 40% lượng thức ăn. Chiều là 60% tránh việc gà quá béo hoặc quá gầy ảnh hưởng đến quá trình đẻ

Nếu thấy trứng mỏng hoặc xảy ra tình trạng đẻ non thì nên bổ sung thêm canxi để đảm bảo chất lượng của trứng.

Nuôi Gà Thả Vườn Kiểu Mới

Nuôi gà thả vườn kiểu mới

Sau khi khảo sát và tìm hiểu mô hình chăn nuôi gà thả vườn kiểu mới ở một số nơi; thì chăn nuôi gà ta thả vườn sẽ mang lại lợi nhuận kinh tế cao nhất. Ban đầu, khi mới bắt tay vào nuôi; các bạn chỉ nên nuôi thử nghiệm với số lượng khoảng 100 con. Sau đó, sẽ tăng dần số lượng gà, mở rộng quy mô lớn hơn.

Thiết kế chuồng trại và lồng úm gà con phù hợp

Điều kiện quan trọng để thực hiện mô hình nuôi gà thả vườn chính là chuồng trại rộng. Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng với mặt trước cửa chuồng hướng về phía Đông hoặc Đông Nam; giúp hứng được nắng chiều. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m; để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.

Đối với lồng úm gà con, kích thước tốt nhất là 2m x 1m, chân cao 0,5 m là đủ nuôi 100 con gà. Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75 W dùng cho 100 con gà).

Chọn phương pháp nuôi gà thả vườn kiểu mới phù hợp

Để vừa có thể phát triển quy mô đàn gà, đồng thời đảm bảo kĩ thuật nuôi có tỉ lệ hao hụt thấp; các bạn có thể áp dụng hình thức bán chăn thả. Trong giai đoạn đầu lúc mới nở đến khi đàn gà được 1 tháng tuổi; cần chuẩn ngừa các loại bệnh thường gặp như bệnh tụ huyết trùng ở gà; ; bệnh thương hàn;… Chế độ chăm sóc tốt nhằm tăng sức đề kháng trước khi cho thả vườn.

Một trong những điểm mạnh của mô hình nuôi gà ta bán chăn thả là quy mô đàn từ 500 con trở lên cho mỗi hộ. Sản phẩm gà ta với thịt dai, ngon được phần đông người dân ưa chuộng. Nuôi gà ta theo hình thức bán chăn thả không yêu cầu đất vườn quá rộng; cũng không tiêu tốn nhiều thức ăn. Thức ăn cung cấp cho gà từ 70-100% nhu cầu dinh dưỡng tùy theo diện thích vườn rộng hay hẹp. Nếu nuôi và chăm sóc theo đúng phương pháp kĩ thuật, tỷ lệ hao hụt rất thấp.

Chọn giống gà thả vườn cho năng suất cao

Trong một đàn gà ta thả vườn, cân nặng các con trong một lứa thường khá đồng đều, chênh lệch không nhiều. Nếu như trước đây giống gà lai giữa gà ta và gà tam hoàng được nhiều hộ nông lựa chọn. Thì hiện nay giống gà Bình Định được lai giữa gà ta và gà nòi được đánh giá có nhiều điểm nổi trội hơn hẳn. Ngoài chất lượng thịt ngon và dai, nuôi giống gà Bình Định ít tiêu tốn thức ăn và đặc biệt phát triển rất đồng đều.

Cách nuôi gà thả vườn kiểu mới

Với cách chăn nuôi khoa học mà Daga67 giới thiệu sau đây; các lứa gà sẽ đạt tỉ lệ nuôi sống cao, giúp bà con thu về lợi nhuận lớn.

Kỹ thuật nuôi gà

Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi), bà con nên rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn. Khi gà được 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con. Trên 15 ngày sẽ cho gà ăn máng treo.

Các máng ăn và máng uống nên được treo xen kẻ trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ ngày. Đối với gà chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và điểm sinh hoạt cho gà tắm. Kích thước bể dài 2m, rộng 1m, cao 0.3m cho 40 gà.

Cũng nên đặt thêm các máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn.

Chất độn chuồng nuôi gà thả vườn kiểu mới

Chất độn chuồng rất quan trọng để giúp cho gà phát triển tốt. Nếu như những năm trước đây; người chăn nuôi thường sát trùng bằng thuốc hóa học thì hiện nay nên sử dụng phương pháp rải đệm lót sinh thái; có tác dụng khử vi khuẩn, mùi hôi rất tốt.

Thức ăn chăn nuôi tốt nhất cho gà thả vườn

Gà rất dễ mẫn cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm khuẩn, thối rửa. Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp; hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp. Cần đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamin.

Để phòng bệnh, bà con có thể trộn vacxin, các loại khoáng chất, vitamin trong thức ăn cho gà từ 2-3 lần / tuần.

Vệ sinh chuồng nuôi gà thả vườn kiểu mới

Bà con cũng cần phải chủ động phòng bệnh kĩ lưỡng, từ dọn dẹp, vệ sinh; khử trùng cẩn thận đến việc tuân thủ quy trình chăm sóc, chăn nuôi đầy đủ. Đảm bảo “ăn sạch, ở sạch, uống sạch”. Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ; không để ao tù trong nước đọng trong khu vườn thả.

Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tùy theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng. Cần chú ý không nuôi nhiều cỡ gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

Nuôi gà thả vườn làm giàu

Nếu như bà con áp dụng đúng các kỹ thuật nuôi gà thả vườn kiểu mới thì chắc chắn sẽ thành công. Với những trang trại quy mô lớn, lãi suất cho ra nhiều hơn. Trung bình hằng năm lãi suất có thể lên đến hàng tỷ đồng. Nhất là những dịp cuối năm như Tết giá gà tăng mạnh và nhu cầu thị trường cũng trở nên đông đảo hơn so với ngày thường.

Với mức chi phí đầu tư thấp, năng suất nhiều thì đây là một công việc ổn định cho bà con nông dân. Kinh doanh theo kiểu mô hình này rủi ro được giảm đến mức thấp nhất tránh hiện tượng mất trắng chỉ sau một đêm. Chính vì thế, mà hiện các hộ nhau đang đua nhau thực hiện mô hình này làm giàu.

Khả Năng Sinh Trưởng, Năng Suất Và Chất Lượng Thịt Của Gà Đông Tảo

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của gà Đông Tảo nuôi theo phương thức bán chăn thả tại nông hộ. Trong chương trình bảo tồn và khai thác gà Đông Tảo của tỉnh Hưng Yên, 5 nông hộ tại xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, Hưng Yên được lựa chọn để nuôi 250 gà từ 1 ngày tuổi tới 24 tuần tuổi. Kết quả theo dõi cho thấy: Sau 24 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống là 86,4%; con trống và con mái có khối lượng cơ thể lần lượt là: 2.584,76 g và 2.188,95 g; mức thu nhận và tiêu tốn thức ăn tương ứng là 105 g/con/ngày và 4,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng; tỷ lệ thân thịt, lườn, đùi và mỡ bụng lần lượt là: 66,76; 15,39, 23,40 và 1,62% (con trống không có mỡ bụng). Thịt gà Đông Tảo có các chỉ tiêu màu sắc L*: 53,71 – 59,72; a*: 8,20 – 13,76 và độ dai 28,66 – 37,14 kg/cm2 ; thịt đùi sẫm màu hơn, đỏ hơn và dai hơn so với thịt lườn. Gà Đông Tảo có năng suất thịt tương đối cao, thịt thuộc loại bình thường, đỏ và dai.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Gà Đông Tảo là giống gà bản địa nổi tiếng vì tầm vóc lớn, lông mã đẹp, đặc biệt là cặp chân to hơn hẳn gà Hồ, gà Mía và nhiều giống gà khác. Từ năm 1990, gà Đông Tảo thuộc nhóm các giống vật nuôi cần được bảo tồn. Đã có một vài nghiên cứu về ngoại hình, sinh trưởng (Trần Công Xuân, 1999; Nguyễn Thị Hoà, 2004; Nguyễn Chí Thành, 2008), các chỉ tiêu sinh lý sinh hoá máu (Bùi Đức Lũng và cs., 2004), cấu trúc gen (Yamamoto et al., 1998), trình tự nucleotide đoạn D – loop và khoảng cách di truyền (Nguyen Dang Ton và cs., 2008) của gà Đông Tảo.

Sau thành công của Chương trình bảo tồn quỹ gen vật nuôi, gà Đông Tảo được khai thác và phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước. Tiếp theo các điều tra, đánh giá hiện trạng chăn nuôi gà Đông Tảo tại nơi nguyên sản là huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (Lê Thị Thắm và cs., 2016), nghiên cứu này nhằm đi sâu hơn vào các khía cạnh đánh giá sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt của gà Đông Tảo thuần nuôi tại các nông hộ xã Đông Tảo, Khoái Châu, Hưng Yên.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1. Đánh giá khả năng sinh trưởng

Theo dõi sinh trưởng từ 1 – 24 tuần tuổi của 250 gà Đông Tảo, gồm 100 gà trống và 150 gà mái, nuôi tại 5 nông hộ thuộc xã Đông Tảo, Khoái Châu, Hưng Yên.

Cân khối lượng từng cá thể vào buổi sáng hàng tuần trước khi cho gà ăn, từ 1 ngày tuổi đến 24 tuần tuổi bằng cân điện tử kỹ thuật 300 g ± 0,2 g đối với gà dưới 3 tuần tuổi và cân đồng hồ 5 kg ± 5 g đối với gà trên 3 tuần tuổi.

Theo dõi số lượng gà còn sống, chết và loại thải qua các tuần từ tuần 1 -24 để tính tỷ lệ nuôi sống.

Đo kích thước các chiều đo của cơ thể lúc gà ở 24 tuần tuổi bằng thước dây và thước kẹp Panme, các chiều đo bao gồm: dài cổ,dài lưng, vòng ngực, dài cánh, dài đùi, dài chân, dài lườn theo phương pháp mô tả của FAO (2012).

Để đánh giá sự phát triển của chân (đặc điểm nổi bật của gà Đông Tảo): đo đường kính nhỏ của chân (mặt trước), đường kính to của chân (cạnh bên) từ 5 tuần tuổi tới 24 tuần tuổi theo phương pháp mô tả của FAO (2012).

Khẩu phần ăn và lượng thức ăn tiêu thụ: Khẩu phần sử dụng cho gà thí nghiệm là khẩu phần đã được sử dụng trong nhiều năm của các hộ chăn nuôi tại xã Đông Tảo. Đặt sổ theo dõi tại 5 nông hộ nuôi gà thí nghiệm, kiểm tra ghi chép hàng tuần. Gà con từ 1 – 12 tuần tuổi được nuôi bằng thức ăn hỗn hợp gà thịt nuôi công nghiệp. Từ 13 – 19 tuần tuổi, khẩu phần ăn của gà gồm thóc (28 – 33%), ngô (32 – 36%), thức ăn hỗn hợp (25 – 32%) và thức ăn đậm đặc (6 – 9%). Từ 20 – 24 tuần tuổi, khẩu phần ăn giảm bớt khoảng 1/3 các loại thức ăn trên và thay bằng rau xanh. Khối lượng rau xanh gấp 8 lần so với lượng thức ăn tinh được thay thế.

Phương thức nuôi: Giai đoạn 1 – 3 tuần tuổi, gà nuôi trong lồng. Từ sau 3 – 24 tuần tuổi, gà được nuôi bán chăn thả: ban đêm nhốt trong chuồng, những ngày không mưa gà được thả trong vườn hẹp có hàng rào lưới B40 bao quanh.

2.2. Đánh giá năng suất và chất lượng thịt

Kết thúc 24 tuần tuổi, chọn 3 trống và 3 mái có khối lượng trung bình trong đàn gà thí nghiệm để mổ khảo sát đánh giá các chỉ tiêu thân thịt. Lấy mẫu thịt lườn và thịt đùi để đánh giá các chỉ tiêu chất lượng thịt.

Các chỉ tiêu đánh giá thân thịt gồm: khối lượng sống, sau cắt tiết và vặt lông, tỷ lệ thân thịt, thịt lườn, thịt đùi và mỡ bụng theo phương pháp mô tả bởi Bùi Hữu Đoàn và cs. (2011).

Các mẫu thịt lườn và thịt đùi được đánh giá chất lượng thịt tại Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam theo các phương pháp của Barton – Gate et al. (1995), Cabaraux et al. (2003) và Clinquart (2004a, 2004b) với các chỉ tiêu: pH sau giết mổ 15 phút (pH15) và bảo quản sau 24 giờ (pH45) được đo bằng máy đo pH Testo 230 (CHLB Đức). Màu sắc thịt được đo sau giết mổ 24 giờ bằng máy đo màu sắc Minolta CR – 410 (Nhật Bản) với các chỉ số độ sáng (L*), màu đỏ (a*), màu vàng (*) theo tiêu chuẩn độ chiếu sáng D và góc quan sát tiêu chuẩn 65 C.I.E (C.I.E., 1978). Độ dai của thịt, đơn vị tính là N, được xác định bằng lực cắt tối đa đối với cơ sau khi hấp cách thuỷ bằng máy Warner Bratzler 2000D (Mỹ). Tỷ lệ hao hụt sau bảo quản được xác định trên cơ sở chênh lệch khối lượng thịt trước và sau bảo quản 8 ngày. Tỷ lệ hao hụt chế biến được xác định trên cơ sở chênh lệch khối lượng thịt trước và sau hấp cách thuỷ bằng máy Waterbach Memmert ở nhiệt độ 750C trong thời gian 60 phút.

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm Excel và Minitab 16.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Khả năng sinh trưởng 3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống

Do có kinh nghiệm chăn nuôi, đảm bảo đúng lịch tiêm phòng và vệ sinh phòng bệnh tốt nên đàn gà từ tuần tuổi đầu tiên đến 6 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống dao động trong khoảng 98,3 – 99,2%, bắt đầu từ tuần tuổi thứ 7 trở đi, tỷ lệ nuôi sống đạt trong khoảng 99,1 – 100%. Sau 24 tuần nuôi, với số lượng còn sống là 239 con, tỷ lệ nuôi sống đạt 86,4%.

Theo dõi trên các giống gà địa phương, Nguyễn Chí Thành và cs. (2009) cho biết: tỷ lệ nuôi sống từ 1 – 8 tuần tuổi của gà Hồ là 90,79%; gà Đông Tảo 92,00% và gà Mía 76,37%. Gà địa phương lông cằm nuôi tại Lục Ngạn, Bắc Giang có tỷ lệ nuôi sống từ tuần 1 – 15 là 80% (Nguyễn Bá Mùi và cs., 2012). Theo Nguyễn Hoàng Thịnh và cs. (2016), gà nhiều ngón từ 1 – 18 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống là 88,3%. Như vậy, không có khác biệt nhiều về tỷ lệ nuôi sống giữa gà Đông Tảo trong thí nghiệm này với gà Đông Tảo cũng như một số giống gà địa phương trong các theo dõi thí nghiệm trước đây.

Nguyễn Bá Mùi và cs. (2012) cho biết: gà địa phương lông cằm nuôi tại Lục Ngạn, Bắc Giang theo phương thức cho ăn tự do theo Tiêu chuẩn Việt Nam có khối lượng cơ thể lúc 15 tuần tuổi là: 1907,05 g đối với con trống và 1430,63 g đối với con mái. Tại 15 tuần tuổi, theo dõi của chúng tôi ở gà Đông Tảo là 1681,3 g đối với con trống và 1516,3 g đối với con mái.

So sánh với một số chiều đo cơ thể của gà Hồ (Nguyễn Văn Duy, 2013), gà Đông Tảo có thân hình vạm vỡ, ngắn và đậm hơn, đặc biệt là kích thước rất lớn của đôi chân. Các chỉ tiêu kích thước các chiều đo của gà trống đều nổi trội hơn so với gà mái (Bảng 1). Nguyễn Văn Duy (2013) đã khảo sát 181 cá thể gà Hồ sinh sản 1 năm tuổi với khối lượng trung bình của con trống 3,7 kg, con mái là 2,6 kg, kết quả cho biết: đường kính nhỏ của chân con trống và con mái tương ứng là 19,6 và 15,3 mm, đường kính lớn của chân con trống và con mái tương ứng là 23,7 và 18,6 mm. Rõ ràng là so với gà Hồ, kích thước đường kính chân của gà Đông Tảo vượt trội so với gà Hồ. Mặc dù mới 24 tuần tuổi, khối lượng cơ thể chỉ bằng 0,7 – 0,9 so với gà Hồ 1 năm tuổi nhưng cặp chân của gà Đông Tảo đã to gấp 1,3 – 1,5 lần so với gà Hồ. Đây là đặc điểm nổi bật của gà Đông Tảo. Diễn biến phát triển của chân gà Đông Tảo từ 5 – 24 tuần tuổi được mô tả trên hình 3 và 4.

3.1.3. Tiêu tốn thức ăn

Lượng thức ăn thu nhận tăng dần lên theo tuần tuổi (Hình 5). Trong 12 tuần đầu nuôi bằng thức ăn hỗn hợp, gà Đông Tảo có mức thu nhận tăng dần từ 7 g/con/ngày lên 69 g/con/ngày. Từ tuần thứ 13 – 19, gà được nuôi bằng thức ăn tinh tự trộn của nông hộ, mức thu nhận tăng dần từ 71 g/con/ngày lên 86 g/con/ngày. Từ tuần 20 – 24, khoảng 1/3 khẩu phần thức ăn tinh được thay bằng rau xanh, mức thu nhận thức ăn (tính quy đổi theo thức ăn tinh) tăng từ 87 g/con/ngày lên 150 g/con/ngày. Bình quân thu nhận thức ăn từ 1 – 24 tuần là 105 g/con/ngày.

Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng tăng dần từ 1 – 24 tuần tuổi (Hình 6). Trong 12 tuần đầu nuôi bằng thức ăn hỗn hợp, gà Đông Tảo có mức tiêu tốn thức ăn tăng từ 2,3 – 3,5 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Từ tuần thứ 13 – 19, gà được nuôi bằng thức ăn tinh tự trộn của nông hộ, mức tiêu tốn thức ăn tăng từ 3,8 – 6,5 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Từ tuần 20 – 24, khoảng 1/3 khẩu phần thức ăn tinh được thay bằng rau xanh, mức tiêu tốn thức ăn (tính quy đổi theo thức ăn tinh) tăng từ 7,0 – 8,7 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Bình quân tiêu tốn thức ăn từ 1 – 24 tuần là 4,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.

Theo Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Xuân Linh (2006), gà Hồ giết thịt ở 12 tuần tuổi khối lượng 1.350,2 g đối với con trống và 1.250,2 g đối với con mái, con trống và con mái có tỷ lệ thân thịt tương ứng là 72,67 và 70,79%; thịt lườn 18,64 và 19,69%, thịt đùi 24,65 và 23,41%. Gà địa phương lông cằm nuôi tại Lục Ngạn, Bắc Giang giết thịt ở 15 tuần tuổi với khối lượng 1.903,3g đối với con trống và 1.430,0 g đối với con mái, con trống và con mái có tỷ lệ thân thịt tương ứng là 69,60 và 68,40%; thịt lườn 14,39 và 15,27%, thịt đùi 22,25 và 22,34% (Nguyễn Bá Mùi và cs., 2012). Gà nhiều ngón giết thịt ở 16 tuần tuổi với khối lượng 1.840,0g đối với con trống và 1.046,7g đối với con mái, có tỷ lệ thân thịt tương ứng là 70,32 và 67,19%; thịt lườn tương ứng là 17,22 và 17,02%, tỷ lệ thịt đùi 18,13 và 17,97% (Nguyễn Hoàng Thịnh và cs., 2016). Mặc dù chế độ nuôi và tuổi giết thịt ảnh hưởng tới năng suất thịt nhưng các chỉ tiêu về năng suất thân thịt khi giết mổ cho thấy so với một số giống gà địa phương khác, gà Đông Tảo là các giống gà có năng suất thịt khá cao.

Độ sáng thịt đùi và thịt lườn của gà Đông Tảo tương ứng là 53,71 và 59,72 (P < 0,05). Màu đỏ thịt đùi và thịt lườn của gà Đông Tảo tương ứng là 13,76 và 8,20 (P < 0,05). Như vậy, so với thịt lườn, thịt đùi của gà Đông Tảo có màu sẫm hơn và đỏ hơn.

Theo Haščík et al. (2015), gà Ross 180 nuôi tại trạm kiểm tra năng suất, khi giết mổ ở 180 ngày tuổi, thịt đùi và thịt lườn có độ dai là tương ứng là 1,33 và 1,97 kg/cm2 . Gà Hồ lai Mía, Lương Phượng có độ dai thịt đùi và thịt lườn tương ứng là 3,06 và 2,90 kg/cm2 (Bùi Hữu Đoàn và Hoàng Thanh, 2011). Độ dai thịt đùi và thịt lườn của gà Đông Tảo tương ứng là 37,14 và 28,66 N/cm2 (P < 0,05) (Bảng 3) hoặc 3,79 và 2,92 kg/cm2 . Như vậy, thịt gà Đông Tảo có độ dai cao hơn so với các loại thịt gà khác trong các công bố trên.

4. KẾT LUẬN

Gà Đông Tảo nuôi bán chăn thả tại các nông hộ, sau 24 tuần tuổicó tỷ lệ nuôi sống 86,4%; con trống và con mái có khối lượng cơ thể lần lượt là: 2.584,76 và 2.188,95g; mức thu nhận và tiêu tốn thức ăn tương ứng là 105 g/con/ngày và 4,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng; các chỉ tiêu về năng suất thịt khi giết mổ cao hơn nhiều so với các giống gà địa phương khác (các tỷ lệ thân thịt, lườn, đùi và mỡ bụng lần lượt là: 66,76; 15,39, 23,40 và 1,62%, con trống không có mỡ bụng). Thịt gà Đông Tảo thuộc loại thịt bình thường, có màu đỏ và dai, thịt đùi là sẫm màu hơn, đỏ hơn và dai hơn so với thịt lườn.

Lê Thị Thắm 1* , Ngô Xuân Thái1 , Vũ Văn Thắng1 , Đào Thị Hiệp 2 Đoàn Văn Soạn 3 , Vũ Đình Tôn2 , Đặng Vũ Bình2

1 Sở Khoa học và Công nghệ Hưng Yên, 2Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, 3Trường Đại học Nông lâm Bắc Giang

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nuôi Gà Thả Vườn Kiểu Mới Nâng Cao Chất Lượng Và Năng Suất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!