Đề Xuất 2/2023 # Thuốc Om Gà Chọi Đinh Phát Tại Hưng Yên # Top 2 Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Đề Xuất 2/2023 # Thuốc Om Gà Chọi Đinh Phát Tại Hưng Yên # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thuốc Om Gà Chọi Đinh Phát Tại Hưng Yên mới nhất trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thương hiệu:

Mã sản phẩm: 5656193963

Trạng thái:

Còn hàng

thuốc om gà chọi đinh phát đã được bán 1 sản phẩm. Bạn cần thỏa thuận riêng với shop trước khi đặt hàng vì shop vẫn chưa được xác thực. Kho hàng của sản phẩm được giao từ Hưng Yên

140,000đ

140,000đ

Tới nơi bán

Bài Thuốc Om Gà Chọi

1.KHƯƠNG HOÀNG (Củ nghệ)

Tên khoa học: Curcuma longa L.

Tên thông thường: Củ Nghệ vàng

Bộ phận dùng: Củ.

Tính vị: Vị cay, đắng, tính ấm.

Quy kinh: Vào kinh Can, tỳ

Tác dụng: Hành khí hoạt huyết. Thúc đẩy kinh nguyệt và giảm đau.

Chủ trị: Trị cánh tay đau, té ngã bị tổn thương.

– Khí huyết ngưng trệ biểu hiện đau ngực, bế kinh và đau bụng: Khương hoàng hợp với Ðương qui, Uất kim, Hương phụ và Diên hồ sách.

– Chứng phong thấp ứ trệ biểu hiện cổ cứng, đau vai gáy và giảm cử động chi: Khương hoàng hợp với Khương hoạt và Ðương qui.

Bào chế: Đào củ vào mùa thu hoặc mùa đông. Sau khi cạo vỏ và bỏ những củ xơ, củ được rửa sạch, đồ chín, phơi nắng cho khô và thái miếng.

Liều dùng: 5-10g

Tên khoa học: Pheritima asiatica michaelssen.

Họ Cự Dẫn (Megascolecidae)

Bộ phận dùng: cả con. Đào lấy thứ khoang cổ, tức là giun già,hay ở chỗ mô đất hoặc nền đình chùa, nhiều nhất ở gốc bụi chuối lâu năm. Muốn dễ bắt giã lá Nghệ răm ngâm nước đổ lên, có giun thì nó trườn lên. Không dùng thứ giun tự bò lên mặt đất giun có bệnh.

Tính vị: vị mặn, tính hàn.

Quy kinh: Vào ba kinh vị, Thận và đại trường.

Tác dụng: làm thuốc thanh nhiệt, lợi thuỷ

Chủ trị: Trị thương hàn phục nhiệt ( nhiệt ẩn nấp trong cơ thể) điên cuồng, to bụng, hoàng đản, còn trị ác sang, sốt rét (cấp, mạn), kinh phong, tràng nhạc v.v…

– Co giật và co thắt do sốt cao: Dùng Địa long với Câu đằng, Bạch cương tàm và Toàn yết.

– Hội chứng ứ bế thấp nhiệt biểu hiện như các khớp đau, đỏ và sưng và suy yếu vận động: Dùng Địa long với Tang chi, Nhẫn đông đằng và Xích thược.

– Hội chứng ứ phong-hàn-thấp biểu hiện như các khớp đau và lạnh kèm suy yếu vận động: Dùng Địa long với Thảo ô và Thiên nam tinh trong bài Tiểu Hoạt Lạc Đơn.

– Bán thân bất toại do tắc kinh lạc, do thiếu khí và ứ máu: Dùng Địa long với Đương qui, Xuyên khung và Hoàng kỳ trong bài Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang.

– Tích nhiệt ở bàng quang biểu hiện như đi tiểu ít: Dùng Địa long với Xa tiền tử và Mộc thông.

– Hen: Dùng Địa long với Ma hoàng và Hạnh nhân.

Liều dùng: Ngày dùng 6 – 12g.

Cách bào chế:

Theo Trung Y:

– Lấy 16 lạng giun đất, ngâm nước vo gạo nếp một đêm, vớt ra tẩm rượu một ngày, sấy khô, cho lẫn xuyên tiêu, gạo nếp mỗi thứ 2 đồng rưỡi rồi sao chung. Hễ gạo nếp chín vàng là được (Lôi Công Bào Chích Luận).

– Hay dùng nướng khô tán bột, hoặc lẫn muối vào cho hoá ra nước, hoặc đốt tồn tính, hoặc để sống giã nát, tuỳ theo trường hợp mà dùng (Bản Thảo Cương Mục).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Bắt lấy giun khoang cổ, rửa sạch, dùng dao tre xâu vào đầu nó, lách dọc một đường, rửa sạch trong ruột, nhúng vào nước ấm cho nó hơi cứng và bớt nhớt, phanh nó trải lên giữa nong hoặc nia mà phơi, thấy hơi se thì mang vào

sấy khô, giòn, cất kín, hoặc mang bán cho hiệu thuốc. Khi dùng lấy giun khô tẩm rượu hoặc tẩm gừng sao qua dùng hoặc tán bột.

– Cũng bắt giun khoang cổ, ngâm nước vo gạo một đêm, rửa sạch, lại nhúng vào nước ấm cho nó hơi săn lại, rồi mang phơi khô nửa chừng, lấy vào bắt vuốt từng con cho nó đẹp và thẳng ra rồi sấy nhẹ cho khô giòn. Khi dùng cũng tẩm rượu hoặc gừng sao qua như trên.

Bảo quản: dễ bị sâu, cần để nơi kín, khô ráo.

Liều dùng: 5-15g (10-20g ở dạng tươi).

Kiêng kỵ: người hư hàn mà không thực nhiệt thì kiêng dùng.

Tên khoa học: Cinamomum cassia Presl.

Bộ phận dùng: Vỏ gốc hoặc vỏ khô của thân cây.

Tính vị: Vị cay, ngọt, tính nóng.

Qui kinh: Vào kinh Thận, Tỳ, Tâm và Can.

Tác dụng: trừ lạnh và giảm đau, làm ấm kinh lạc và tăng lưu thông.

Chủ trị:

– Thận dương suy biểu hiện như lạnh chi, đau và yếu vùng ngang lưng và đầu gối, bất lực và hay đi tiểu: Dùng nhục quế với Phụ tử, Sinh địa hoàng và Sơn thù du trong bài Quế Phụ Bát Vị Hoàn.

– Tỳ Thận dương hư biểu hiện như đau lạnh ở thượng vị và vùng bụng, kém ăn, phân lỏng: Dùng Nhục quế với Can khương, Bạch truật và Phụ tử trong bài Quế Phụ Lý Trung Hoàn.

– Hàn tà ngưng trệ ở kinh lạc biểu hiện như đau lạnh thượng vị và bụng, đau lưng dưới, đau toàn thân, kinh nguyệt không đều, ít kinh nguyệt: Dùng Nhục quế với Can khương, Ngô thù du, Đương quy và Xuyên khung.

– Nhọt mạn tính: Dùng Nhục quế với Hoàng kỳ và Đương qui.

Bào chế: Cạo sạch lớp vỏ thô, rửa sạch, thái phiến, phơi trong râm cho khô hoặc tán bột.

Kiêng kỵ: Có thai không dùng. Kỵ lửa.

Tên khoa học: Aconitum sinense Paxt.

Họ Mao Lương (Ranunculaceae)

Bộ phận dùng: rễ cái (vẫn gọi là củ).

Rễ cái (còn gọi là củ mẹ): thu hái vào giữa hay cuối mùa xuân là tốt. Nếu để qua mùa thì củ teo và xốp. Thu hái về, cắt bỏ rễ con rửa sạch đất, phơi khô.

+ Ở Trung Quốc có nhiều loại cây Ô đầu: A.fortuei, A.chinense Paxt, A. carmichaeli, mang nhiều tên khác nhau: xuyên ô (mọc ở Tứ Xuyên), Thảo ô (mọc ở Giang Nam). Tuỳ theo sinh lý của củ, củ Ô đầu cũng có tên gọi khác nhau:

+ Ô nhuế: là Ô đầu có hai nhánh ở dưới đế giống như sừng trâu.

+ Trắc tử là vú lớn bên củ phụ tử.

+ Thiên hùng là Ô đầu dưới đất lâu năm không sinh đủ con.

+ Ở Việt Nam, mới phát hiện lại cây Ô đầu và trồng ở Lào Cai với những tên địa phương củ gấu tầu, củ ấu tầu, có Tên khoa học là A. forunei Hamsl (A. chinens Sieb).

+ Ở phương Tây, cây Ô đầu được trọng dụng nhất là cây A.napellus L không phân biệt dùng củ mẹ hay củ con, nhưng thu hái ở những thời gian khác nhau, củ mẹ vào cuối xuân, củ con vào cuối thu sang đông.

Nói chung, củ khô, to, da đen, thịt trắng ngà để vào lưỡi thấy tê, không đen ruột là tốt.

Thành phần hoá học: hoạt chất chính của củ Ô đầu là aconitin (chất gây tê đầu lưỡi) và các alcaloid khác. Ngoài ra còn tinh bột, đường, manit, chất nhựa, các acid hữu cơ.

Các cây Ô đầu nói chung đều rất độc (thuốc độc bảng A). Nhiều dân tộc các nước xưa và nay dùng Ô đầu tẩm độc săn bắn súc vật (kể cả voi). Độc là do chất aconitin của nó, uống 1 mg đến 1,5 mg có thể chết người. Trong củ Ô đầu rửa sạch phơi khô, người ta quy định phải có 0,5% alcaloid toàn phần phụ thuộc vào loại cây, từng địa phương thu hái, thời gian thu hái, cách chế biến và bảo quản . Đặc tính của aconitin là rất dễ thủy phân trong dung dịch nước hay cồn ở nhiệt độ thường và với thời gian bảo quản . Với sức nóng (như lùi trong tro nóng), nó càng dễ thuỷ phân để cho chất benzoylaconin (400 – 500 lần kém độc) rồi aconin (1.000 – 2.000 lần kém độc hơn). Do đó, ta có thể giải thích tại sao nhân dân các vùng có cây Ô đầu (Tứ Xuyên – Trung Quốc) dùng củ tươi nấu cháo ăn để trị phong thấp như cơm bữa mà không bị ngộ độc.

Tác dụng: trừ phong, táo thấp, trừ hàn, trợ dương, bổ hoả.

Chủ trị:

Theo Tây y: Làm thuốc trị ho, ra mồ hôi.

Theo Đông y: Trị đau nhức, mỏi chân tay, (dùng ngoài) đặc biệt dùng uống trong chứng bán thân bất toại, chân tay co quắp, mụn nhọt lâu ngày.

Liều dùng: Ngày dùng 3 – 4g để sắc.

Kiêng ky: không thật trúng phong hàn và phụ nữ có thai thì không nên dùng. Cách bào chế:

Theo Trung Y: Dùng Ô đầu sống hoặc nướng chín hoặc cùng nấu với đậu đen để giảm bớt độc tính tuỳ từng trường hợp (Bản Thảo Cương Mục).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Tán nhỏ ngâm rượu 5 – 7 ngày để xoa bóp, hoặc tán bột trộn với bột thuốc khác làm thuốc dùng ngoài, ít khi dùng trong.

Bảo quản: thuốc độc bảng A, để trong lọ kín, nơi khô ráo, mát.

Dễ mọt nên năng phơi sấy (không quá 70 – 80o), tránh nóng ẩm.

Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.)Diels

Họ Hoa Tán (Umbelliferae)

Bộ phận dùng: rễ (vẫn gọi là củ).

Thứ có thân và cả rễ gọi là Đương quy hay Toàn quy.

Thứ không có rễ gọi là Độc quy. Xuyên quy là quy mọc ở tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) là loại tốt hơn cả.

Lai quy: quy không thật giống.

Toàn quy thường chia ra:

+ Quy đầu (lấy một phần về phía đầu).

+ Quy thân (trừ đầu và đuôi).

+ Quy vĩ (lấy riêng phần rễ nhánh).

Quy có thịt chắc, trắng, hồng, củ to, nhiều dầu thơm không mốc mọt là tốt.

Thành phần hoá học: có tinh dầu (0,2%), chất đường và sinh tố B12.

Tính vị: vị cay, hơi ngọt, đắng, thơm, tính ấm.

Quy kinh: Vào ba kinh Tâm, Can và Tỳ.

Tác dụng: bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường.

Chủ trị:

+ Kinh nguyệt không đều, đau bụng, chấn thương, ứ huyết, tê nhức, huyết hư, sinh cơ nhục, đại tiện bí (dùng sống hay tẩm rượu).

+ Tỳ táo, Tỳ hàn, ăn ít, băng huyết (tẩm rượu sao):

+ Quy đầu: chỉ huyết, bổ.

+ Quy thân: dưỡng huyết

+ Quy vĩ: hành huyết.

– Thiếu máu, kinh nguyệt không đều: Dùng Đương quy với Bạch thược, Thục địa hoàng và Xuyên khung trong bài Tứ Vật Thang.

– Kinh nguyệt ít: Dùng Đương qui với Hương phụ, Diên hồ sách và Ích mẫu thảo.

– Vô kinh: Dùng Đương qui với Đào nhân và Hồng hoa.

– Chảy máu tử cung: Dùng Đương qui với A giao, Ngải diệp và Sinh địa hoàng. . Đau do chấn thương ngoài: Dùng Đương qui với Hồng hoa, Táo nhân, Nhũ hương và Một dược.

. Đau do nhọt và hậu bối: Dùng Đương qui với Mẫu đơn bì, Xích thược, Kim ngân hoa và Liên kiều.

. Đau bụng sau đẻ: Dùng Đương qui với Ích mẫu thảo, Táo nhân và Xuyên khung.

. Ứ trệ phong thấp (đau khớp): Dùng Đương qui với Quế chi, Kê huyết đằng và Bạch thược.

– Táo bón do khô ruột: Dùng Đương qui với Nhục thục dung và Hoả ma nhân

Liều dùng: Ngày dùng 4 – 28g.

Cách Bào chế:

Theo Trung Y: Rửa sạch bằng rượu, cắt bỏ đầu, thái mỏng, tẩm rượu một đêm.

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

– Rửa qua bằng rượu, nếu không có rượu rửa bằng ít nước cho nhanh, vẩy ráo nước ủ một đêm cho mềm, thường đem bào mỏng một ly (dùng sống), cách này thường dùng.

– Nếu rửa bằng nước và muốn để lâu, phải sấy nhẹ qua diêm sinh để chống mốc. Nếu bị mốc thì lấy rượu tẩy đi. Nếu quy bé, đồ qua cho mềm, xếp vào nhau, đập bẹp, ép thành miếng to rồi bào, sẽ được miếng quy to và đẹp.

– Có thể bào mỏng rồi đem tẩm rượu và nếu cần thì sấy nhẹ lửa. Có người pha rượu với mật ong (1/5) để làm dịu tính cay rồi tẩm.

– Có thể sau khi tẩm rượu thì sao qua (vi sao) để trị băng huyết.

Bảo quản: để nơi khô ráo, đựng trong hòm gỗ, có lót ít vôi sống, khi trời ẩm nên mở hòm cho thoáng gió. Khi sấy, phơi không dùng sức nóng quá là mất tinh dầu.

Chú ý: Đầu rễ có tác dụng bổ máu hơn. Phần cuối rễ tốt cho hoạt huyết. Phần thân rễ: hoạt huyết và bổ máu.

Khi dùng phối hợp Đương qui với rượu có thể làm tăngtác dụng bổ máu.

Kiêng ky: Tỳ thấp, tiêu chảykhông nên dùng.

Tên khoa học: Daemonorops, draco Bl.

Bộ phận dùng: dịch bài tiết mầu đỏ từ quả và thân.

Tính vị: vị ngọt, mặn, tính ôn.

Qui kinh: Vào kinh Tâm và Can.

Tác dụng: cầm máu chữa lành vết thương. Hoạt huyết và trừ ứ bế, giảm đau.

– Xuất huyết do chấn thương ngoài: Dùng Huyết kiệt tán nhuyễn rắc vào hoặc có thể phối hợp với Bồ hoàng.

– Loét mạn tính, Sưng và đau do ứ máu do chấn thương ngoài. Dùng Huyết kiệt với Nhũ hương và Một dược trong bài Thất Li Tán.

Bào chế: Thu hái vào mùa hè. Sấy hoặc hầm cho đến khi thành nhựa rắn, sau đó nghiền thành bột.

Liều dùng: 1-1,5g dưới dạng thuốc viên.

Kiêng kỵ: không dùng huyết kiệt khi không có dấu hiệu ứ huyết.

Tên Hán Việt khác: Vũ nát (Bản kinh), Vũ trạch (Biệt lục), Mã xĩ phàn (Bản thảo tập chú), Nát thạch (Cương mục), Minh thạch, Muôn thạch, Trấn phong thạch (Hòa hán dược khảo), Tất phàn, Sinh phàn, Khô phàn, Minh phàn, Phàn thạch.

Tên khoa học: Alumen, Sulfas Alumino Potassicus.

Tên gọi:

(1) Phàn có nghĩa là nướng, vị này do một loại khoáng chất nướng ra mà thành, nó có màu trong sáng nên gọi là Minh cho nên gọi là Minh phàn.

(2) Khi rang lên cho 1 vị xốp trắng nhẹ khô nên gọi là Khô phàn.

(3) Phàn là phèn, Minh là trong sáng, vị phèn có màu trong và sáng.

Mô tả:

Điều chế phèn chua từ nguyên liệu thiên nhiên là Minh phàn thạch, công thức K2S0, Sulfataluminium A12 (S04)3, A14(OH)3 có lần ít sắt nung Ming phàn thạch (Alunite) rồi hòa tan trong nước nóng, lọc và kết tinh sẽ được phèn chua, đó là loại muối có tinh thể to nhỏ không đều, khi thì một miếng to không màu hoặc trắng, có khi trong hay hơi đục, tan trong nước không tan trong cồn, Rang ở nhiệt độ cao phèn chua mất dần hết nước để thành Phèn phi, xốp nhẹ gọi là khô phàn (Alument Usium).

Sản địa:

Các nước đều có, Minh phàn thiên nhiên là một khối kết tinh hình 8 mặt màu trắng, vì lượng thiên nhiên ít nên phải cần nhân tạo mới đủ dùng.

Tác dụng:

Táo thấp, sát trùng, khử đàm, chỉ huyết, đồng thời lại còn có tác dụng làm mửa mạnh nhiệt đàm.

Tính vị, qui kinh:

Vị chua chát, tính lạnh Nhập kinh Tỳ.

Chủ trị, liều dùng:

NGứa âm hộ, đới hạ, ngứa lở (tán bột xức hoặc sắc rửa). Cổ họng sưng đau, đờm dãi nhiều, động kinh. Dùng từ 2-1 chỉ uống, ngoài dùng tùy thích.

Kiêng kỵ: Chứng ho âm hư cấm dùng. Không nên uống nhiều uống lâu.

Sơ chế: Nung đá Minh phàn (ALUNITE) sau đó hòa tan trong nước nóng, lọc và kết tinh, ngoài ra có thể chế phèn chua bằng cách nung đất sét cho tác dụng với ACID SULFURIC, rồi trộn với dung dịch KALI SULFAT rồi kết tinh. Dùng thứ trắng trong là thứ tốt.

Bào chế:

(1) Phương pháp ngày xưa:

Cho phèn chua vào nồi đất nung đỏ rực cả trong lẫn ngoài, lấy ra đậy kín lại, cho vào trong tàng ong lộ thiên mà đốt, cứ 10 lạng phèn thì 6 lạng tàng ong, đốt cháy hết để nguội lấy ra tán bột. Gói giấy lại, đào đất sâu 5 tấc, chôn 1 đêm rồi lấy ra dùng (Lôi Công).

– Không nấu thì gọi là sinh phàn, nấu khô cho hết nước gọi là Khô phàn. Nếu uống phải chế cho đúng cách (Lý Thời Trân).

(2) Phương pháp ngày nay dùng 1 chảo gang có thể tích chứa được gấp 5 lần thể tích muốn phi, để tránh phèn trào ra. Cho vào chảo đốt nóng đến khi chảy, nhiệt độ có tới 800-9000. Phèn bồng trào lên, cho đến khi nào không thấy bồng trào lên nữa thì rút lửa để nguội. Lấy ra cạo bỏ cái đen hoặc vàng bám bên ngoài chỉ lấy thứ trắng. Tán mịn. Phèn phi tan ít và chậm tan trong nước.

Bảo quản:

Cần tránh ẩm. Đựng kín trong lọ.

8. HOÀNG NÀNG (Mã tiền):( STRYCHNOS WALLICHIANA )

Mô tả : Dây leo, thân gỗ, có móc hoặc tua cuốn đơn hay kép. Lá mọc đối, có 3 gân. Cụm hoa hình chùy dạng ngù, mọc ở đầu những cành nhỏ. Hoa màu vàng nhạt. Quả thịt hình cầu, đường kính 4 – 7cm, có nhiều hạt dẹt. Hạt có lông mượt màu vàng ánh bạc. Tránh nhầm lẫn với nhiều loài Strychnos khác, cũng dạng dây leo. Phân bố : Cây mọc hoang ở miền núi.

Bộ phận dùng : Vỏ thân và vỏ cành, quả. Thu hái quanh năm. Phơi hoặc sấy khô. Thành phần hóa học : Vỏ thân chứa alcaloid toàn phần 5,23%, strychnin 2,37 – 2,43%, brucin 2,8%.

Công dụng : Chữa thấp khớp, đau nhức xương, chân tay co quắp tê cứng, đau lưng, đau hông, đau bụng, ỉa chảy. Còn làm cường dương. Uống tối đa 1 lần : 0,1g; 24 giờ : 0,40g dạng bột. Dùng ngoài chữa ghẻ, hủi và một số bệnh ngoài da khó chữa. Thuốc độc, không có kinh nghiệm không dùng.

10. Rượu: Chất hòa tan và dẫn thuốc

Như vậy bài thuốc om gà trên chủ trị trật đả, hành khí hoạt huyết và giảm đau (cơ cũng như xương) là khá hiệu quả. Cũng chính vì tác dụng hoạt huyết cao nên dùng om hàng ngày giúp gà khỏe là có cơ sở. Một sô vị thuốc có tính nóng, ấm nên giúp gà tiêu bớt mỡ dư và săn chắc, nhưng ngược lại để lâu (không xả thuốc) dễ dẫn đến nguy hại.

Mặc dù bài thuốc om này rất tốt cho gà chọi, đã được nhiều sư kê lão làng sử dụng và mang lại hiệu quả cao nhưng đối với nhiều anh em thì tìm đủ nguyên liệu kể trên cũng thật khó. Anh em đừng lo, hiện nay trên thị trường đã có một loại thuốc om mình đã dùng thử và thấy vô cùng hiệu quả đó là thuốc om trúc linh. Thuốc được đóng vào chai vô cùng tiện lợi, anh em chỉ cần mua về rồi quét lên gà theo đúng hướng dẫn là được.

Với thành phần 100% được làm từ thảo dược, không hóa chất, không gây tác dụng phụ, không ảnh hưởng đến gân gối.

– Giúp da gà đỏ khỏe, dày da

– Giúp gà điều hòa khí huyết, khỏe mạnh và nhanh hồi phục sau đá.

– Giúp trị mốc, lăng ben cho gà hiệu quả.

– Khử trùng, diệt độc và các kí sinh có hại trên ra gà.

– Rút mỡ và tăng nội lực cho gà.

– Hỗ trợ tan đòn, sát khuẩn vết thương sau khi đá.

– Giúp gà hồi phục nhanh sau khi bị ốm hay khi đá về.

Cách dùng hết sức đơn giản

Ngày Xuân Về Hưng Yên Xem Chọi Gà

Trong những ngày Tết ở Đông Mai, bất kể người nào có gà hay không, là người trong thôn hay thôn lân cận, thậm chí cả những “chủ gà” của tỉnh Bắc Ninh, hễ nghe thấy thôn nào nào có hội chọi gà là tìm đến vây quanh, xem và cổ vũ. Chủ gà nào muốn tham gia lễ hội phải đăng kí trước với ban tổ chức để được bốc thăm cặp thi đấu với mình.

Tùy theo số lượng gà tham gia chọi mà ban tổ chức sẽ có ít “xới” hay nhiều xới. Các xới được quây ở hai bên trước cổng sân đình, để sau khi làng tổ chức xong phần lễ, sẽ tiến hành phần hội với các trò chơi dân gian đặc sắc.

Ông Nguyễn Xuân Khu (Trưởng ban tổ chức lễ hội đình làng) cho biết: “Trò chơi chọi gà đã có từ lâu, nhưng năm 1997, nó mới chính thức là trò chơi có mặt trong lễ hội đình làng Đông Mai hàng năm và được tổ chức thành hội chọi gà. Thông thường, cứ 3 năm làng lại tổ chức hội lớn một lần, nhưng chọi gà thì hầu như năm nào cũng có. Các chủ gà chỉ cần hẹn nhau là có thể tập chung lại để thi đấu, nhưng đúng năm tổ chức hội thì hội chọi sẽ lớn hơn và số gà tham gia chọi sẽ nhiều hơn”.

Không chỉ ngày tết, ngày thường ở Đông Mai cũng có hội chọi gà. Bất cứ lúc nào rảnh rỗi là các chủ gà hẹn nhau chơi, vừa thi đấu giao hữu, vừa rèn luyện sức chiến đấu cho các “chú”.

Người chơi gà chọi phải là người có nhiều kinh nghiệm và đầu tư công phu về thời gian và công sức. Những người có “máu” chơi chọi gà thường lặn lội đi khắp nơi để tìm những giống gà nổi tiếng, như gà Đông Tảo, Cao Lãnh…

An Thắng – một chủ gà có tiếng ở làng – cho biết: “Dân chơi gà chọi thường có một câu truyền miệng về kinh nghiệm chọn gà. Đó là ‘đầu còng, mình cốc, mắt ốc, da chì, cánh vỏ trai…’. Những người chơi sành chỉ cần nhìn vào những đặc điểm này, nhìn vào tướng gà, dáng đi, màu sắc lông, chân gà, tiếng gáy là có thể kết luận về ‘sức chiến đấu’ của chú ta”.

Muốn có gà đá hay, người chơi gà chọi phải sành chọn giống, biết cách chăm sóc, “om bó” từ khi con gà đang còn nhỏ, rồi phải ra công tập luyện bằng cách cho “đấu giao hữu” để biết được những ưu khuyết điểm mà uốn nắn và phát huy.

Chọn được gà tốt, gà đá hay đã khó, nuôi gà chọi lại càng khó hơn. Theo anh Thắng, gà chọi phải có chế độ ăn uống riêng, đủ nước uống. Thức ăn ngoài ngô lúa còn phải có chất béo, đạm động vật. Trước ngày lên xới phải om bó, tẩm bổ bằng cách cho gà ăn những động vật có chứa nhiều chất đạm như lươn, tôm, cá… sống.

Vào cuộc đấu, mọi người khắp nơi đổ về vây quanh “xới”. Phải chọn xới trên bãi cỏ êm, không có đá sỏi, có khi phải trải chiếu. Nếu vào những ngày hội làng, các “xới” được tạo bằng những tấm cót chắn thóc, bên trong trải cát êm. Chơi gà chọi cũng cần phải có luật, phải căn cứ vào hạng cân, hạng tuổi mới cho các chú gà chọi thi đấu với nhau và phải có trọng tài giám sát.

Người xem chọi gà say sưa cổ vũ, bình phẩm từng cú đá hay, từng miếng mổ chuẩn xác, hiểm hóc, từng động tác di chuyển và ánh mắt nhìn “đối thủ” của gà. Nhiều khi người xem còn tỏ ra hào hứng và nhập cuộc một cách cuồng nhiệt để cổ vũ cho các “vận động viên”.

Những cặp đá hay và bền thường đá thông 7 – 8 hồ (mỗi hồ có thể 10 – 15 phút do trọng tài quy định). Nghỉ giữa các hồ, gia chủ phải dùng khăn tay móc nhớt trong họng, phun rượu và xoa nghệ những vết thương, rồi cho đấu hồ khác.

Gà vào cuộc thường “say đá” đến mức toạc đầu, gãy cánh, chảy máu mắt vẫn không chịu rời xới. Do đó có khi các chủ gà chọi phải dừng thi đấu và dùng kim chỉ khâu những vết rách ở chân hoặc cánh của gà lại rồi cho thi đấu tiếp. Nếu gà bị đá rời ra khỏi xới là thua cuộc. Những chú gà đá hay thường có máu bất khuất không chịu thua cuộc nên sẽ đấu hết mình.

Nếu các chủ gà chọi không muốn gà của mình bị thương nữa có thể xin thua và dừng thi đấu và cho gà về “dưỡng thương”. Cuối mỗi hội chọi sẽ có giải dành cho 3 chú gà có sức chiến đấu mạnh nhất và còn trụ tới hiệp cuối cùng. Kết thúc hội thi, các chủ gà lại đem về nuôi dưỡng, chăm sóc và rèn luyện sức chiến đấu để chờ tới hội làng năm sau.

Nhiều năm nay, thú chơi gà chọi trong ngày hội làng ở Đông Mai vẫn không hề mai một và được duy trì cho đến tận bây giờ. Nó không chỉ là một nét đẹp trong văn hóa truyền thống, mà còn thể hiện tinh thần thượng võ, ý chí bất khuất trong tính cách của người Việt Nam.

Phương Lam

Hưng Yên: Phát Triển Chăn Nuôi Gà Đông Tảo Lai An Toàn Sinh Học

Hưng Yên: Phát triển chăn nuôi gà Đông Tảo lai an toàn sinh học

Gà Đông Tảo lai là giống gà có nhiều ưu điểm như: dễ nuôi, sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon được thị trường ưa chuộng. Chính vì thế, những năm qua, bên cạnh giống gà Đông Tảo thuần chủng thì nhiều người dân trên địa bàn tỉnh dần chuyển hướng sang chăn nuôi gà Đông Tảo lai thương phẩm. Cùng với đó, nông dân đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học (ATSH).

Mô hình chăn nuôi gà Đông Tảo lai ở xã Phan Đình Phùng (thị xã Mỹ Hào)

Xã Việt Hưng (Văn Lâm) là địa phương có truyền thống chăn nuôi gà. Trên địa bàn xã có 60 – 70 hộ nuôi gà số lượng lớn từ 200 đến hàng nghìn con. Hiện nay, tổng đàn gà của xã là 117.000 con. Nông dân ở đây chủ yếu nuôi gà thương phẩm với 2 giống là gà lai ba máu và gà Đông Tảo lai.

Với kinh nghiệm 20 năm nuôi gà, gia đình ông Vũ Văn Nghề ở thôn Sầm Khúc, xã Việt Hưng hiện nuôi khoảng 1.500 con. Ông Nghề cho biết: “Gia đình tôi nuôi gà thương phẩm với 2 giống chủ yếu là gà ba máu và gà Đông Tảo lai. Từ khi áp dụng chăn nuôi theo hướng ATSH, việc sử dụng các chất liệu sinh học để lót chuồng đã phần nào bảo đảm vệ sinh chuồng trại cũng như giảm công lao động, giảm được dịch bệnh cho đàn gà”.

Theo tính toán của ông Nghề, từ ngày nhập gà Đông Tảo lai giống về nuôi đến ngày xuất chuồng từ 5 – 6 tháng, nhờ áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật nên đàn gà sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt trên 93%, trọng lượng trung bình đạt khoảng 3kg/con. Giá xuất tại chuồng dao động từ 90.000 – 100.000 đồng/kg, trừ chi phí, gà Đông Tảo lai cho lợi nhuận cao hơn từ 30.000 – 40.000 đồng/kg so với nuôi các giống gà thông thường. Lợi thế của việc chăn nuôi gà Đông Tảo lai là người chăn nuôi linh hoạt áp dụng hình thức nuôi nhốt chuồng hoặc thả vườn, kết hợp cho ăn thức ăn công nghiệp và các loại thức ăn sẵn có như: ngô, thóc, rau… vừa giảm chi phí đầu vào, vừa bảo đảm chất lượng thịt gà khi xuất bán.

Ông Đỗ Xuân Đạo, Chủ tịch Hội Nông dân xã Việt Hưng cho biết: “Chăn nuôi gà Đông Tảo lai theo hướng ATSH đã mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho tất cả hội viên nông dân trong xã. Nhờ hiệu quả rõ rệt nên nhiều hội viên khác trên địa bàn đã học tập và làm theo. Chúng tôi khuyến khích các hộ tiếp tục mở rộng quy mô, nâng số lượng đàn để nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế”.

Dẫn chúng tôi đi thăm mô hình nuôi gà Đông Tảo lai theo hướng ATSH tại gia đình mình, anh Trần Văn Hải ở tổ dân phố Kim Huy, phường Phan Đình Phùng (thị xã Mỹ Hào) cho biết: “Với diện tích chuồng trại trước đây dùng để nuôi lợn, từ tháng 5 vừa qua, tôi đã cải tạo và chuyển sang nuôi 200 con gà Đông Tảo lai. Nuôi gà theo hướng ATSH, tôi tuân thủ kỹ thuật như: gà được nuôi bằng cám vào giai đoạn 1 tháng đầu, thời gian sau thì cho ăn bằng các thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần. Một trong những điều người nuôi gà được khuyến cáo lưu ý là công tác vệ sinh phòng bệnh, trong quá trình nuôi cần bảo đảm cho gà “ăn sạch, ở sạch, uống sạch”.

Đến nay, đàn gà Đông Tảo lai của gia đình anh Hải đã đạt trọng lượng 2,7 – 3kg/con và có thể xuất bán. Với giá bán 95.000 – 100.000 đồng/kg, lứa gà này ước tính mang lại thu nhập trên 50 triệu đồng cho gia đình anh.

Theo số liệu của Phòng Chăn nuôi, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh, hiện nay, tổng đàn gà toàn tỉnh ước đạt trên 9 triệu con với 90% là gà lông màu (trong đó có 30 – 35% là gà Đông Tảo và Đông Tảo lai). Đến nay, có khoảng 35% số hộ chăn nuôi gà theo hướng ATSH.

Sở Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã hỗ trợ nông dân nuôi gà Đông Tảo lai thương phẩm thông qua các chương trình, dự án như: mô hình nuôi gà Đông Tảo lai bán công nghiệp; chăn nuôi gà Đông Tảo lai ATSH… Từ năm 2013 đến nay đã có hàng nghìn con gà giống được hỗ trợ cho nông hộ mỗi năm. Ngoài việc hỗ trợ kinh phí mua con giống chất lượng, người chăn nuôi còn được hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng, chống dịch bệnh, quy trình chăn nuôi ATSH…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thuốc Om Gà Chọi Đinh Phát Tại Hưng Yên trên website Ngayhoimuanhagiagoc.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!