Đề Xuất 2/2023 # Sông Lô Triển Khai Các Giải Pháp Khôi Phục Và Phát Triển Chăn Nuôi Trước Diễn Biến Phức Tạp Của Dịch Bệnh Và Biến Động Của Thị Trường # Top 8 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 2/2023 # Sông Lô Triển Khai Các Giải Pháp Khôi Phục Và Phát Triển Chăn Nuôi Trước Diễn Biến Phức Tạp Của Dịch Bệnh Và Biến Động Của Thị Trường # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sông Lô Triển Khai Các Giải Pháp Khôi Phục Và Phát Triển Chăn Nuôi Trước Diễn Biến Phức Tạp Của Dịch Bệnh Và Biến Động Của Thị Trường mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tin tức

»

Tin sở ngành, địa phương

Sông Lô triển khai các giải pháp khôi phục và phát triển chăn nuôi trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh và biến động của thị trường

Những năm qua, ngành chăn nuôi của huyện Sông Lô có bước tăng trưởng khá, tốc độ phát triển nhanh theo hướng hàng hóa. Tuy nhiên, hiện nay, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi đang ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi của huyện. Để từng bước phát triển chăn nuôi bền vững, huyện Sông Lô đã tập trung chỉ đạo, từng bước khôi phục và phát triển ổn định chăn nuôi trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh và biến động của thị trường.

Từ 2015 đến nay, chăn nuôi của huyện có bước chuyển biến tích cực, tỷ trọng chăn nuôi trong ngành nông nghiệp huyện ước đạt 55,8%. Nhiều giống vật nuôi mới có tiềm năng năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất như các giống bò ngoại, lợn ngoại, gia cầm hướng trứng, hướng thịt…. đã tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cung cấp cho nhu cầu sử dụng trong huyện và các địa phương trong cả nước.

Trên địa bàn đã hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung ngày càng rõ nét như chăn nuôi gà thịt, gà đẻ trứng ở các xã: Quang Yên, Lãng Công, Đồng Quế, Tân Lập, Đồng Thịnh, Cao Phong; chăn nuôi lợn thịt ở các xã Lãng Công, Đồng Quế, Hải Lựu; nuôi vỗ béo bò thịt ở xã Cao Phong, Đồng Thịnh, Hải Lựu. Số hộ nuôi quy mô theo hướng trang trại chăn nuôi ngày càng tăng. Theo số liệu tổng hợp tại thời điểm tháng 5/2020, toàn huyện có 4 trang trại nuôi lợn gia công cho Công ty CP với quy mô từ 1.100 con đến 2.400 con/ trại; 79 hộ có quy mô nuôi từ 50 lợn thịt trở lên; có 24 hộ nuôi từ 20 con lợn nái trở lên; 4 trang trại chăn nuôi gà gia công cho Công ty CP, 86 hộ nuôi gà thịt với quy mô từ 1.000-5.000 con, 11 hộ nuôi gà đẻ từ 1.000 -5.000 con. Chăn nuôi là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ nông dân trong huyện.

Tuy nhiên, hiện nay tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi diễn biến hết sức phức tạp và đã có ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi. Trong khi đó, nguồn lợn giống trên địa bàn tỉnh chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, phải nhập thêm từ tỉnh ngoài cùng với ảnh hưởng của điều kiện thời tiết bất lợi, nắng nóng kéo dài làm giảm sức đề kháng của đàn lợn khiến bệnh dịch tả lợn châu Phi có nguy cơ cao tái phát và lây lan, nhất là ở quy mô chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ.

Để khôi phục và phát triển chăn nuôi trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh và biến động của thị trường, huyện Sông Lô tiếp tục chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; tuyên truyền, phổ biến người chăn nuôi trên địa bàn áp dụng nghiêm ngặt quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Tập trung chỉ đạo sản xuất chăn nuôi theo hướng ưu tiên phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, tập trung, công nghiệp; đối với những người chăn nuôi nhỏ lẻ, các hộ dân sẽ tập hợp lại thành các tổ hợp tác, hợp tác xã, tiến tới sản xuất chăn nuôi theo hướng hàng hóa.

Bích Ngọc

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật

(13/08/2020)

Hội LHPN các cấp với hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp

(12/08/2020)

Gần 800 chương trình trong “Tháng khuyến mại tập trung quốc gia 2020”

(12/08/2020)

Ngành Y tế phấn đấu đạt 15 bác sỹ/vạn dân trong nhiệm kỳ 2020 – 2025

(11/08/2020)

Công an huyện Sông Lô tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh trật tự

(11/08/2020)

Các tin đã đưa ngày:

Hợp Tác&Amp; Phát Triển Chăn Nuôi Của Cty Tnhh Mtv Gà Giống Dabaco

Theo số liệu thống kê, cả nước có gần 10.000 HTX nông nghiệp (trong đó chủ yếu là HTX trồng trọt, chăn nuôi) và khoảng 140.000 tổ hợp tác với trên 2,3 triệu thành viên tham gia. Tổ hợp tác hình thành và phát triển rộng khắp trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, tuy nhiên tập trung lớn vẫn là trong nông nghiệp. Kinh tế hợp tác luôn được Đảng và Nhà nước xác định có vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành Luật HTX cùng nhiều quyết định, chính sách kịp thời hỗ trợ, khuyến khích các mô hình liên kết phát triển như: Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng; Chỉ thị 25/2008/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng; Chỉ thị 1965/CT-BNN-TT năm 2013 về việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo mô hình cánh đồng mẫu lớn; Quyết định 63/2010/QĐ-TTg và 65/2011/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông, thủy sản hoặc các cơ chế hỗ trợ tài chính, tín dụng để kết nối chuỗi… Các hình thức liên kết, các mô hình sản xuất mới ra đời đã mở ra hướng đi, tạo động lực mới trong sản xuất chăn nuôi. Khi mở rộng hình thức liên kết trong HTX (liên kết giữa nhà nông, nhà nước, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp – liên kết 4 nhà), người chăn nuôi sẽ tránh được tình trạng sản xuất manh mún. Một số mô hình liên kết sản xuất, dịch vụ nông nghiệp ở các tỉnh phía Bắc có sự gắn kết của các “nhà” đã thành công, như Sơn La, Nam Định, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình… Kinh nghiệm của nhiều nơi đã thành công là các chính sách hỗ trợ của nhà nước, thay vì hỗ trợ trực tiếp cho các nông hộ cần chuyển hỗ trợ thông qua nhóm hộ hoặc HTX. Qua khảo sát, đánh giá cho thấy hiệu quả chăn nuôi của các HTX đã mang lại lợi nhuận tốt cho người chăn nuôi

Nông dân liên kết với DN để tạo chuỗi giá trị hiệu quả kinh tế cao.

Tham gia vào liên kết chuỗi, người chăn nuôi phải trở nên chuyên nghiệp hơn mới có thể bắt kịp quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu

Mô hình này là việc Cty TNHH MTV gà giống DABACO liên kết với nông dân Cty TNHH MTV gà giống DABACO đóng vai trò ứng dụng KHKT, đảm bảo thị trường tiêu thụ; còn nông dân nhận khoán và được hỗ trợ quá trình sản xuất chăn nuôi…

Với hình thức liên kết này, Cty TNHH MTV gà giống DABACO cung ứng con giống, thức ăn, hỗ trợ kỹ thuật, thuốc thú y và bao tiêu toàn bộ sản phẩm; người chăn nuôi xây dựng chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải theo yêu của DN, tổ chức sản xuất và nhận tiền công theo hợp đồng ký kết. Hoặc người chăn nuôi xây dựng chuồng trại, CTY & người chăn nuôi cùng góp vốn Hợp tác chăn nuôi. Mô hình liên kết này giúp người chăn nuôi giảm thiểu rủi ro , tận dụng thế mạnh về con giống, thức ăn, khoa học kỹ thuật, đầu ra của CTY

ĐC liên hệ: Phòng HỢP TÁC & PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI – Cty TNHH MTV Gà giống DABACO

Phát Triển Chăn Nuôi Gà Ở Các Tỉnh Vùng Tây Nguyên

[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong mười năm qua đàn gà ở Tây Nguyên phát triển tương đối ổn định và có xu hướng tăng nhanh trong hai năm gần đây, năm 2019 đàn gà tại khu vực Tây Nguyên đạt 21,938 triệu con, trong đó chăn nuôi gà thịt là chủ yếu chiếm tới 76,12%, gà đẻ trứng là 23,88%.

Trong khu vực Tây Nguyên thì Đắk Lắk là tỉnh có lượng gà lớn nhất đạt 10,8 triệu con chiếm gần 49% số lượng gà cả vùng và là tỉnh có số lượng gà đứng thứ 10 cả nước. Sau tỉnh Đắk Lắk là tỉnh Lâm Đồng có số lượng đàn gà chiếm 22% tổng đàn gà của vùng Tây Nguyên.

Tốc độ phát triển đàn gà tại khu vực Tây Nguyên tăng nhanh trong năm vừa qua một phần nguyên nhân là do sau dịch tả lợn Châu Phi người dân không dám tái đàn mà chuyển sang chăn nuôi gà.

Nuôi gà thịt công nghiệp phát triển ở tỉnh Đắk Lắk hơn so với cả bốn tỉnh còn lại trong vùng Tây Nguyên. Năm 2019 số lượng gà thịt nuôi công nghiệp của tỉnh Đắk Lắk chiếm tới 64,49% tổng đàn gà thịt công nghiệp trong vùng, sau đó đến tỉnh Lâm Đồng số lượng gà thịt nuôi công nghiệp chiếm 18,35% tỉnh Đắk Nông gà thịt công nghiệp chiếm 10,29%,hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai và Kon Tum tỉ lệ này là 3,49% và 3,38% tổng đàn gà thịt trong vùng tương ứng (Thống kê chăn nuôi, 2020).

Đối với gà đẻ trứng nuôi công nghiệp thì Lâm Đồng có số lượng gà đẻ trứng công nghiệp cao nhất chiếm 49,48% số lượng gà đẻ công nghiệp trong vùng, Đắk Lắk chiếm 46,42%, ba tỉnh Kon Tumn Gia Lai, Đắk Nông chỉ chiếm 1,97%, 1,49% và 0,65% tổng đàn gà đẻ trong vùng tương ứng.

Đặc điểm và năng suất của các cơ sở chăn nuôi gà tại Tây Nguyên

Kết quả phân tích thành phần chính PCA đã phân các cơ sở chăn nuôi gà vùng Tây Nguyên thành hai nhóm chăn nuôi (P<0,001), trong đó nhóm thứ nhất có 200 cơ sở nuôi gà là nhóm nuôi quy mô nhỏ (chăn nuôi nông hộ) chiếm tới 94,34% số hộ điều tra và nhóm thứ hai nuôi gà quy mô lớn (chăn nuôi trang trại) chỉ có 12 cơ sở chỉ chiếm 5,66% số cơ sở điều tra.

Các trang trại chăn nuôi với quy mô khá lớn, trại có quy mô nhỏ nhất là 2.000 con/lứa và nhiều nhất là 8.000 con/lứa. Trong số 12 trang trại có 6 trại chăn nuôi gà đẻ trong đó có 4 trang trại chỉ nuôi gà đẻ và 2 trang trại vừa nuôi gà đẻ vừa nuôi gà thịt. Có 6 trang trại chỉ nuôi gà thịt. Ở các nông hộ quy mô đàn gà trung bình là 97,02 con/lứa và chủ yếu là nuôi gà thịt (171 hộ chiếm 85,5%).

Các trang trại chăn nuôi quy mô lớn chủ yếu nuôi các giống gà đẻ siêu trứng như giống gà Isa-Brown, Hyline, Ai Cập… Các nông hộ nhỏ với quy mô trung bình là 82,63 con/lứa chủ yếu sử dụng các giống gà đẻ là giống gà địa phương hoặc gà lai như gà Ri, gà H’Mông, lai Lương Phượng,…Đối với chăn nuôi gà thịt tại vùng Tây Nguyên, các cơ sở chăn nuôi sử dụng các giống gà thịt lông màu có nguồn giống tương đối đa dạng từ các công ty như: Minh Dư, Cao Khanh, Dabaco, Japfa, CP… với thời gian nuôi từ 3-4 tháng.

Năng suất trứng của gà nuôi trong trang trại cao hơn so với gà nuôi trong nông hộ. Nhóm chăn nuôi trang trại sản lượng trứng/mái/năm cao hơn nuôi trong nông hộ (P <0,01). Điều này là do gà nuôi trong các trang trại sử dụng giống gà chuyên đẻ trứng, đồng thời đượcđầu tư tốthơn về cơ sở chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi, thú y.Các nông hộ thường nuôi gà đẻ giống kiêm dụng, gà lai năng suất trứng là thấp hơn giống gà chuyên trứngvà đầu tư cho chăn nuôi như chuồng nuôi, thức ăn chăn nuôi và kỹ thuật chăn nuôi thấp hơn so với chăn nuôi trang trại.

Thời gian khai thác trứng ở các trang trại kéo dài hơn khoảng 2,77 tháng so với nhóm nuôi quy mô nông hộ (P<0,05).Thời gian khai thác, năng suất trứng cao hơn nên tiêu thốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng ở nhóm nuôi quy mô trang trại là thấp hơn so với nhóm nuôi nông hộ (P <0,05).

Hoàng Thị Anh Phương & cs. (2018) khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của gà lai (Tam Hoàng x (Ri x Mía)) được nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp có khối lượng trung bình lúc 16 tuần tuổi là 2,17kg, tiêu tốn thức ăn 3kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Mai Thị Xoan (2014) cho biết gà Lương Phượng nuôi tại Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk có khối lượng trung bình lúc 11 tuần tuổi là 2,09kg với mức tiêu tốn 2,69kg thức ăn/kg tăng khối lượng.

Có ba hình thức sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gà đẻ và chăn nuôi gà thịt là sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, thức ăn phối trộn, thức ăn công nghiệp và thức ăn phối trộn.

Hình thức sử dụng thức ăn công nghiệp là phổ biến trong chăn nuôi quy mô trang trại. Tất cả các trang trại chăn nuôi gà đẻ trứng đều sử dụng thức ăn công nghiệp (100%) và 87,5% đối với trang trại nuôi gà thịt. Trong nhóm chăn nuôi gà thịt quy mô trang trại chỉ có một trang trại sử dụng thức ăn công nghiệp kết hợp với thức ăn tựphối trộn. Những cơ sở chăn nuôi sử dụng thức ăn hỗn hợp công nghiệp và thức ăn tự phối trộn thường sử dụng thức ăn công nghiệp cho gà giai đoạn gà đến 1 hoặc 2 tháng tuổi và trước khi xuất bán 1 thángngười chăn nuôi thường sử dụng thức ăn tự phối trộn giữa ngô, cám gạo… với thức ăn đậm đặc nhằm cải thiện chất lượng thịt.

Ngược lại với quy mô trang trại, ở nhóm nuôi quy mô nông hộ sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp chỉ có 7 hộ nuôi gà đẻ chiếm 17,07% số hộ nuôi gà đẻ và có 15 hộ nuôi gà thịt chiếm 8,77% số hộ nuôi gà thịt trong nhóm. Ở quy mô chăn nuôi nhỏ, đối với sinh sản hình thức nuôi gà bằng thức ăn công nghiệp kết hợp với thức ăn tự phối trộn là phổ biến với 60,98% tổng số hộ nuôi gà đẻ trong nhóm. Ở hình thức này giai đoạn úm gà từ 1- 4 tuần tuổi gà được nuôi bằng thức ăn hỗn hợp công nghiệp hoàn chỉnh sau đó chuyển sang giai đoạn sử dụng thức ăn tựphối trộn từ các nguyên liệu sẵn có như ngô, thóc, cám gạo với thức ăn đậm đặc công nghiệp. Còn đối với chăn nuôi gà thịt ở nhóm nuôi quy mô nhỏ hình thức nuôi gà bằng thức ăn tự phối trộn là phổ biến với 51,46% số hộ nuôi gà thịt trong nhóm.

Tình hình dịch bệnh ở đàn gà

Tình hình dịch bệnh trong các cơ sở chăn nuôi gà điều tra được trình bày cho thấy, vào mùa mưa tỷ lệ gà mắc bệnh cao hơn so với mùa khô, cụ thể số cơ sở chăn nuôi có gà đẻ và gà thịt mắc bệnh lần lượt là 13 hộ và 38 hộ (chiếm 27,66% số hộ nuôi gà đẻ và 21,23% số hộ nuôi gà thịt). Đối với mùa khô, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn, có 9 hộ nuôi gà đẻ (chiếm 19,15%) và gà thịt là 25 hộ (chiếm 13,97%).

Có 5 loại bệnh mà đàn gà đẻ tại Tây Nguyên mắc phải ở cả 2 mùa là bệnh Newcastle, bệnh cúm gia cầm, bệnh tụ huyết trùng, bệnh CRD và bệnh Gumboro. Riêng mùa mưa, thì gà đẻ mắc thêm bệnh Marek. Ở mùa khô, bệnh phổ biến trên gà ở các cở sở nuôi gà đẻ là bệnh Newcastle với tỷ lệ hộ có gà mắc là 10,64%. Còn ở mùa mưa, bệnh trên gà đẻ phổ biến hơn là là bệnh CRD (chiếm 21,28%), sau đó đến bệnh tụ huyết trùng (chiếm 14,89%).

Bệnh trên gà thịt nuôi tại vùng Tây Nguyên ngoài các bệnh gặp phải giống như trên gà sinh sản thì trên gà thịt còn có bệnh marek xảy ra ở cả hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Ở mùa khô, bệnh trên đàn gà thịt phổ biến nhất là bệnh CRD với tỷ lệ là 10,29%. Mùa mưa bệnh trên đàn gà thịt phổ biến nhất là bệnh CRD với tỷ lệ 16,20%, tiếp đến là bệnh tụ huyết trùng 12,85% và bệnh Newcastle là 9,5%.

Kết quả điều tra tỉ lệ số hộ tiêm phòng cho đàn gà là thấp, tỉ lệ hộ tiêm phòng cho gà đẻ là 34,04%. Tỉ lệ hộ tiêm phòng cho gà thịt mùa khô và mùa mưa lần lượt là 21,79% và 27,93%. Do vùng Tây Nguyên không bắt buộc tiêm phòng vác xin trên đàn gà, chủ yếu chỉ tuyên truyền vận động người chăn nuôi chủ động trong các tác tiêm phòng cho đàn gà nên tỉ lệ phòng bệnh cho đàn gà nuôi tại vùng Tây Nguyên là thấp.

Đối với gà thịt thì người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng bệnh ít nghiêm ngặt hơn, tỉ lệ hộ phòng bệnh Newcastle là cao nhất trong các bệnh và người chăn nuôi thường chỉ phòng 1 lần bằng cách nhỏ vác xin lasota và không tiêm vác xin nhắc lại lần 2. Do phòng bệnh bằng nhỏ lasota dễ làm và làm khi gà còn nhỏ nên dễ bắt gà hơn.

Có thể thấy công tác phòng cho đàn gà trong các cơ sở chăn nuôi ở Tây Nguyên là chưa được coi trọng. Trong đó công tác phòng bệnh cho đàn gà là được các trang trại quan tâm nhiều hơn so với quy mô chăn nuôi nông hộ. Đây là những tiềm ẩn về nguy cơ đàn gà bị bệnh rồi bùng phát dịch bệnh và lây lan sang các hộ chăn nuôi khác.

Nguyễn Thị PhươngKhoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khoa Chăn nuôi Thú y, Đại học Tây Nguyên *Tác giả liên hệ: ntphuongcngc@gmail.com , Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Đức Điện, Vũ Đình Tôn

Nguồn: Kỷ yếu Khoa học và công nghệ chăn nuôi thú y định hướng phát triển bền vững

Đối tượng nghiên cứu là các cơ sở chăn nuôi gà tại năm tỉnh vùng Tây Nguyên gồm tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Thời gian nghiên cứu từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 12 năm 2019. Phương pháp chọn mẫu dựa trên phương pháp phân tầng, nghiên cứu được thực hiện trên cả năm tỉnh vùng Tây Nguyên.

Cách Nuôi Gà Con Mới Nở Khỏe Mạnh Và Phát Triển Tốt

Nuôi gà con mới nở như thế nào cho hiệu quả? Là một câu hỏi luôn nhận được sự quan tâm của bà con chăn nuôi gà. Có rất nhiều bà con thất bại cũng có không ít bà con thành công trong việc chăn nuôi gà. Và một trong những yếu tổ ảnh hưởng trực tiếp đến đến kết quả đó chính là cách nuôi gà con mới nở 1 – 3 tuần tuổi sao cho gà khỏe mạnh và phát triển tốt?

Hiểu được sự quan tâm của bà con chăn nuôi về vấn đề này, với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chăn nuôi gà nói chung và cung cấp gà giống tại Bình Định. Xin chia sẽ đến bà con một số kinh nghiệm trong chăn sóc gà mới nở. Mời bà con cùng theo dõi.!

Gà con mới nở hay gà con bà con mới mua về từ nơi cung cấp gà giống bà con có thể tham khảo cách chăm sóc sau đây:

Đây là giai đoạn gà con còn rất yếu bà con nên chú kỹ về công tác úm gà để đảm nhiệt độ phù hợp cho đàn gà (bà con tham khảo ở bên dưới). Đồng thời bà con cần cung cấp thức ăn và nước uống cho gà con hợp lý kèm với các loại thuốc vitamin, kháng sinh. Cụ thể như sau:

Bổ sung nước uống, đường Gluco, Permasol 500, Vitamin C: 50g đường Gluco, 1g Permasol, 1g VitaminC hòa với 1 lít nước cho gà uống để tăng sức đề kháng. Sau 2 giờ bà con thu máng uống lại và rửa sạch.

Thức ăn: Sau 2 – 3 giờ đổ thức ăn cho gà con chú ý nên chọn loại cám được chế biến với khả năng tiêu hóa thức ăn của gà con lúc này, không nên đổ thức ăn dày quá bởi vì gà con vừa ăn vừa bới.

7 ngày tuổi nhỏ chủng đậu và nhỏ Lasota cho gà.

14 ngày tuổi chộn kháng sinh Neomycin 1g/1kg thức ăn.

Đến giai đoạn 21 ngày tuổi bà con cần chú ý đến các yếu tố như nhiệt độ, môi trường, thức ăn ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn gà, chất lượng đàn gà, mọi vận dụng như máng ăn, máng uống phải giữ gìn vệ sinh, rửa sạch khi cho thức ăn mới, lượng thức ăn vừa đủ, tránh để thức ăn lâu ôi thiu kém chất lượng.

24 ngày tuổi nhỏ Lasota lần 2 để đàn gà phát triển mạnh.

Thời gian cho ăn gà trong ngày: Bà con nên cho ăn từ 3 – 4 lần / ngày. Bà con chú ý đảo điều thức ăn đổ vừa đủ lượng thức ăn vào máng.

Cách úm gà con mới nở hiệu quả

Tại sao cần úm gà con mới nở?

Đây là khâu vô cung quan trọng và bắt buộc bà con phải thực hiện và tuân thủ các kỹ thuật để úm gà đạt hiệu quả nhất. Nếu khâu này bà con làm không tốt sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng đàn gà sau này. Nếu để gà con mới nở trong những tuần đầu thiếu nhiệt, gà sẽ yếu dần, tỷ lệ chết cao.

Kỹ thuật úm gà con mới nở:

Vệ sinh sạch sẽ nơi xác định úm gà, dùng formol 2% hoặc Crezin, Hanlamid để sát trùng. Dưới nền nơi úm gà bà con dùng một lớp trầu dày khoảng 10 – 15 cm phủ lên toàn bộ bề mặt. Tiếp đến bà con dùng cót cao để vây xung quanh. Tùy vào số lượng đàn gà con mà bà con lựa chọn đường kính vòng quay phù hợp. Trong chuồn bà con trang bị một số đồ thiết yếu như: máng ăn, máng uống, đèn sưởi….

Mật độ chuồng nuôi thích hợp:

Điều chỉnh nhiệt sưởi cho gà:

Bà con căn cứ và mùa vụ và thời tiết nơi nuôi gà mà điều chỉnh nhiệt độ sưởi cho đàn gà con phù hợp. Thông thường ở giai đoạn đầu từ 22 – 28 ngày tuổi, bà con điều chỉnh nhiệt độ theo độ mọc lông của đàn gà.

Đồng thời bà con nên chú ý quan sát đàn gà với các biểu hiện như: gà tụm lại xung quanh nguồn nhiệt, kêu chiếp chiếp không ăn là thiếu nhiệt. Gà tản xa nguồn nhiệt, há miệng thở là thừa nhiệt. Gà đi lại nhanh nhẹn ăn uống bình thường là nhiệt thích hợp.

Nhiệt độ sưởi thích hợp cho gà con:

Thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng cũng rất quan trọng đối với gà con. Nếu sử dụng hợp lý sẽ có tác dụng làm gà tăng trưởng và kích thích cơ thể phát triển tốt.

Cảm ơn bà con đã theo dõi và đọc bài viết.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sông Lô Triển Khai Các Giải Pháp Khôi Phục Và Phát Triển Chăn Nuôi Trước Diễn Biến Phức Tạp Của Dịch Bệnh Và Biến Động Của Thị Trường trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!