Lịch Sử Thanh Hóa Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Tăng Thể Lực Cho Gà Đá Cựa Sắt Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Cách Vào Nghệ Cho Gà Chọi Tăng Sức Chiến Đấu
  • Tiết Lộ Cách Chọn Gà Chọi Hay Khi Còn Nhỏ, Cách Chọn Gà Chọi Con Chiến Đấu Hay Khỏi Phải Bàn
  • Cách Nuôi Gà Bị Suy Phục Hồi “nhanh Nhất
  • Dị Tướng Nhận Biết Gà Linh Kê
  • Vào đầu thời đại đồng thau, ở đồng bằng Bắc Bộ, văn hoá Phùng Nguyên đã phân bố trên một vùng rộng lớn từ các tỉnh Vĩnh Yên, Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Giang, Bắc Ninh, Hà Nội. Ở Thanh Hoá, các bộ lạc nguyên thuỷ cũng có mặt trên địa bàn rất rộng: từ miền núi đến đồng bằng, ven biển.

    Người thời đại đồng thau đã để lại dấu vết trong các hang động Thẩm Hai và Thẩm Tiên (thuộc huyện Thường Xuân). Trong tầng văn hoá dày từ 20 – 30cm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều rìu, đục bằng đá được mài nhẵn. Đồ gốm thu được ở đây không nhiều nhưng đã thể hiện trình độ chế tác rất độc đáo: gốm thường có miệng loe dày, vai xuôi, có loại có chân đế. Hoa văn trang trí rất đa dạng nhưng chủ yếu bằng kĩ thuật khắc vạch với những đường song song hoặc cắt nhau chạy thành từng băng quanh thân. Trong tầng văn hoá cũng tìm thấy cả vỏ ốc suối. Với sự phát triển của kĩ thuật chế tác đồ gốm, lại cư trú trên địa bàn xung quanh các thung lũng bằng phẳng, những cư dân thuộc nhóm di tích Thường Xuân đã là những người làm nông nghiệp.

    Trong khi các bộ lạc miền núi Thường Xuân sản xuất nông nghiệp và phát triển nghề làm gốm, thì ở vùng biển, một nhóm các bộ lạc khác đã biết đến kim loại. Di chỉ tiêu biểu là Hoa Lộc (xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc) đã được khai quật lớn vào năm 1974 và 1975. Vì vậy nền văn hoá khảo cổ ở đây được đặt tên là văn hoá Hoa Lộc. Cư dân văn hoá Hoa Lộc sống gần bờ biển. Tại các di chỉ thuộc văn hoá này đã phát hiện được nhiều chì lưới bên cạnh xương răng các loài cá biển, cá nước ngọt, chứng tỏ đánh cá là một nghề quan trọng của họ. Cũng tìm thấy ở đây xương răng các loài động vật đã được thuần dưỡng như trâu, bò, chó, lợn, và thú rừng như hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, tê giác v.v… Rõ ràng chủ nhân văn hoá Hoa Lộc còn là những người chăn nuôi và săn bắn giỏi. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc đã có một nền nông nghiệp dùng cuốc phát triển.

    Tại di chỉ Hoa Lộc (hay còn gọi là Cồn sau chợ), đã tìm thấy số lượng rất lớn cuốc đá có vai hoặc hình tứ giác (61 chiếc). Ở di chỉ Phú Lộc (còn có tên là Cồn Nghè) tìm thấy tới 80 cái. Rìu và bôn có vai được mài nhẵn toàn thân, có hình dáng cân đối, cũng là loại nông cụ được tìm thấy khá nhiều ở văn hoá Hoa Lộc. Nhưng rõ ràng nhất là tại di tích Bái Cù, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều vết tích của vỏ trấu. Đây là trấu của giống lúa nước.

    Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc là những người làm gốm giỏi, đồ gốm của họ rất độc đáo cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí. Họ đã tạo được những cái bình có vai gãy, miệng gâp vào trong. Có cả loại có miệng hình nhiều cạnh mà các nơi khác rất hiếm gặp. Hoa văn trên đồ gốm Hoa Lộc cũng rất đẹp và phong phú: người ta đã thống kê được 18 đồ án hoa văn khác nhau trên đồ gốm Hoa Lộc, trong đó, đặc trưng và độc đáo nhất là hoa văn hình bọ gậy được tạo bằng cách ẩn miệng vỏ sò biển lên thân gốm khi còn ướt.

    Một đặc điểm quan trọng khác của văn hoá Hoa Lộc là sự xuất hiện rất nhiều những con dấu bằng đất nung. Các con dấu này có hình chữ nhật hoặc gần tròn, thường được người thợ gốm khắc những chữ “S” hoặc những hoa văn nối tiếp nhau với nét khắc rất sâu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, công dụng của những con dấu này có lẽ được dùng để in hoa văn lên vải hơn là để tạo hoa văn trên đồ gốm. Cũng tại Hoa Lộc, còn tìm thấy những hộp đất nung hình chữ nhật, có hai ngăn, mà công dụng cho đến ngày nay vẫn còn tranh cãi. Điều quan trọng là đã phát hiện được dấu vết của đồng trong văn hoá Hoa Lộc, đó có thể là những mẩu dây hoặc dùi đồng đã bị rỉ nát. Trong tương quan với các nền văn hoá cùng thời, các nhà nghiên cứu nhận thấy đã xuất hiện sự giao lưu giữa các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc với chủ nhân các nền văn hoá khác. Ở phía Bắc, hoa văn in mép vỏ sò đặc trưng của văn hoá Hoa Lộc đã tìm thấy ở Sập Việt, Bản Gièm (Sơn La). Nhiều mảnh gốm kiểu Hoa Lộc được tìm thấy ở Gò Mả Đống (Ba Vì – Hà Nội), núi Lê (Ninh Bình), đồi Ghệ, đồi Giạ (Vĩnh Phú cũ). Ở phía Nam, phong cách trang trí và đồ án hoa văn hình chữ S in bằng miệng vỏ sò đã thấy xuất hiện ở Pò Cung (Quỳ Hợp – Nghệ An).

    Căn cứ vào những thành tựu trong kĩ thuật chế tác các loại công cụ, trong các ngành kinh tế sản xuất và sự phân bố các di chỉ trên một vùng rộng lớn, có thể nhận thấy rằng mật độ cư dân trong văn hoá Hoa Lộc đã khá cao. Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc hẳn đã có cuộc sống tinh thần khá phong phú: chỉ có những bộ óc phóng khoáng với những bàn tay khéo léo mới có thể tạo nên những kiểu dáng và hoa văn trên đồ gốm phong phú đến vậy. Sự phát triển mạnh mẽ của nghề đánh cá biển và kĩ thuật chế tác kim loại ra đời có thể đã góp phần quan trọng xác lập chế độ công xã thị tộc phụ quyền trong đời sống xã hội văn hoá Hoa Lộc.

    Ở vùng đồng bằng sông Mã: Khi các bộ lạc ở miền núi, miền biển Thanh Hoá bước vào thời đại đồng thau cách đây khoảng 4.000 năm thì vùng đồng bằng ven đôi bờ sông Mã, cư dân các bộ lạc ở di chỉ Cồn Chân Tiên cũng bước vào sơ kì thời đại đồng thau. Cùng thời với di chỉ này, ven đôi bờ sông Mã còn phát hiện được các di chỉ núi Chàn (ở sườn tây núi Đọ), khe Tiên Nông (sườn Tây Bắc núi Nuông). Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định là giai đoạn sớm nhất của thời đại đồng thau ven sông Mã, là cốt lõi mở đầu trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang.

    Những công cụ bằng đá ở Cồn Chân Tiên cho thấy cư dân giai đoạn này đã đạt tới trình độ kĩ thuật chế tác đá rất cao. Họ sử dụng đá bazan khai thác ở núi Đọ. Họ sử dụng kĩ thuật ghè để tạo phác vật, sau đó ghè tu chỉnh và tiến hành mài đá. Họ đã dùng hai loại bàn mài để mài phá và mài trau (loại đá có kết cấu hạt to dùng mài phá, loại mài trau có kết cấu hạt mịn). Bàn mài của họ đôi khi được dùng cả bốn mặt, có loại có rãnh chắc được dùng để mài đồ trang sức. Rìu đá ở Cồn Chân Tiên chủ yếu là rìu lưỡi cân, cạnh đó còn có loại lưỡi mài vát một bên có tiết diện hình chữ V lệch (thường được gọi là bôn). Đặc biệt ở đây đã tìm thấy những chiếc rìu và bôn có hình dáng nhỏ nhắn và rất xinh bằng đá ngọc, lưỡi rất sắc bén. Cũng tìm thấy nhiều vòng trang sức bằng đá, cư dân Cồn Chân Tiên chế tác công cụ ngay tại nơi cư trú.

    Di chỉ Cồn Chân Tiên có tầng văn hoá tương đối dày, chứng tỏ con người đã định cư ở đây khá lâu dài. Đồng bằng ven sông Mã là địa bàn khai thác nghề trồng lúa nước của họ. Địa bàn cư trú ấy với điều kiện trình độ chế tác công cụ phát triển đã đưa sản xuất nông nghiệp lên vị trí hàng đầu trong nền kinh tế của cư dân Cồn Chân Tiên. Cũng như cư dân văn hoá Phùng Nguyên, Hoa Lộc, các bộ lạc nguyên thuỷ đôi bờ sông Mã đang dần dần chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ quyền và điều quan trọng hơn cả, khi đối chiếu, so sánh với kết quả nghiên cứu các giai đoạn phát triển sau này ở các di chỉ khảo cổ học khu vực đồng bằng sông Mã, sông Chu, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cư dân các bộ lạc Cồn Chân Tiên là nhóm đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang của các vua Hùng.

    Di chỉ khảo cổ học Đông Khối thuộc làng Đông Khối, xã Đông Cương (Đông Sơn), được khai quật năm 1960. Gần đây, nhờ kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ khảo cổ thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, các nhà nghiên cứu đã xác định Đông Khối là di chỉ tiêu biểu cho giai đoạn phát triển tiếp theo giai đoạn Cồn Chân Tiên ở lưu vực sông Mã, có niên đại trung kì thời đại đồng thau tương đương với giai đoạn Đồng Đậu ở đồng bằng Bắc Bộ. Thuộc giai đoạn này còn có di chỉ Bái Man, lớp dưới di chỉ Cồn Cấu (xã Đông Lĩnh) và lớp dưới di chỉ Đồng Ngầm (xã Đông Tiến) huyện Đông Sơn.

    Điểm đáng chú ý đầu tiên là kĩ thuật chế tác công cụ đá của cư dân các bộ lạc giai đoạn này đã không chỉ kế thừa trực tiếp kĩ thuật của cư dân Cồn Chân Tiên, mà họ còn đưa nghề chế tác đá phát triển thành kĩ nghệ, đạt tới đỉnh điểm trong thời tiền sử và sơ sử xứ Thanh. Tại di chỉ Đông Khối, ngày nay vẫn còn rất nhiều những phác vật, phế vật, mảnh tước v.v…, có chỗ chất đầy, ken dày trên những bờ ruộng, cánh đồng sát chân núi Voi, rộng hàng chục héc ta. Điều này cho thấy hẳn xưa kia, khoảng 3.000 năm trước đây, Đông Khối là một trung tâm chế tác công cụ đá rất phong phú và nhộn nhịp. Trong bộ sưu tập công cụ bằng đá ở Đông Khối, rìu và bôn tứ giác có tiết diện hình chữ nhật hoặc vuông chiếm ưu thế tuyệt đối. Hình dáng của chúng khá phong phú: rìu có loại hình thang vuông, hình chữ nhật; bôn cũng có hai loại: loại lưỡi mỏng (chỉ độ 1 cm) và loại lưỡi rất dày, có mặt cắt hình gần vuông, vì vậy có người gọi là búa rìu (loại này chiếm tỉ lệ 22 – 33% ở các di chỉ).

    Nghiên cứu những dấu vết vật chất và bộ di vật, các nhà khảo cổ học cho rằng cư dân các bộ lạc thuộc giai đoạn Đông Khối có trình độ phát triển tương đương giai đoạn Đồng Đậu ở lưu vực sông Hồng. Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của người Đông Khối đã có bước phát triển mới: bên cạnh việc trồng trọt các loại cây cho củ, quả, lúa đã được trồng nhiều hơn, đặc biệt là lúa nếp. Tại Đồng Ngầm, Bái Man đã phát hiện được nhiều mẫu trấu của lúa dạng hạt tròn. Sự phát triển mạnh mẽ của các nghề thủ công làm gốm, chế tác công cụ đá, những dấu tích của lúa, gạo v.v… cho thấy người Đông Khối đã đạt tới trình độ khá cao trong đời sống kinh tế, xã hội.

    Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt và chia thành 9 quận, trong đó nước Âu Lạc cũ trở thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân.

    Trải qua hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, qua các triều đại Hán – Tam Quốc, Lưỡng Tấn – Tiền Tống – Tề – Lương – Tùy – Đường, địa danh của miền đất này cũng bao lần thay đổi theo sự thăng trầm của lịch sử. Cùng với số phận chung của cả nước, nhân dân Cửu Chân chịu cảnh sống lầm than cơ cực dưới ách đô hộ của ngoại bang.

    Các dấu vết của người nguyên thuỷ – người vượn sớm nhất ở Việt Nam, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1960 tại núi Ðọ, Thanh Hoá. Do đặc trưng điển hình của hệ thống di tích này, các nhà khảo cổ học cho rằng đã tồn tại một nền văn hoá sơ kì thời đại đồ đá cũ: Văn hoá núi Ðọ. Văn hoá núi Ðọ bao gồm một hệ thống các di tích sơ kì thời đại đồ đá cũ được phát hiện ở Thanh Hoá: Núi Ðọ, núi Nuông, Quan Yên I, núi Nổ.

    Nằm trong địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh huyện Thiệu Hoá (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Ðây là một hòn núi cao 160m, nằm bên hữu ngạn sông Chu. Người vượn nguyên thuỷ đã sinh sống ở đây, ghè vỡ đá núi để chế tác công cụ. Những công cụ bằng đá mang dấu ấn chế tác bởi bàn tay của họ như mảnh tước, hạch đá, rìu tay… đã được phát hiện ở núi Ðọ khá nhiều. Ngày nay, trên sườn núi Ðọ, hàng vạn mảnh tước (mảnh ghè khi người nguyên thuỷ chế tác công cụ) vẫn còn nằm rải rác, nhất là sườn phía Ðông và phía Tây Nam.

    Trên núi Quan Yên, tại địa điểm Quan Yên I (bên sườn Ðông – Ðông Nam), thuộc xã Ðịnh Công, huyện Yên Ðịnh, năm 1978 các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện được những vết tích của con người sơ kì thời đại đồ đá cũ. So với núi Ðọ, núi Nuông, mật độ và số lượng hiện vật thu được có ít hơn, nhưng kĩ thuật chế tác các loại hình công cụ ở đây cao hơn, gọi là kĩ thuật của loài vượn sơ kì thời đại đồ đá cũ, đồng thời đây cũng là một loại hình di chỉ – xưởng. Căn cứ vào trình độ kĩ thuật chế tác công cụ, địa hình cư trú và dựa vào những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học, các nhà khoa học cho rằng, người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ là những người vượn đứng thẳng phát triển. Họ sống thành từng bầy, có thủ lĩnh bầy, mỗi bầy bao gồm từ 5-7 gia đình, có khoảng 20 – 30 người. Họ kiếm thức ăn chủ yếu bằng phương thức săn bắn và hái lượm theo bầy đàn người vượn và phân phối sản phẩm công bằng. Ðời sống tinh thần của họ đã khá phong phú: ngoài thì giờ kiếm ăn, có thể họ đã có những trò giải trí trong lúc rỗi rãi.

    Tại Thanh Hoá, các bộ lạc chủ nhân văn hoá Sơn Vi, theo tình hình hiểu biết hiện nay đã sinh sống trên địa bàn rộng lớn ở vùng núi phía Tây và Tây Bắc của tỉnh. Dấu vết của họ đã được tìm thấy ở các huyện Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Hà Trung, Bá Thước và nhất là cụm di tích ở xã Hạ Trung (Bá Thước).

    – Hang Con Moong: Ðáng chú ý nhất là hang Con Moong – một di tích nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Cúc Phương – thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành. Di tích này được khai quật năm 1976. Tại đây, người vượn nguyên thuỷ Thanh Hoá đã sinh sống từ hậu kì thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới. Tầng văn hoá ở Con Moong dầy tới 3,5m với sự tiếp diễn liên tục, không hề có sự ngắt quãng. Tại lớp văn hoá sớm nhất (dưới cùng) ở Con Moong (đã được xác định niên đại bằng phương pháp cacbon phóng xạ C14 cách ngày nay hơn 12.000 năm) các nhà khảo cổ học đã thu được nhiều hiện vật. Ðó là những công cụ bằng đá có hình múi cam, công cụ có rìa lưỡi một đầu, công cụ 1/4 viên cuội, được tạo bằng thủ pháp đập vỡ cuội. Ðó là những chày nghiền, bàn nghiền – những hòn đá không có dấu vết chế tác, chỉ có dấu vết sử dụng bởi một mặt lõm xuống hình lòng máng, được dùng để chà vỏ, nghiền thức ăn thực vật; là những công cụ bằng xương có hình mũi nhọn được chế tạo từ những đoạn xương ống của các loài thú lớn. Xương, răng động vật cũng phát hiện được khá nhiều, gồm xương cốt các loài lửng, tê giác, voi, hươu, nai, hoẵng, baba, rùa vàng… Cũng giống như ở mái đá Ðiều, tầng văn hoá ở Con Moong chứa khá nhiều vỏ trai, ốc núi, ốc suối. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã tìm thấy dấu vết của bếp lửa có hình gần tròn, đường kính tới 4m, bên cạnh mùn thực vật và hạt trám. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã phát hiện được 3 mộ táng gồm 5 cá thể (có 2 mộ song táng) đã xác định được 1 nam, 1 nữ (khoảng 50 – 60 tuổi), hai trẻ em và 1 người không xác định được giới tính. Tất cả các hài cốt được chôn theo tư thế nằm nghiêng co bó gối, được bôi thổ hoàng, có một mộ chôn theo công cụ nạo. Như vậy, vào hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cùng với văn hoá Sơn Vi ở phía Bắc, chủ nhân của văn hoá Sơn Vi Thanh Hoá đã cư trú trên một vùng rộng lớn phía Bắc, Tây bắc của tỉnh và tương đối tập trung. Theo những phát hiện mới nhất của khảo cổ học, vùng Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành trong hậu kì thời đại đồ đá cũ có thể được coi là trung tâm của xứ Thanh ngày nay. Trong thời đại đồ đá cũ, cư dân nguyên thuỷ đã sinh sống trên địa bàn Thanh Hoá. Trong hàng chục vạn năm ấy, do điều kiện địa lí, do quá trình kiến tạo địa chất, nhiều đợt biển tiến, biển lùi đã đẩy người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ tiến lên chiếm lĩnh vùng phía Tây – Tây bắc, những chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá đã cùng các bộ lạc khác trên đất nước Việt Nam, trong quá trình đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để sinh tồn, đã tạo nên một nền văn hoá mới, làm phong phú thêm thời đại đồ đá mới ở Việt Nam. Ðó là quá trình phát triển của xã hội người nguyên thuỷ trên đất Thanh Hoá.

    Nối tiếp văn hoá Sơn Vi là văn hoá Hoà Bình (lấy tên tỉnh Hoà Bình – nơi phát hiện những di tích đầu tiên của nền văn hoá này). Về niên đại, văn hoá Hoà Bình cách ngày nay 11.000 năm; trên đất Thanh Hoá, trung tâm dân cư lúc này vẫn tập trung ở địa bàn vùng núi phía Tây, thuộc các huyện Cẩm Thuỷ, Bá Thước, Thạch Thành, Ngọc Lặc… Họ thường sống trong các hang động, các núi đá vôi rộng, thoáng đãng và gần sông, suối lớn. Các nhà khảo cổ học đã xác định họ chính là hậu duệ trực tiếp của chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá và chính họ – cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá, đã tiếp tục phát triển, làm nên văn hoá Bắc Sơn sau này.

    – Hang Con Moong (xã Thành Yên – huyện Thạch Thành): Ðây là một hang rộng, nền hang cao hơn 40m so với chân núi hiện tại và rộng hơn 300 m2. Người nguyên thuỷ cư trú trên khoảng diện tích 100 m2 tại cửa hướng Tây Nam, liên tục từ thời văn hoá Sơn Vi đến văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn. Các nhà khảo cổ đã thu được rất nhiều hiện vật nằm lẫn trong đống vỏ nhuyễn thể và mùn thực vật mà người nguyên thuỷ đã thải ra trong quá trình sinh hoạt. Về công cụ bằng đá: cư dân văn hoá Hoà Bình ở Con Moong vẫn giữ truyền thống văn hoá Sơn Vi: dùng đá cuội để chế tác công cụ, nhưng kỹ thuật chế tác công cụ của họ rất phát triển, kể cả loại hình lẫn phương pháp chế tác. Công cụ kiểu Xumatơra(3) (Sumatralithe) có hình bầu dục hay hình hạnh nhân, lưỡi được tạo xung quanh rìa hòn cuội bằng cả thủ pháp ghè tỉa, để có độ sắc bén hơn; có chức năng sử dụng rất đa dạng: có thể dùng cắt, chặt, nạo….từ thịt, xương thú đến tre, nứa, gỗ. Rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn trong bộ sưu tập công cụ của họ ở Thanh Hoá; người ta thường chặt cuội hoặc chặt đôi những công cụ hình bầu dục để tạo rìu ngắn; chức năng của rìu ngắn cũng rất đa dạng. Rìu dài hình hạnh nhân hay hình bầu dục của cư dân văn hoá Hoà Bình có nhiều khả năng được sử dụng như những chiếc cuốc đá. Mảnh tước ở Con Moong có số lượng không nhiều, nhưng phần lớn đã được gia công để tạo thành công cụ nạo, dao đá, với rìa đá rất sắc. Chày nghiền, bàn nghiền cũng là những công cụ được tìm thấy khá nhiều. Chủ nhân Con Moong cũng chế tác và sử dụng công cụ bằng xương thú với kỹ thuật chọn nguyên liệu và chế tác phát triển khá cao: người ta chỉ lựa chọn xương ống của động vật có vú – loại xương có cấu tạo sợi nhiều hơn cấu tạo xốp – để chế tác công cụ và đã mài nhẵn đầu. Thức ăn rất phong phú, đa dạng: trong tầng văn hoá, các nhà khảo cổ học đã thu được 83 2 vỏ nhuyễn thể như trùng trục, trai, ốc… và các loại xương thú rất phong phú. Chôn người chết theo tư thế nằm nghiêng chân co như cư dân văn hoá Sơn Vi giai đoạn trước, nhưng họ đã chèn đá hộc, rải đá dăm quanh mộ để bảo vệ và đều chôn theo công cụ.

    – Di chỉ mái đá Ðiều và các di chỉ khác: Cũng như ở Con Moong, mái đá Ðiều là một di chỉ chứa đựng nhiều lớp văn hoá thuộc các thời đại đồ đá khác nhau. Niên đại lớp văn hóa Hoà Bình của Mái đá Ðiều là 8.200 ± 70 năm, cách ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã thu được rất nhiều công cụ bằng đá đặc trưng kiểu Hoà Bình. Ðáng chú ý là rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn. Chày nghiền, bàn nghiền cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Riêng công cụ bằng mảnh tước, ở một số địa điểm đã xuất hiện kĩ thuật mài đá. Ở các di chỉ mái đá Bát Mọt, hang Mộc Trạch, hang To đã tìm được nhiều mảnh vỏ trai xà cừ lớn mà công dụng có thể được chủ nhân văn hoá Hoà Bình sử dụng như những lưỡi dao, nạo để vót tre nứa và nạo thịt thú. Một đặc điểm chung nữa là tại các di chỉ văn hoá này, tầng văn hoá đều rất dày, chứng tỏ sự cư trú lâu dài của con người như Con Moong: 3,5m, mái đá Ðiều: gần 4m, mái đá Làng Bon: 3,7m, hang Ðiền Hạ III: 3,8m, mái đá chòm Ðồng Ðông: 3,5m; chứa đựng một khối lượng vỏ nhuyễn thể rất lớn lẫn trong lớp đất màu nâu hoặc đen chứa mùn thực vật. Cư trú trong các hang động, mái đá tương đối cao, có nơi rất cao (như Con Moong), cư dân Hoà Bình ở Thanh Hoá chắc rằng, ngoài những công cụ bằng đá, đã sử dụng một số lượng không ít các công cụ và đồ dùng được chế tác từ các loại cây cối, nhất là tre, nứa, song, mây… Ðể đựng các loại nhuyễn thể lượm nhặt từ sông, suối đem về nơi cư trú. Các nhà khảo học đã phát hiện được nhiều mộ táng của người Hoà Bình ở Thanh Hoá. Ðã tìm thấy ở hang Lộc Thịnh, mái đá Làng Bon, mái đá làng chòm Ðồng Ðông… các di cốt, xương, răng bị vỡ, mủn. Ðáng chú ý nhất là các di tích Con Moong (2 mộ), mái đá Ðiều (13 mộ), mái đá Mộc Long (5 mộ), hang Chùa (3 mộ). Phần lớn những mộ này còn nguyên vẹn và cho thấy tư thế chôn nằm nghiêng co bó gối, bôi thổ hoàng, kè đá giữa mộ và chôn theo hiện vật làm đồ tuỳ táng, là cách thức mai táng phổ biến trong tập tục của người Hoà Bình. Chủ nhân của văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã tiến tới tổ chức công xã thị tộc mẫu hệ. Các công xã thị tộc thường cư trú trong một vùng đất nhất định. Trong mỗi hang động là một thị tộc cư trú bao gồm nhiều gia đình nhỏ với vợ chồng, con cái. Dấu tích bếp lửa ở giai đoạn được tìm thấy có quy mô nhỏ hơn giai đoạn trước và số lượng cũng tăng hơn. Kinh tế hái lượm ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong đời sống, bởi vậy, vai trò và vị trí của người phụ nữ ngày càng được nâng cao. Với môi trường sinh sống gần sông, suối, khai thác thức ăn đa nguồn, định cư lâu dài, cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã chuyển từ cuộc sống hái lượm – săn bắt sang thu hoạch định kỳ theo mùa. Ðó là mầm mống sơ khai của nền kinh tế sản xuất nông nghiệp: người ta bắt đầu chăm sóc và trồng trọt một số loài cây có củ, quả như rau, đậu, bầu bí… và thuần dưỡng chó. Những quan niệm tôn giáo sơ khai, mầm nghệ thuật – sự tìm kiếm cái đẹp cũng nảy sinh trong quá trình lao động kiếm sống và vui chơi giải trí. Ðó là những thành quả sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội của cư dân văn hoá Hoà Bình xứ Thanh và với thành quả ấy, họ đã thực sự góp phần vào cách mạng đá mới. Sau hơn 70 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hoá đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về lịch sử Thanh Hoá thời đại đồ đá mới: đó là sự phát triển liên tục, nội tại từ cư dân văn hoá núi Ðọ đến Sơn Vi và văn hoá Hoà Bình.

    Tại Thanh Hoá, dấu vết văn hoá Bắc Sơn đã được phát hiện trong các lớp văn hoá muộn của các di chỉ mái đá Thạch Sơn, mái đá chòm Ðồng Ðông, hang Lộc Thịnh, mái đá Ðiều, hang Mỹ Tế, mái đá làng Bon, làng Ðiền Hạ III… và đặc biệt rõ ở hang Con Moong- thuộc lớp trên cùng, có niên đại khoảng 7.000 năm cách ngày nay. Chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá cũng như ở nơi khác, đã đưa kỹ thuật chế tác công cụ bằng đá đến trình độ cao: họ đã biết và phổ biến kỹ thuật mài đá. Ðã tìm thấy trong các di chỉ Bắc Sơn ở Thanh Hoá những bàn mài bằng sa thạch bên cạnh rất nhiều chày nghiền, bàn nghiền. Những chiếc rìu mài lưỡi Bắc Sơn ra đời đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề nông đã thai nghén từ văn hoá Hoà Bình. Nhưng thành tựu kĩ thuật lớn nhất của cư dân văn hoá Bắc Sơn là phát minh ra đồ gốm. Mặc dù còn rất thô sơ về chất liệu, hình dáng, hoa văn, độ nung còn thấp, nhưng cũng đã tạo cho nền kinh tế sản xuất sơ khai của chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá phát triển hơn hẳn nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của văn hoá Hòa Bình. Tuy nhiên kinh tế sản xuất chưa thể chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống của người Bắc Sơn. Hái lượm và săn bắn vẫn đóng vai trò chính trong đời sống của họ: trong các hang động nơi họ cư trú, tầng văn hoá vẫn chất đầy vỏ nhuyễn thể và xương cốt động vật (lớp văn hoá Bắc Sơn ở Con Moong – lớp trên cùng- có độ dày từ mặt đất từ 0,2m – 1,2m, đã thu được tới 60m 3 vỏ nhuyễn thể). Xã hội người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá đã phát triển chế độ thị tộc mẫu hệ.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất, người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ngày càng lệ thuộc vào thành quả của hoạt động hái lượm và chăm sóc cây trồng. Ðó là những công việc chủ yếu do phụ nữ đảm nhận và ngày càng nắm vị trí chủ đạo trong kinh tế; vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao.

    Vào hậu kì thời đại đồ đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 – 7.000 năm, sau nhiều đợt biển tiến, biển lùi, sang kỷ Hôlôxen, đồng bằng sông Mã đã hình thành tương đối ổn định với tài nguyên phong phú, đầy hấp dẫn, đã lôi cuốn chủ nhân văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn ở vùng núi rời khỏi các hang động – nơi cư trú hàng ngàn năm, tiến xuống khai phá miền đồng bằng trước chân núi. Nền nông nghiệp trồng lúa nước ra đời. Cùng với dân cư văn hoá Hạ Long ở phía Bắc, văn hoá Quỳnh Văn ở phía Nam, người nguyên thuỷ ở Thanh Hoá làm nên một nền văn hoá Ða Bút độc đáo, làm phong phú thêm diện mạo văn hoá của các bộ lạc nguyên thuỷ sinh sống trên toàn cõi Bắc Việt Nam.

    Văn hoá Ða Bút: Theo hiểu biết hiện nay, văn hoá Ða Bút gồm hệ thống các di chỉ Ða Bút (xã Vĩnh Tân), Bản Thuỷ (xã Vĩnh Thịnh), làng Còng (xã Vĩnh Hưng) thuộc huyện Vĩnh Lộc, cồn Cổ Ngựa (xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung) và gò Trũng (xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc). Khai quật và nghiên cứu hệ thống di chỉ này, các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng chủ nhân của văn hoá Ða Bút theo quá trình lùi dần của biển, ngày càng chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá. Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ văn hoá Ða Bút cho thấy cư dân nguyên thuỷ giai đoạn này đã bước vào thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ phát triển. Nhờ nông nghiệp lúa nước được đẩy mạnh, đời sống đã ổn định, dân số tăng nhanh, đồng thời các nghề thủ công phục vụ sản xuất nông nghiệp và đánh cá được mở rộng.

    Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là thôn Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.

    Từ năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô (một trong 3 nước thời Tam Quốc), trong xứ không kể Nghệ An, Hà Tĩnh, có chừng 3 vạn hộ. Bà Triệu tức Triệu Thị Trinh, người Quân Yên (huyện Yên Ðịnh), 20 tuổi; lập căn cứ ở Núi Nưa (Triệu Sơn), hội quân với 3 anh em họ Lý ở Bồ Ðiền (tức Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc) cùng tiến đánh quận sở Tư Phố đại thắng. Hầu hết các huyện lỵ, thành ấp ở Cửu Chân, Cửu Ðức, Nhật Nam (2 quận nay là vùng Nghệ Tĩnh – Quảng Bình) bị nghĩa quân đánh hạ, các thái thú, huyện lệnh và huyện trưởng bị giết… nền đô hộ của nhà Hán ở Giao Châu hơn 330 năm bị lật đổ.

    Mùa xuân 542, Lý Bí – mẹ đẻ là người Cửu Chân, khởi nghĩa thắng lợi, lập ra nước Vạn Xuân xưng là Lý Nam Ðế. Nhà Lương đàn áp, Lý Thiên Bảo là anh ruột Lý Bí rút về Dã Năng (huyện Bá Thước ngày nay) xưng là Ðào Lang Vương tiếp tục kháng chiến. Sau đó Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay tức là Hậu Lý Nam Ðế. Năm 556, Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương – Triệu Quang Phục – người tiếm ngôi của Lý Bí và là người đánh bại quân đội nhà Lương ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên ngày nay).

    Lê Ngọc (còn gọi là Lê Cốc) cùng với 4 người con lật đổ quan cai trị của nhà Tuỳ (Trung Quốc) đóng ở Ðông Phố (tức Ðồng Pho, xã Ðông Hoà, huyện Ðông Sơn ngày nay), gọi là kinh đô Trường Xuân, tự quản Cửu Chân chống lại nhà Ðường cho đến đầu thế kỷ VI. Ðến thế kỷ VII, Cửu Chân gồm 6 huyện có 16.100 hộ (quận Giao Chỉ có 30.000 hộ) khoảng 84.000 nhân khẩu, thuộc xứ An Nam (tên An Nam thay cho Giao Châu bắt đầu từ đây). Quận sở là Ðông Phố (tức là Ðồng Pho). Năm 759, quân Mã Lai cướp phá Châu Ái (tên gọi Cửu Chân từ năm 523) bị quan cai trị là Trương Bá Nghi tiêu diệt. Năm 797, quân Mã Lai lại cướp phá Châu Ái nữa, xây cả thành, lập nước, nhưng bị quan cai trị là Trương Châu đánh đuổi, san phẳng thành trì thu hồi mọi của cải. Thế kỷ IX, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo đã rất phát đạt ở Châu Ái. Ðạo Nho có anh em Khương Công Phụ, đỗ Tiến sỹ làm quan đến Tể tướng triều đình nhà Ðường, đạo Lão biến các hang động đẹp nhất ở khắp Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn làm nơi tu tiên và đạo Phật có các Ðại hoà thượng như Trí Hành và Ðại Thăng Ðăng sang tận Trung Quốc để hành đạo.

    Dương Ðình Nghệ, chính khách quan trọng nhất thế kỷ X của lịch sử Việt Nam, thu hút hơn 3.000 người làm vây cánh ở làng Giàng, Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa), trong đó có Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng… Tháng 3 năm 931, Dương Ðình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán (Trung Quốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán, tự lập làm tiết độ sứ, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1.000 năm của người Trung Quốc ở Việt Nam. Từ Dương Ðình Nghệ, Việt Nam xác định lại được quốc thống của một đất nước độc lập hoàn toàn.

    Mùa đông năm 938, Ngô Quyền đem quân đội Cửu Chân tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn – kẻ phản bội họ Dương ở Ðại La (Hà Nội ngày nay), rồi cản phá quân Nam Hán là Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Ðằng, lên ngôi vua tức Ngô Vương Quyền. Thời 12 sứ quân, Cửu Chân nằm trong vòng kiểm soát của Ðinh Bộ Lĩnh ở miền Ðông và của Ngô Xương Xí – cháu nội Ngô Quyền, ở Bình Kiều (đất vùng Triệu Sơn ngày nay) tức miền Tây lãnh thổ.

    Năm 979 – 980, Lê Hoàn trấn áp xong quân chống đối của Nguyễn Bặc và Ðinh Ðiền ở vùng sông Tống (vùng đất huyện Hà Trung ngày nay) lên ngôi vua. Năm 981, ông đánh tan quân xâm lược nhà Tống, và năm 982 đánh thắng quân Chiêm Thành. Năm 982, nhà vua cho nạo vét các sông ngòi, đào kênh nối liền hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng cho đến vùng đất tỉnh Nghệ An ngày nay, thành một đường giao thông thuận tiện đầu tiên ở Cửu Chân và ở cả đất nước Ðại Cồ Việt. Người chỉ huy đào các kênh này là Ðào Lang, làng Bùi Ðỉnh (xã Yên Trung huyện Yên Ðịnh ngày nay). Từ năm 999 đến năm 1005, các vua thời Tiền Lê phải trực tiếp điều quân bình định miền viễn Tây Thanh Hoá nhưng chưa ổn.

    Từ đầu triều đại nhà Lý 1009 đến 1028, lúc đầu Lý Thái tổ đặt tên gọi Trại Ái Châu. Đến năm 1029, dưới triều vua Lý Thái Tông, năm Thiên Thành thứ hai đặt tên Phủ Thanh Hóa. Từ đó các triều đại tiếp theo lúc gọi phủ, lúc gọi lộ, lúc gọi trấn và gọi là tỉnh Thanh Hóa vào thời nhà Nguyễn.

    Tên Hóa có lúc lại đổi thành Hoa, rồi lại trở lại Hóa; đến đời vua Thiệu Trị, triều đại nhà Nguyễn (1841), nhà vua có một chỉ dụ đại ý nói: Thanh Hóa là một tên cổ, do các triều đại trước đã định danh, vì vậy không có lý do gì đổi tên này, mà phải giữ nguyên tên gọi tỉnh Thanh Hóa.

    Ngày 12/7/2017, tại kỳ họp thứ ba, HĐND tỉnh khóa XVII đã quyết nghị lấy năm 1029 là năm ra đời Danh xưng Thanh Hóa với tư cách đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo sự phấn khởi, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

    Tháng giêng năm Thiệu Long thứ 15 nhà Trần (năm 1272), Lê Văn Hưu, người làng Bồi Lý (xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá ngày nay) dòng dõi Lê Lương, soạn xong Ðại Việt sử ký toàn thư – bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta.

    Lê Văn Hưu được tôn là ông tổ ngành sử học của Việt Nam. Ðầu năm 1285, kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, ở Thanh Hoá, quân đội nhà Trần do Trần Kiên, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ huy chống giữ cầm chân giặc, ở các điểm Yên Duyên (xã Quảng Hùng), núi Ðá Chẹt (Quảng Lĩnh), Văn Trinh (Quảng Hợp), Bố Vệ (thành phố Thanh Hoá), Phú Tân (Hà Toại), Nga Lĩnh, Quang Lộc, Liên Lộc, chiến sự rất dữ dội. Sau khi tướng Nguyên: Toa Ðô tiến được ra sông Hồng thì Hưng Ðạo Vương lại đem 2 vua Trần rút vào Thanh Hoá (ở các vùng Nga Sơn, Hà Trung, Thạch Thành ngày nay) để bảo toàn đầu não. Ðến tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá, Hưng Ðạo Vương tiến quân ra Bắc quét sạch quân Nguyên Mông khỏi bờ cõi Ðại Việt. Năm 1370, dòng họ Lê ở Ðại Lại (Ðò Lèn, Hà Ngọc huyện Hà Trung) do Lê Liêm dẫn đầu hội quân Thanh Hoá tiến ra Thăng Long phế bỏ người tiếm ngôi Dương Nhật Lễ, lập lại nhà Trần bằng vua Trần Phủ – tức Trần Nghệ Tôn – nhà Trần từ đây thiên vào Thanh Hoá. Năm 1378, quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hoá bị quan quân nhà Trần trấn giữ đánh bại. Năm 1380, quân Chiêm Thành do đích thân vua Chế Bồng Nga chỉ huy lại vào cướp Thanh Hoá bị Hồ Quý Ly đánh bại ở cửa sông Ngu (tức Lạch Trường, Hoằng Trường ngày nay). Năm 1382, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, bị Nguyễn Ða Phương đánh bại ở cửa Thần Ðầu (tức Thần Phù, huyện Nga Sơn ngày nay). Năm 1389, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, Hồ Quý Ly chống không nổi phải bỏ chạy. Quân Chiêm Thành tiến ra Bắc. Năm 1390, tướng chỉ huy nhà Trần ở Thanh Hoá là Trần Khát Chân cản phá được quân Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, chấm dứt vĩnh viễn sự quấy rối của các vua Chiêm Thành.

    Mùa xuân năm 1397, xây dựng xong thành đá Tây Giai ở động Thiên Tôn (nay là đất xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc). Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua ở thành này, thay nhà Trần, đổi tên nước là Ðại Ngu (nghĩa là rất an vui và cùng lo việc nước), bỏ kinh đô Thăng Long, lấy thành đá mới làm quốc đô gọi là Tây Ðô. Nhà Hồ phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng đúc từ năm 1396, đến năm 1400 định lại giá kim ngạch cho thêm chặt chẽ. Năm 1402, nhà Hồ hoàn thành việc xây dựng con đường Thiên Lý từ Tây Ðô ra Ðông Quan (tức Thăng Long cũ) và từ Tây Ðô vào Hoá Châu (vùng Quảng Bình ngày nay) dọc đường đặt nhà trạm, phố xá và bưu dịch có hệ thống. Sau một năm chiến đấu ngoan cường nhưng thất bại, năm 1407, nhà Hồ và nước Ðại Ngu mất vào tay quân xâm lược nhà Minh.

    Mùa xuân, tháng Giêng ngày mồng 2 năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người tài giỏi trong cả nước khởi nghĩa ở Mường Chính (nay là huyện lỵ Lang Chánh) tiến về Khả Lam (tức Lam Sơn) bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) giải phóng đất nước. Lê Lợi xưng là Bình Ðịnh Vương, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Bình Ðịnh Vương chiến đấu ở Thanh Hoá 6 năm, các trận đánh lớn diễn ra ở Lam Sơn, Mường Một (vùng Bát Mọt, huyện Thường Xuân ngày nay), Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng du sông Âm), Ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, huyện Bá Thước ngày nay), Kình Lộng (vùng Cổ Lũng, huyện Bá Thước), Úng Ải (vùng đèo Thiết Ống, huyện Bá Thước), Sách Khôi (ở khoảng giữa huyện Bá Thước và huyện Hoàng Long – Ninh Bình và huyện Thạch Thành – Thanh Hoá), Ða Căng (vùng Thọ Nguyên, Thọ Xuân), có trận phía địch có tới 10 vạn quân như ở Kình Lộng. Mùa đông năm 1424, Bình Ðịnh Vương tiến quân vào Nghệ An theo kế sách của Nguyễn Chích. Mùa thu năm 1426, quân khởi nghĩa tiến ra Bắc bao vây Ðông Quan. Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), Bình Ðịnh Vương đến Lỗi Giang (vùng đất các huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc ngày nay) chỉ huy bao vây Tây Ðô. Cuối năm 1426, Bình Ðịnh Vương ra Bắc chỉ huy giải phóng các miền đất Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), và vây hãm thành Ðông Quan. Ngày 22 tháng 01 năm Ðinh Mùi (1427), giặc Minh đầu hàng. Mùa xuân năm sau – giặc rút về, đất nước sạch bóng quân thù, thành Tây Ðô lại về Ðại Việt. Ngày 15 tháng giêng năm Mậu Thân (1428), Bình Ðịnh Vương lên ngôi hoàng đế nước Ðại Việt, thủ đô là Ðông Kinh (tức Ðông Quan, thủ đô Hà Nội ngày nay). Cả nước chia làm 3 đạo hành chính lớn, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây trong số các trấn ven biển Tây Ðô.

    Tháng 11 – Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ về bái yết Sơn Lăng, Lam Sơn, sau 10 năm chiến đấu giành độc lập cho đất nước thắng lợi. Mùa Hè năm Canh Tuất (1430) đổi Tây Ðô làm Tây Kinh và Ðông Ðô (Hà Nội) làm Ðông Kinh. Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ mất, một tháng sau đem về an táng ở Lam Sơn, gọi nơi an táng là Vĩnh Lăng. Tháng 12 năm Quí Sửu (1433) xây dựng điện Lam Sơn (gọi là Lam Kinh). Ngày 7 tháng 01 Giáp Dần (1434), điện Lam Kinh bị cháy (cháy lần thứ nhất). Tháng 9 Mậu Thìn (1448): xây dựng lại Lam Kinh do Thái uý Trịnh Khả chỉ huy. Từ Mậu Ngọ (1438) đến Mậu Tý (1468), 3 lần khơi đào các kênh trong xứ Thanh Hoá. Năm Bính Tý, tháng 4 (1516), Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, lập vua Lê Chiêu Tông rước về Tây Kinh.

    Họ Mạc cướp ngôi vua Lê ở Thăng Long. Quan Ðiện tiền tướng quân là Nguyễn Kim – người Hà Trung lập căn cứ ở Thanh Hoá chống lại họ Mạc. Năm 1533 (Quí Tỵ), ông này đưa được Lê Ninh (con vua Chiêu Tông) lên ngôi tức Lê Trang Tông đánh chiếm Tây Kinh (1545) thắng lợi. Ðến năm 1545 (Ất Tỵ), Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm lên thay, đánh nhau nhiều trận lớn với họ Mạc ở Thanh Hoá, 17 lần quân Mạc đều thua.

    Từ năm 1533 đến 1592, triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá, quản lý đất nước từ Thanh Hoá trở vào, đóng đô ở Yên Trường (nay thuộc Yên Ðịnh) mở nhiều khoa thi, chọn người hiền tài tham gia chính quyền. Năm 1593, Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm, kế tục cha tiêu diệt họ Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, lập phủ chúa, Ðàng Ngoài do vua Lê – Chúa Trịnh trị vì từ năm 1599. Trong thời đó, năm 1588, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, mở đầu sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở Ðàng trong. Năm 1738, Lê Duy Mật (con vua Lê Dụ Tông Duy Ðường) khởi nghĩa chống Chúa Trịnh, địa bàn hoạt động rộng khắp Tây Nam, Tây, Tây Bắc Thanh Hoá và vùng Tây Bắc lẫn Tây Bắc Bộ. Năm 1770, Duy Mật bị con rể phản bội phải thua và tự sát với vợ con, chấm dứt 32 năm chiến đấu. Từ năm 1557 đến 1786, Thanh Hoá bị 10 trận bão lụt lớn xen đại hạn, 15 lần đói to chết nhiều người và 16 cuộc chiến giữa quân Trịnh – Mạc, những tai hoạ ấy không hề có ở thời Lê sơ.

    Những năm quân Tây Sơn tiến công ra Bắc, quân dân Thanh Hoá do Lê Trung Nghĩa (tức Quận Mãn) chỉ huy chống lại rất dữ dội, Lê Trung Nghĩa tử trận ở Tĩnh Gia.

    Quân đội Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn Lam Kinh và kinh đô An Trường biểu tượng của các vua Lê và còn phá huỷ nhiều chùa chiền miếu mạo khác. Năm 1790, con vua Quang Trung là Quang Bàn được cử ra trấn thủ Thanh Hoá. Năm 1792, ông tách ra 2 phủ Trường An và Thiên Quan của Thanh Hoa ngoại thành trấn Thanh Bình (tức Ninh Bình ngày nay).

    Ðặc biệt, triều đình ra lệnh không được đào bới khai mỏ gì ở Thanh Hoá sợ rằng xúc phạm đến oai linh của xứ sở. Nhà Nguyễn xây lăng tổ khai sáng ở Triệu Tường (Hà Trung), thành Triệu Tường lớn thứ 2 sau thành Thanh Hoá, chu vi 182 trượng (1 trượng = 4m), xây dựng lại Lam Kinh để tỏ lòng kính ngưỡng nhà Lê, dựng đền thờ các vua Lê ở Kiều Ðại (TP Thanh Hoá), hằng năm cắt cử các quan lại thay mặt nhà vua cúng tế và tổ chức phòng thủ ở Thanh Hoá rất hùng mạnh gồm một hệ thống 11 đồn binh có quân chính qui trấn giữ 7 bảo súng (pháo đài), 1 đồn thuỷ với 44 khẩu đại bác (súng thần công) mỗi đợt tuyển quân lấy của Thanh Hoá hơn 7.000 người. Ngày 25/11/1885, quân xâm lược Pháp lần đầu tiên tiến công Thanh Hoá. Trước đó, ngày 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tuyên bố chọn Thanh Hoá làm thủ phủ kháng chiến, nên tinh thần Cần Vương của quân dân Thanh Hoá rất sôi sục. Vùng rừng núi Thanh Hoá được xây dựng những sơn phòng tích trữ tiền của, lương thảo để chuẩn bị đánh giặc. Ba tháng sau (12/3/1886), nghĩa quân Cần Vương đã tiến đánh quân Pháp đóng ở thành Thanh Hoá. Mùa hè năm 1886, nghĩa quân lập bộ chỉ huy kháng chiến toàn Thanh Hoá do Tống Duy Tân đứng đầu và lập chiến khu ở Ba Ðình (Nga Sơn). Từ 18/12/1887, chiến sự dữ dội nhất giữa quân Việt Nam và Pháp đã nổ ra ở Ba Ðình. Quân Pháp phải tập trung trên địa bàn một số xã ở đây lượng binh lính lớn nhất so với toàn quốc (6.000 người trong một trận) để chiến đấu và bị thiệt hại nặng nề. Cuối cùng vì không được tiếp ứng như kế hoạch dự kiến, nghĩa quân do Ðinh Công Tráng chỉ huy đã rút lui an toàn khỏi các chiến luỹ. Ngày nay quảng trường trọng đại nhất của đất nước mang tên chiến khu này, đó là quảng trường Ba Ðình lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Các cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp ở Thanh Hoá đến giữa năm 1895 mới chấm dứt cùng với hàng ước của nhà Nguyễn. Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung Việt Nam vẫn nằm trong nền độc lập hạn chế của nhà Nguyễn không bị Pháp cai trị trực tiếp. Thực tế chính quyền thuộc địa Pháp chỉ cai quản địa phận thị xã Thanh Hoá được thành lập ngày 12/7/1899 ở khu đất phía Ðông thành Thanh Hoá mà thôi. Năm 1918, chế độ thi cử tuyển hiền tài, kiểu Nho giáo ở Thanh Hoá mới bãi bỏ. Thanh Hoá bắt đầu hình thành xã hội phong kiến nửa thuộc địa hiện đại hoá.

    Các năm 1926 – 1927, các tổ chức cách mạng đầu tiên ở Thanh Hoá ra đời. Ngày 25/6/1930, chi bộ Ðảng Cộng sản đầu tiên thành lập ở làng Hàm Hạ (thuộc xã Ðông Tiến, huyện Ðông Sơn), và ngày 29/7/1930, đã thành lập Ðảng bộ tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên là đồng chí Lê Thế Long.

    Tháng 9/1942, Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hoá thành lập. Ngày 24/7/1945, nhân dân huyện Hoằng Hoá giành chính quyền huyện thắng lợi. Ngày 19/8/1945, nhân dân thành phố Thanh Hoá và một số huyện tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi. 4 ngày sau, cách mạng thành công trên toàn tỉnh. Ngày 23/8/1945, chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hoá ra mắt đồng bào ở thị xã Thanh Hoá. Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cùng với cả nước, lịch sử Thanh Hoá bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hoá đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam. Thanh Hoá là nơi phát tích của các vương triều: Tiền Lê, Hậu Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, triều Nguyễn. Trong sự nghiệp cách mạng ngày nay, người dân xứ Thanh cũng góp phần xứng đáng đối với cả nước để xây dựng quê hương mình nhanh chóng trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hạ Màn Vô Địch Miền Bắc 2022: Lucky Thanh Hà Xuất Sắc Giành Giải Ba, Dilmah Lần Đầu Lên Ngôi Vô Địch.
  • Pvcombank Vô Địch Giải Bóng Đá Cụm Phối Hợp Hoạt Động Miền Bắc Pvn
  • Kiot Chợ Tiên Lữ Market
  • Cây Mắc Mật Làm Gia Vị Thịt Nước Và Những Tác Dụng Bất Ngờ Cho Sức Khỏe
  • Những Lưu Ý Khi Sử Dụng Mật Gấu
  • Thanh Hóa Cách Hà Nội Bao Nhiêu Km? Cách Di Chuyển Từ Thanh Hóa Ra Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Vé Tàu Lửa Hà Nội Đi Thanh Hóa Giá Rẻ Trực Tuyến 24H
  • Từ Hà Nội Đi Thanh Hóa Bao Nhiêu Km?
  • Top 27 Nhà Xe Limousine Hà Nội Thanh Hóa Xe Khách Giường Nằm Tốt Nhất
  • Mua Bưởi Da Xanh Chuẩn Bến Tre Tại Hà Nội
  • Chuyển Văn Phòng Gia Bảo
  • Thanh Hóa cách Hà Nội bao nhiêu km?

    Vùng đất Thanh Hóa của du lịch Việt Nam không chỉ nổi tiếng với nhiều đặc sản thơm ngon mà còn thu hút du khách bởi các bãi biển đẹp, những điểm đến vô cùng hấp dẫn. Vậy Thanh Hóa cách Hà Nội bao nhiêu km?

    Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích khá rộng nằm ở cực Bắc miền Trung nước ta, với vị trí không quá xa Hà Nội, có đủ cả vùng biển và núi nên Thanh Hóa là địa phương có nhiều điểm hấp dẫn du khách, đặc biệt là các tour du lịch Biển Sầm Sơn hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt người tới tắm biển và thưởng thức những món ăn ngon của vùng này. Từ thành phố Thanh Hóa của tỉnh Thanh Hóa tới thủ đô Hà Nội có độ dài địa lý khoảng 160km.

    Có 3 cách thức di chuyển từ Thanh Hóa đến Hà Nội

    Nếu di chuyển bằng phương tiện cá nhân

    Bạn có thể đi từ Thanh Hóa lên Hà Nội bằng xe máy hay xe ô tô chỉ mất tầm khoảng 3h đồng hồ.

    Tuyến đường 1: Qua QL1A và ĐCT Hà Nội – Ninh Bình/ĐCT01, khoảng cách 161 km, thời gian đi bằng ô tô hết 2h46p

    Điểm xuất phát: thành phố Thanh Hóa.

    Đi theo QL 1A đến ĐCT Hà Nội – Ninh Bình/ĐCT 01 tại Yên Hồng

    Đi dọc theo ĐCT Hà Nội – Ninh Bình/ĐCT 01 đến đường Nguyễn Xiển tại Hạ Đình. Đi theo lối ra Hà Nội từ ĐCT 20

    Đi theo Nguyễn Trãi/QL6 đến Cầu vượt Ngã Tư Sở tại Ngã Tư Sở

    Lưu ý: Khi di chuyển bằng phương tiện cá nhân nhớ mang đầy đủ giấy tờ xe, chấp hành đúng luật an toàn giao thông đường bộ. Ngoài ra cần một chiếc smart phone để tra Google Map bất cứ khi nào cần.

    Nếu di chuyển bằng xe khách

    Nếu di chuyển bằng tàu

    Các bạn có thể mua vé tàu Thống Nhất đi Hà Nội tại các ga tàu gần với địa điểm của mình với giá vé từ 56.000 – 235.000 đồng.

    Danh sách các ga tàu ở Thanh Hóa

    Ga Bỉm Sơn: Bà Triệu, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa

    Ga Đò Lèn: Tiểu khu III, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, Thanh Hóa

    Ga Nghĩa Trang:Quốc lộ 1A, Xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa

    Ga Thanh Hóa: Số 08/19 Dương Đình Nghệ, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa, Thanh Hóa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vé Xe Hà Nội Đi Thanh Hóa Giá Rẻ 24H Lịch Trình Chở Khách
  • Tổng Hợp Danh Sách Xe Khách Thái Bình
  • Top 29 Xe Limousine Hà Nội Thái Bình Giường Nằm Chất Lượng Cao Giá Rẻ
  • Từ Hà Nội Đi Thái Bình Bao Nhiêu Km?
  • Nhà Xe Vận Chuyển Hàng Hà Nội Về Sóc Trăng
  • Tour Du Lịch Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Quán Ăn Ngon Nhất Ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc Bạn Nên Ghé Qua 2022
  • 20 Món Ngon Tam Đảo +{List} Địa Chỉ Các Quán Ăn Ngon Ở Tam Đảo
  • 8 Quán Ăn Ngon Tại Tam Đảo Bạn Nên Ghé Thăm
  • Review 20 Nhà Hàng Quán Ăn Ngon Vĩnh Phúc Tam Đảo Nhất Định Phải Ghé
  • Phương Pháp Phòng Tránh Và Điều Trị Bênh Hô Hấp Ở Gà Chọi
  • Tour Du lịch Thanh Hóa – Hạ Long – Tuần Châu 3 ngày 2 đêm trọn gói tại Thanh Hóa. Mùa hè năm nay có nhiều Ưu đãi hấp dẫn

    Trong chuyến TOUR HẠ LONG TUẦN CHÂU d u khách sẽ đến với Đảo tuần châu nằm ở phía Tây Nam của thành phố Hạ long. Đây là hòn đảo đất lẫn phiến thạch duy nhất trong 1.969 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong điểm kết nối của vùng Di sản thiên nhiên thế giới Hạ long. Đảo có diện tích khoảng 400 ha, được thiên nhiên ban phú cho một điều kiện tự nhiên tuyệt đẹp. Với thảm cát trắng mịn trải dài 6km, làn nước biển trong xanh bao quanh hơn 200 ha rừng thông xanh mướt. Khí hậu mát mẻ quanh năm đón gió biển thổi vào, đảo Tuần châu xứng đáng là nơi để xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp lý tưởng là điểm đến không thể thiếu trong các tour hạ long tuần châu

    Ngày 1: Thanh Hóa – Hạ Long ( Ăn Trưa, Tối )

    06h00: Xe và hướng dẫn viên của công ty đón khách tại điểm hẹn khởi hành đi Hạ Long. 11h30: Quý khách tới Hạ long, ăn trưa tại nhà hàng (hoặc ăn trưa trên tàu).

    Chiều:Bắt đầu chuyến Tour hạ long tuần châu 3 ngày 2 đêm Du thuyền thăm Vịnh Hạ Long- kỳ quan của thế giới, du khách dừng thuyền để lên thăm động Thiên Cung – Cung điện của trời” và hang Đầu Gỗ (hay còn gọi là hang Dấu Gỗ), là nơi gắn liền với câu chuyện lịch sử chống quân Nguyên – Mông năm 1288 của vua Trần Hưng Đạo. Sau đó hành trình trên du thuyền đi giữa Hạ Long với hàng ngàn đảo đá sừng sững du khách sẽ có cảm giác như đ i vào thế giới động vật trải qua triệu năm hoá đá. đó là: đảo Rồng, hòn Gà Chọi, hòn Cóc……

    17h00: Tàu quay trở về bến xe đón quý khách về khách sạn nhận phòng, nghỉ ngơi và ăn tối. Buổi tối Quý khách có thể tự do dạo chơi bãi biển, thăm công viên Hoàng Gia, dạo chơi thành phố biển về đêm và đặc biệt tham quan khu chợ quê nơi diễn ra các hoạt động náo nhiệt nhất của thành phố Hạ Long về đêm.

    Ngủ đêm tại Khách sạn trên đảo Hạ long

    Ngày 2: Hạ Long – Tuần Châu ( Ăn Sáng, Trưa, Tối )

    Sáng:Để chuyến Tour hạ long Tuần châu thêm thú vị. Quý khách tự do thuê xe đi mua sắm tại chợ Hòn Gai, Siêu Thị Hạ Long với những đặc sản đặc trưng của biển về làm quà: Chả Mực Hạ Long, mực khô… ăn trưa tại khách sạn. sau khi ăn trưa và trả phòng khách sạn, xe của công ty sẽ đón quý khách ra Tuần Châu nhận phòng, quý khách tự do tắm biển và tham gia những chương trình vui chơi giải trí của đảo Tuần Châu. Hoặc quý khách có thể đi xe đạp đôi len lỏi khắp các con đường vòng vèo quanh đảo, qua những rặng thông, đồi keo xanh mướt để rồi lên đỉnh phóng tầm mắt bao quát cả 1 vùng đất Hạ Long mênh mông, huyền ảo.

    Tối: Quý khách tự do thăm quan khu trình diễn xiếc thú: Biểu diễn cá voi trắng cá heo hải cẩu, sư tử biển, thưởng thức chương trình biểu diễn nhạc nước bằng ánh sáng laser hoặc Quý khách có thể tự do đi dạo tắm biển, mua đồ lưu niệm, khám phá cuộc sống của ngư dân địa phương trên đảo

    Ngày 3: Tuần Châu – Thanh Hóa ( Ăn Sáng, Trưa )

    Sáng: Để tiếp tục hành trình 12h00 : làm thủ tục trả phòng, 12h30 Xe đón Quý khách rời Tuần Châu về Thanh Hóa, dừng chân ở nhà hàng tại Hải Dương, thưởng thức đặc sản Hải Dương bánh đậu xanh, bánh gai, vải khô… Xe đưa quý khách về Hà nội lúc 16h30. Kết thúc chuyến Tour hạ long Tuần châu .Quý khách ăn sáng và tự do tắm biển.ăn trưa tại khách sạn.

    Tour Hạ Long Tuần châu. Hẹn gặp lại Quý khách trong các chương trình Tour Hạ Long lần sau.

    Giá tour bao gồm cho Tour Hạ Long Tuần Châu:

    – Vận chuyển: Xe ô tô du lịch, chất lượng, điều hoà ghép theo lịch trình Thanh Hóa- Hạ Long – Tuần Châu – Thanh Hóa

    – Khách sạn tại Hạ Long tiêu chuẩn : Phòng đẹp có điều hòa, tivi, nóng lạnh, khép kín ( 2-3 người/ phòng )

    – Các bữa ăn tiêu chuẩn theo chương trình: 05 bữa chính, 02 bữa sáng

    – Hướng dẫn viên ghép Thành thạo, nhiệt tình

    – Vé thắng cảnh thăm Vịnh Hạ Long

    Giá tour không bao gồm trong tour hạ long tuần châu 3 ngày 2 đêm:

    – Vé thắng cảnh nhạc nước cá heo đảo tuần châu

    – Chi tiêu cá nhân, Đồ uống,

    – Phí ngủ phòng đơn

    – Trẻ em từ 1-2 tuổi miễn phí tiền tour,

    – Từ 2-11 tuổi tính 50% giá tour (ngủ cùng bố mẹ nhưng không thêm giường).

    – Từ 11 tuổi trở lên tính như người lớn

      Giá trên áp dụng cho khách lẻ ghép đoàn và cho Tour riêng , đoàn từ 30 khách trở lên .

    Hotline: 0975.210.045 – 0944.790.326

    http://datphongsamson.com/tour-du-lich

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Tnhh Thuốc Gà Chọi Ưu Việt
  • Gà Chọi Xám Thần Đánh Nhau
  • Cách Nuôi Gà Đá Đủ Lực, Sung Sức Và Khỏe Mạnh ” Đá Gà Thomo
  • Ngoại Hình Và Bản Lĩnh Của Giống Gà Shamo Huyền Thoại
  • Gà Chọi Đất Bắc Những Huyền Thoại Của Làng Gà Chọi
  • Bảng Giờ Tàu Ga Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Chơi Gà Cảnh, Thú Vui Tao Nhã
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Quảng Trị: Vui Chơi, Ăn Uống
  • Truyện Cười Hay: Chọi Gà
  • Năm Dậu Kể Chuyện Phá Án… Gà
  • Năm Đinh Dậu Kể Chuyện Phá Án… Chọi Gà
  • Bảng giờ tàu Ga Thanh Hóa với đầy đủ khung giờ khác nhau đi đến các ga giúp hành khách dễ dàng lựa chọn các chuyến đi phù hợp với nhu cầu của mình.

    Tổng quan các chuyến tàu khởi hành từ ga Thanh Hóa

    Ga Thanh Hóa là một trong những nhà Ga chính của hệ thống đường sắt Việt Nam, có địa chỉ tại số 19 Dương Đình Nghệ, P. Đông Thọ, Tp.Thanh Hoá, Thanh Hoá. Đây là nhà ga lớn phục vụ cho hành khách đi tàu ở các huyện tại Thanh Hóa khi có nhu cầu đi lại khắp các tỉnh thành khác có ga tàu trên cả nước.

    Từ Ga Thanh Hóa hành khách có thể lựa chọn các chuyến tàu:

    • Đón các tàu có số hiệu SE2, SE4, SE6, SE8 và TN2 để đi ga Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và Hà Nội.
    • Đón các chuyến tàu có số hiệu SE1, SE3, SE5, SE7, SE9 và TN1 để đi vào các ga phía Nam như: Minh Khôi (Thanh Hóa), Yên Trung (Hà Tĩnh), Hương Phố (Hà Tĩnh), Đồng Lê (Quảng Bình), Đồng Hới (Quảng Bình), Đông Hà (Quảng Trị), Huế, Lăng Cô (Huế), Đà Nẵng, Trà Kiệu (Quảng Nam), Phú Cang (Quảng Nam), Tam Kỳ (Quảng Nam), Núi Thành (Quảng Nam), Quảng Ngãi, Đức Phổ (Quảng Ngãi), Bồng Sơn (Bình Định), Diêu Trì (Bình Định), Tuy Hòa (Phú Yên), Giã (Khánh Hòa), Ninh Hòa (Khánh Hòa), Nha Trang (Khánh Hòa), Ngã Ba (Khánh Hòa), Tháp Chàm (Ninh Thuận), Sông Mao (Bình Thuận), Ma Lâm (Bình Thuận), Bình Thuận, Long Khánh (Đồng Nai), Biên Hòa (Đồng Nai), Sài Gòn.

    Bảng giờ tàu Ga Thanh Hóa

    Bảng giờ tàu ga Thanh Hóa đi ga Hà Nội

    Hiện tại, từ ga Thanh Hóa đi ga Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và Hà Nội có 5 chuyến tàu hoạt động mang số hiệu SE2, SE4, SE6, SE8, SE10 và TN2. Lịch trình cụ thể các giờ tàu chạy như sau:

    • Giờ tàu SE2 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi ga Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và Hà Nội lúc 02h17.
    • Giờ tàu SE4 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi ga Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và Hà Nội lúc 01h28.
    • Giờ tàu SE6 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi ga Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và Hà Nội lúc 15h35.
    • Giờ tàu SE8 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi ga Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và Hà Nội lúc 11:56.
    • Giờ tàu SE10 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi ga Nam Định và Hà Nội lúc 00:11.
    • Giờ tàu TN2 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi ga Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và Hà Nội lúc 23:36.

    Bảng giờ tàu ga Thanh Hóa đi các ga thuộc tỉnh thành phía Nam của tàu Thống Nhất:

    01:31

    Minh Khôi (Thanh Hóa), Yên Trung (Hà Tĩnh), Hương Phố (Hà Tĩnh), Đồng Lê (Quảng Bình), Đồng Hới (Quảng Bình), Đông Hà (Quảng Trị), Huế, Lăng Cô (Huế), Đà Nẵng, Trà Kiệu (Quảng Nam), Phú Cang (Quảng Nam), Tam Kỳ (Quảng Nam), Núi Thành (Quảng Nam), Quảng Ngãi, Đức Phổ (Quảng Ngãi), Bồng Sơn (Bình Định), Diêu Trì (Bình Định), Tuy Hòa (Phú Yên), Giã (Khánh Hòa), Ninh Hòa (Khánh Hòa), Nha Trang (Khánh Hòa), Ngã Ba (Khánh Hòa), Tháp Chàm (Ninh Thuận), Sông Mao (Bình Thuận), Ma Lâm (Bình Thuận), Bình Thuận, Long Khánh (Đồng Nai), Biên Hòa (Đồng Nai), Sài Gòn.

    Từ ga Thanh Hóa, có 6 chuyến tàu chạy vào các tỉnh thành phía Nam. Trong đó, giờ tàu chạy sớm nhất lúc 01:31 có ký hiệu SE1. Chuyến muộn nhất xuất phát từ ga Thanh Hóa lúc 22:25 của tàu SE3. Giờ chạy cụ thể của các tàu như sau:

    • Giờ tàu SE1 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi vào các ga phía Nam lúc 01:31 (danh sách các ga trên bảng giờ tàu)
    • Giờ tàu SE3 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi vào các ga phía Nam lúc 22:55 (danh sách các ga trên bảng giờ tàu)
    • Giờ tàu SE5 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi vào các ga phía Nam lúc 12:36 (danh sách các ga trên bảng giờ tàu).
    • Giờ tàu SE7 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi vào các ga phía Nam lúc 09:28 (danh sách các ga trên bảng giờ tàu).
    • Giờ tàu SE9 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi vào các ga phía Nam lúc 18:30 (danh sách các ga trên bảng giờ tàu).
    • Giờ tàu TN1 xuất phát từ ga Thanh Hóa đi vào các ga phía Nam lúc 17:16 (danh sách các ga trên bảng giờ tàu).

    Nên đặt vé tàu đi ga Thanh Hóa ở đâu?

    Có rất nhiều phòng vé, đại lý bán vé tàu tại khu vực Thanh Hóa và trên toàn quốc. Tuy nhiên, để chọn được phòng vé uy tín, có kinh nghiệm trong việc tư vấn và bán vé tàu hỏa, hành khách lưu ý những vấn đề sau:

    – Chọn các phòng vé tàu hỏa có địa chỉ văn phòng tại các Thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng, Vinh…

    – Có Tổng đài tư vấn & hỗ trợ chuyên nghiệp, ví dụ như Tổng đài bán vé của Phòng vé tàu Alltours là 1900 636 212

    – Có số điện thoại bán vé đẹp, dễ nhớ mang đến sự chuyên nghiệp: 02377 305 305 – 0335 023 023

    – Có website đặt vé tàu trực tuyến chúng tôi tích hợp sẵn các tính năng về bảng giờ tàu chạy, ký hiệu chuyến tàu, so sánh giá, giao diện bắt mắt, dễ nhìn.. giúp hành khách đặt vé nhanh chóng và dễ dàng nhất.

    Chúc hành khách có những chuyến tàu như ý!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gắn Tem Gà Bắc Giang Để ‘chọi’ Gà Lậu
  • Gà Rừng Mồi Và Cách Lai Tạo, Nuôi Dưỡng Cực Hay
  • Clip Đá Gà Cựa Sắt Hay
  • Soi Kèo Bóng Đá Anh Hôm Nay
  • Chọi Gà Men Say Lễ Hội Mùa Xuân
  • Hội Làm Vườn Và Trang Trại Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Cách Ngâm Rượu Nghệ Cho Gà Chọi Bất Bại Trước Đối Thủ
  • Điểm Danh 5 Loại Thuốc Tăng Lực Cho Gà Đá, Hóa Chiến Kê Dũng Mãnh Trong Nháy Mắt
  • Cho Gà Ăn Gì Để Lông Mượt? Hướng Dẫn Cách Đơn Giản Dễ Áp Dụng
  • Giả Công Ty Trung Gian Lừa Người Xin Việc Mùa Dịch
  • Kỹ Thuật Chăn Nuôi Gà Đá Cựa Sắt Đá Gà Thomo Campuchia
  • Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa (HVT-TH) thăm quan học tập và làm việc tại Trại giống gà Xuân Phú của công ty CP nông sản Phú Gia.

    Ngày 3/7/2019 đoàn công tác của HVT-TH do ông Lôi Xuân Len chủ tịch Hội dẫn đầu đến thăm quan học tập và làm việc tại trại giống gà Xuân Phú ( huyện Thọ Xuân).

    Trại gà giống Xuân Phú

    Đoàn đã được ông Đặng Hữu Phách trưởng ban quản lý dự án 4A (an toàn đầu tư, an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, an toàn môi trường) của công ty CP nông sản Phú Gia đón tiếp và làm việc.

    Trại giống gà Xuân Phú được xây dựng trên diện tích 16 ha, tổng mức đầu tư 310 tỷ đồng, có 2 khu trại nuôi gà hậu bị công suất 80 ngàn con/năm, 4 khu trại nuôi gà đẻ trứng có công suất 120 ngàn con/năm, nhà máy ấp trứng công suất 40 triệu con/năm và hệ thống các công trình phụ trợ khác. Trại được xây dựng theo công nghệ hiện đại do tập đoàn MASTER GOOD của cộng hòa HUNGARI chuyển giao. Chu trình sản xuất hoàn toàn tự động từ khâu chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý phòng trừ dịch bệnh, thu hoạch trứng, ấp trứng, phân loại bao gói sản phẩm…

    Từ giữa năm 2022, công ty CP nông sản Phú Gia đã nhập ngoại gà giống bố mẹ về nuôi tại trại gà giống Xuân Phú. Đây là trại nhân giống để cung ứng con giống đảm bảo chất lượng và an toàn dịch bệnh cho các trại vệ tinh của công ty và các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Hiện nay công ty CP nông sản Phú Gia đang tập trung phát triển các trại vệ tinh chăn nuôi gà thịt trên địa bàn các huyện nằm trong quy hoạch của tỉnh là Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Như Thanh, Triệu Sơn, Hoằng Hóa. Toàn bộ quy trình kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, chuồng trại…theo tiêu chuẩn châu âu để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giết mổ, chế biến thịt gà lớn và hiện đại bậc nhất Đông Nam Á, được xây dựng tại xã Hoằng Quỳ- huyện Hoằng Hóa. Các sản phẩm từ thịt gà của nhà máy được xuất khẩu đi các nước và vùng lãnh thổ là Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kong, Đài Loan, Singapo và một số thị trường truyền thống của tập đoàn MASTER GOOD tại Châu Âu.

    Có thể nói đây là nơi cung cấp con giống, thức ăn và mở rộng liên kết đáng tin cậy cho các hội viên HVT-TH trong sản xuất chăn nuôi gà theo hướng phát triển bền vững.

    Cuối buổi làm việc ông Lôi Xuân Len cảm ơn sự đón tiếp và làm việc nhiệt tình của ông Đặng Hữu Phách và chúc cho trại giống gà Xuân Phú cũng như công ty CP nông sản Phú Gia ngày càng phát triển vững bền. Trân trọng mời ông Phách giới thiệu về trại giống gà Xuân Phú cũng như CP nông sản Phú Gia vào kỳ sinh hoạt CLB Chủ trang trại của HVT-TH cuối tháng 7/2019.

    Hoàng Khắc Hải

    PCT.HVT-TH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chăm Sóc Gà Chọi Trước Khi Đá Để Gà Được Sung Hơn
  • Phương Pháp Huấn Luyện Gà Đòn Mang Lại Hiệu Quả Cao
  • Số Phận Và Nỗi Niềm Của Con Gà Chọi Bị Bỏ Rơi.
  • Kể Lại Số Phận Và Nỗi Niềm Của Con Gà Chọi Bị Bỏ Rơi
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Thanh Hoá Đẹp Mơ Màng Cần Check
  • Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Vé Tàu Từ Ga Đồng Hới Đi Thanh Hoá
  • Anh Lê Văn Sỉ: Thành Công Từ Nuôi Gà Sử Dụng Đệm Lót Sinh Học
  • Ông Nguyễn Minh Phúc, “thích Tâm Phúc” Là Sư Giả, Không Phải Tu Sĩ Pg
  • Sùi Mào Gà Thường Mọc Ở Đâu Và Cách Nhận Biết Bệnh Sớm
  • Bệnh Sùi Mào Gà Là Gì? Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Tốt Nhất
  • Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa

    Thanh Hoá là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ có toạ độ địa lý:

    Thanh Hoá có lãnh thổ rộng lớn: 11.129,48 km 2, là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong cả nước. Về vị trí địa lý, Thanh Hóa tiếp giáp với các tỉnh và nước bạn như sau:

    – Phía Bắc: giáp 3 tỉnh, gồm: Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình với đường ranh giới dài 175km.

    Phía Tây: giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDCND Lào với đường biên giới dài 192km.

    Thanh hoá nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta. Trong lịch sử nơi đây từng là căn cứ địa vững chắc chống ngoại xâm, là kho nhân tài vật lực phục vụ tiền tuyến.

    Tỉnh Thanh Hoá nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với 102 km đường bờ biển ở đây có thể phát triển hoạt động du lịch, khai thác cảng biển; có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt xuyên Việt và sân bay Thọ Xuân. Thêm vào đó, Thanh Hóa có quy mô diện tích lớn với nhiều vùng sinh thái khác nhau.

    Đặc điểm về vị trí địa lý trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Thanh Hóa.

    Các chấn động uốn nếp làm nảy sinh hiện tượng tạo sơn mãnh liệt. Đoạn uốn nếp Tam Điệp là mốc kết thúc giai đoạn “biển tiến” tạo ra bán đảo Đông Dương. Do vận động địa chất lãnh thổ Thanh Hoá nâng lên thành núi, đồi uốn nếp, xếp nếp, chia khối phân tầng… phức tạp và đa dạng. Trải qua 120 triệu năm chịu ảnh hưởng của chấn động tạo sơn Himalaya, lục địa Thanh Hoá có hiện tượng nâng lên, lún xuống và tiếp tục bị phong hoá. Kết quả là một số núi biến thành đồi, một số vùng biển được lấp đi thành châu thổ phì nhiêu như hiện nay. Cũng do hiện tượng nâng lên lún xuống, mắc ma trào lên mặt đất và đáy biển hình thành nên những loại đá quý, những dãy núi granit.

    Địa hình Thanh Hoá khá phức tạp, chia cắt nhiều và thấp dần theo hướng Tây – Đông. Từ phía Tây sang phía Đông có các dải địa hình núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Trong tổng diện tích 11.129,48 km 2 thì địa hình núi, trung du chiếm 73,3% ; đồng bằng 16% và vùng ven biển 10,7%.

      Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển của địa hình.

    Địa hình núi trung du gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn ở phía Nam. Đó là dải địa hình nằm ở rìa ngoài của miền Tây Nam Bắc Bộ đang được nâng lên, tiếp giáp với miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ. Đây là những khu vực núi thấp uốn nếp được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau, từ các đá trầm tích (đá phiến, đá vôi, cát kết, cuội kết, sỏi kết…) đến các đá phun trào (riolit, bazan), đá xâm nhập (granit), đá biến chất (đá hoa). Chúng nằm xen kẽ với nhau, có khi lồng vào nhau và điều đó làm cho phong cảnh thay đổi không ngừng.

    Địa hình đồng bằng được hình thành bởi sự bồi tụ của các hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên.

    Còn dải địa hình ven biển như sau: với các đảo đá vôi rải rác ngoài vụng biển, dòng phù sa ven bờ được đưa ra từ các cửa sông đã tạo nên những trầm tích dưới dạng mũi tên cát cô lập dần những khoảng biển ở phía trong và biến chúng thành những đầm nước mặn. Những đầm này về sau bị phù sa sông lấp dần, còn những mũi tên cát thì ngày càng phát triển rộng thêm, nối những cồn cát duyên hải thành những chuỗi dài chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dạng xoè nan quạt.

    Bao gồm có 3 dạng địa hình: núi và trung du; đồng bằng ven biển.

    – Địa hình núi có độ cao trung bình 600 -700m, độ dốc trên 25 0; ở đây có những đỉnh núi cao như Tà Leo (1560 m) ở hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1291m) ở tả ngạn sông Chu.

    – Địa hình trung du có độ cao trung bình 150 – 200m, độ dốc 12 – 20 0, chủ yếu là các dạng đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải. Dạng địa hình này rất đặc biệt, chỉ nhấp nhô lượn sóng và rất thoải.

    Dạng địa hình núi và trung du phân bố ở 11 huyện miền núi của tỉnh; là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nông – lâm nghiệp với các loại cây lâm sản và các cây như đậu, chè, lạc, mía… các cây trồng nói trên là cơ sở để phát triển ngành chế biến nông – lâm sản của Thanh Hoá.

    – Đồng bằng châu thổ Thanh Hoá được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải dài trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về phía biển ở mé Đông Nam. Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũ của sông Mã, sông Chu, cao từ 2 – 15m. Trên đồng bằng nhô lên một số đồi núi có độ cao trung bình 200 – 300m được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau. Còn vùng ven biển phân bố chủ yếu ở các huyện, thị xã: Sầm Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia. Trên địa hình này có các vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Mã, sông Yên… Vùng đất cát ven biển nằm ở phía trong các bãi cát, có độ cao trung bình từ 3 – 6m, ở phía Nam Tĩnh Gia, chúng có dạng sống trâu do các dãy đồi kéo dài ra biển. Bờ biển của đồng bằng Thanh Hoá là bờ biển phẳng với thềm lục địa tương đối nông và rộng. Trên địa hình ven biển này có nhiều bãi tắm nổi tiếng, như: Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến. Đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

    Về địa hình của Thanh Hoá rất phong phú, đa dạng; là điều kiện để Thanh Hoá phát triển các ngành nông – lâm – ngư nghiệp toàn diện và cho phép chuyển dịch cơ cấu dễ dàng trong nội bộ từng ngành. Nhiều cảnh quan đẹp kết hợp giữa rừng – biển – đồng bằng là điều kiện để phát triển du lịch, dịch vụ. Độ cao chênh lệch giữa các vùng miền núi, trung du, đồng bằng với nhiều hệ thống sông suối, tạo ra tiềm năng thuỷ điện khá phong phú…

    Thanh Hóa có 14 nhóm đất chính với 28 loại đất khác nhau, đặc điểm các nhóm đất chính được giới thiệu trong bảng sau:

    CÁC NHÓM ĐẤT CHÍNH CỦA THANH HÓA

    Do sự tác động của các nhân tố: vĩ độ địa lý, quy mô lãnh thổ, vị trí trong hệ thống hoàn lưu gió mùa trong á địa ô gió mùa Trung – Ấn, hướng sơn văn, độ cao và vịnh Bắc Bộ mà Thanh Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với mùa hè nóng, mưa nhiều có gió Tây khô nóng; mùa đông lạnh ít mưa có sương giá, sương muối lại có gió mùa Đông Bắc theo xu hướng giảm dần từ biển vào đất liền, từ Bắc xuống Nam. Đôi khi có hiện tượng dông, sương mù, sương muối làm ảnh hưởng không nhỏ tới cây trồng nông nghiệp.

    Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22 – 23 0C, song phân hóa rất khác nhau theo từng tháng và giữa các vùng. Chênh lệch về cực trị của nhiệt độ trong năm cũng rất lớn: mùa hè, nhiệt độ tối cao có thể đạt tới 41 0C, song về mùa đông, nhiệt độ có thể hạ thấp xuống dưới 2 0 C ở vùng núi, kèm theo sương giá, sương muối.

    Lượng mưa trung bình phổ biến là 1.700mm, song có một số vùng đồi núi, lượng mưa lại rất cao. Ở vùng đồi núi, tốc độ gió tương đối đều trong năm, dao động trung bình từ 1 – 2m/s. Còn ở vùng đồng bằng ven biển, tốc độ gió có thể có sự chênh lệch ở các huyện ven biển vào mùa bão lụt từ tháng 6 đến tháng 11. Do sự chi phối của địa hình và những tương tác với các vùng lân cận mà Thanh Hoá có sự phân dị về khí hậu theo vùng, với 3 vùng khí hậu đặc trưng:

    bao gồm các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, phần Tây Bá Thước, Yên Khương của Lang Chánh, Yên Nhân, Bát Mọt, Xuân Khao của Thường Xuân. Nền nhiệt độ nói chung thấp, mùa đông khá rét, nhiệt độ thấp nhất có thể dưới 0 0 C, sương muối nhiều và một số nơi có sương giá với tần suất 1 ngày/1 năm. Khi có sương giá, sương muối làm cho một số cây ăn quả có thể bị chết hàng loạt. Vào mùa hè, lũ có thể xuất hiện vào thời gian tháng 7 – 8.

    Mùa hè dịu mát, ảnh hưởng của gió tây khô nóng không lớn, biên độ nhiệt năm nhỏ, lượng mưa, số ngày mưa, mùa mưa khác biệt khá nhiều theo các tiểu vùng. Mùa đông ít mưa. Độ ẩm không lớn lắm (trừ khu vực cao trên 800m mới có độ ẩm lớn và mây mù nhiều). Gió nói chung yếu, tốc độ trung bình từ 1,3 – 2m/s.

    Lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm ngư nghiệp. Với chế độ nhiệt ẩm như vậy, đồng thời do sự phân dị phức tạp về địa hình mà Thanh Hoá có nhiều vùng có chế độ vi khí hậu khác nhau, tạo điều kiện phát triển các cây trồng nhiệt đới và cả các cây trồng á nhiệt đới, tạo nên sự đa dạng của hệ thống cây trồng. Tuy nhiên, cũng như các tỉnh vùng núi phía Bắc có mùa đông lạnh, khí hậu vùng núi Thanh Hoá cũng thường xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối, sương giá vào mùa đông, bão, lụt, áp thấp nhiệt đới về mùa mưa và hạn hán về mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Vì vậy, việc lựa chọn cây trồng thích hợp với từng tiểu vùng khí hậu là điều cần thiết.

    3.1. Tài nguyên nước

    Tài nguyên nước của Thanh Hoá khá phong phú. Tổng lượng nước mưa rơi xuống lãnh thổ hàng năm là 19 tỷ mét khối, lượng bốc hơi trung bình là 9 tỷ mét khối, còn lại 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra dòng chảy mặt và 0,3 tỷ mét khối sinh ra dòng chảy ngầm. Hàng năm hệ thống sông đổ ra biển 20 tỷ mét khối nước, trong đó có 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra trên lãnh thổ Thanh Hoá còn lại là nước sinh ra ở Tây Bắc và Lào.

    Modul dòng chảy mặt trung bình 20,4 – 38 lít/s/km2. Vùng đồng bằng biến thiên từ 20 – 30 lít/s/km2, ở miền đồi núi trên 30 lít/s/km2, lớn nhất là tại lưu vực sông Âm: 38 lít/s/km2. Chất lượng nước mặt khá tốt, trừ vùng hạ lưu vào mùa kiệt do chịu ảnh hưởng của thuỷ triều.

    Modul dòng chảy ngầm biến thiên từ 2 lít/s/km2 đến 20 lít/s/km2. Khu vực trung lưu sông Mã có modul dòng ngầm trên 20 lít/s/km2. Nhìn chung, chất lượng nước ngầm tốt, trừ một số khu vực ngoại vi thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, nước ở tầng mặt đã bị ô nhiễm. Các khu vực cửa sông, ven biển nước ngầm bị nhiễm mặn.

    Do nằm ở vị trí trung gian giữa các hệ thực vật Himalaya, Hoa Nam, Ấn Độ – Myanmar, Malaysia – Indonesia và sự tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa trên nền thổ nhưỡng và địa hình khác nhau, Thanh Hoá có hệ thực vật rất phong phú. Rừng Thanh Hoá tập trung một số loại thảm thực vật tiêu biểu sau:

    Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng, thường xanh, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài… Gỗ quý hiếm có lát, pơ mu, trầm hương. Gỗ nhóm II có sa mu, lim xanh, táu, sến. Gỗ nhóm III, IV có vàng tâm, dổi, de, chò chỉ… Các loại thuộc họ tre, nứa có luồng, nứa, vầu, giang, bương, tre. Ngoài ra, còn có mây, song, dược liệu, cánh kiến đỏ…

    Những kết quả điều tra cho thấy ở Thanh Hoá hệ động vật rừng rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả động vật trên cạn lẫn động vật dưới nước, cả động vật bản địa lẫn động vật di cư đến, cả động vật tự nhiên lẫn động vật do con người tạo ra, v.v.. Thanh Hoá có một số dạng quần cư động vật chính như: quần cư động vật đồng ruộng đồng bằng và đồi thấp; quần cư động vật ở rừng tre, nứa, vầu, giang; quần cư động vật ở rừng cây bụi, trảng cỏ; quần cư động vật ở rừng gỗ và trảng cây; quần cư động vật nước ngọt…

    Thanh Hoá có nhiều loài động vật đã được ghi vào sách Đỏ, bao gồm:

    – Các loài đang bị tiêu diệt như: nhóm thú voọc mông trắng, voọc vá, voọc đen tuyền, vượn đen bạc má, gấu đen, gấu ngựa, báo mai hoa, hổ, voi, hươu sao, bò tót, sơn dương, trâu rừng; nhóm chim có trĩ, gà lôi; nhóm bò sát, lưỡng cư có rắn hổ mang chúa.

    – Các loài sắp bị tiêu diệt: nhóm thú cu li nhỏ, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc, khỉ đuôi lợn, voọc xám, báo lửa, báo gấm, cheo cheo nam dương, tê tê, sóc bay; về chim có cò chìa, hồng hoàng; về bò sát lưỡng cư có kỳ đà nước, thằn lằn, rắn hổ trâu, rùa híp, rùa núi vàng, giải. Nhóm động vật không xương sống có trai cóc hình tai, cà cuống; về thú có cầy mực, dơi thuỳ frit, sóc bay lông tai; về chim có bồ nông chân xám, choắt chân vàng lớn, mòng biển mỏ đen; về động vật không xương sống có cua Kim Bôi, cua Cúc Phương. Một số loài khác như tắc kè, rắn cạp nong, rắn hổ mang cũng có nhiều song cũng đang bị săn bắt quá mức nên số lượng suy giảm nhanh chóng…

    Tài nguyên Khoáng sản Thanh Hóa

    Thanh Hoá là một trong số ít các tỉnh ở nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng, có những tiền đề địa chất khá thuận lợi cho các quá trình tạo khoáng. Kết quả điều tra đến nay cũng đã cho thấy lãnh thổ Thanh Hoá có nhiều loại hình khoáng sản khác nhau, bao gồm:

    Ngoài ra, Thanh Hoá còn một số loại khoáng sản khác: thạch anh tinh thể ở Thường Xuân; đá quý như topa, canxedoan, berin ở Thường Xuân; graphit ở Quan Hoá; nước khoáng ở một số điểm thuộc các huyện Thường Xuân, Bá Thước, Lang Chánh và Quan Hoá.

    Bản đồ tài nguyên biển Thanh Hóa

    Vùng biển Thanh Hoá có diện tích 17.000 – 18.000km2, gấp 1,6 lần diện tích đất liền. Đường bờ biển có dạng cánh cung dài 102km. Bờ biển tương đối phẳng, nhưng bị chia cắt bởi 7 cửa lạch. Các cửa sông đều là những khu vực tự nhiên rất nhạy cảm và có năng suất sinh học cao. Từ Nam Sầm Sơn đến Quảng Xương có inmenhit, trữ lượng 73.500 tấn. Đây là loại nguyên liệu quan trọng để sản xuất que hàn, men sứ. Bờ biển Tĩnh Gia có trữ lượng lớn cát trắng để sản xuất thuỷ tinh. Các bãi triều rộng ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương… là nơi nuôi trồng thuỷ sản. Ven bờ cũng có nhiều đồng muối ở Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia.

    Ven biển Thanh Hoá có đảo hòn Nẹ cao, đảo hòn Mê, cụm đảo Nghi Sơn và hàng loạt đảo nhỏ như: hòn Đót, hòn Miệng, hòn Vạt, hòn Góc, v.v.. Diện tích đảo của tỉnh khoảng 800ha. Về mặt tài nguyên và môi trường, có thể xây dựng các khu bảo tồn biển xung quanh các đảo nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học biển đồng thời cũng là cơ sở cho hoạt động du lịch. Với vị trí của mình các đảo này có vai trò tiền tiêu trong việc bảo vệ đất liền song các đảo này cũng chính là điểm tựa để phát triển kinh tế hướng ra biển.

    Dải ven bờ biển Thanh Hoá có diện tích bãi triều trên 8.000ha (chưa tính bãi triều 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc mỗi năm bồi tăng thêm từ 10 – 50m) là nguồn tài nguyên lớn về nuôi trồng thuỷ sản nước lợ như tôm sú, tôm he, cua và rong câu… Diện tích nước mặn khoảng trên 5.000ha, phân bố chủ yếu ở vùng đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, cá cam, trai ngọc, tôm hùm dưới hình thức nuôi lồng bè. Ngoài ra với hàng ngàn hecta vùng nước mặn ven bờ, thuận lợi nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, sò, ngán… Đặc biệt là với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, khu kinh tế Nghi Sơn đã và đang được xây dựng (theo Quyết định 102/2006 của Thủ tướng Chính phủ) với nhiều hạng mục công trình lớn như: cảng nước sâu, nhà máy xi măng, sân bay… sẽ mở ra nhiều hướng phát triển mới cho dải ven biển nói riêng cũng như cho cả tỉnh nói chung./.

    (Ban Biên tập – Sưu tầm và biên soạn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vé Tàu Lửa Đi Vĩnh Phúc
  • Khởi Nghiệp Từ Việc Nuôi Gà Đẻ Trứng, Lãi Trên 12 Triệu Đồng/tháng
  • Kỹ Thuật Làm Chuồng Nuôi Gà Đẻ Trứng. Các Mẫu Chuồng Cho Gà Đẻ Trứng
  • Trại Gà Cao Lãnh Đồng Tháp
  • Đặc Sản Gà Hồ Bắc Ninh
  • Thanh Hóa: Gà, Vịt Đặc Sản Đắt Hàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảng Hóa Trị Hóa Học Cơ Bản Và Bài Ca Hóa Trị
  • Cáo, Thỏ Và Gà Trống
  • Xem Lỗ Huyệt Gà, Kiếm Gần Trăm Triệu Mỗi Tháng
  • Bán Gà Chọi Giống Thuần Chủng
  • Khởi Nghiệp Từ 300 Con Gà, Chàng Trai Đất Hòa Bình Trở Thành Ông Chủ Trang Trại Thu Nhập Hàng Trăm Triệu Mỗi Năm
  • Một số hộ chăn nuôi ở Thanh Hóa cho biết, gia cầm, thủy cầm đặc sản nuôi theo hướng hữu cơ rất đắt khách.

    Gà đặc sản được khách hàng đặt mua hết.

    Trang trại King Food tại phường Quảng Thành, TP. Thanh Hóa chuyên nuôi các loại gà đặc sản như gà mây, gà Mông, vịt Cổ Lũng… Cách đây ít ngày, chủ nhân của trang trại này đã xuất chuồng trên 2.000 con gà Mông, hơn 200 gà mây và khoảng 3.000 con vịt Cổ Lũng… Vì vậy, thời điểm này, trang trại chỉ còn lại một ít gà, vịt bố mẹ.

    Ông Trương Tiến Hải, chủ trang trại King Food cho hay, những năm trước, phải đến sau ngày 20 tháng Chạp gia đình ông mới xuất chuồng hết gà vịt thương phẩm. Tuy nhiên, năm nay, do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi nên sức mua đối với gia cầm, thủy cầm tăng đột biến. Đến thời điểm này, trang trại đã hết hàng, công nhân được nghỉ tết sớm.

    “Trang trại chỉ còn gà, vịt bố mẹ; gà, vịt thương phẩm đã xuất cách đây ít ngày. Nhìn chung năm nay hàng xuất sớm hơn năm trước và cũng được giá hơn. Gà Mông bán với giá 160 nghìn đồng/kg hơi, vịt Cổ Lũng 100 nghìn đồng/kg… Mấy ngày nay, khách đến hỏi nhưng không còn hàng nữa” – ông Hải cho hay.

    Theo ông Hải, gà, vịt ở trang trại King Food nuôi bằng thức ăn tự phối trộn, nguồn gốc hữu cơ. Sau khi gà nuôi được khoảng 1-2 tháng, ông di chuyển đàn gà về vườn rừng tại các huyện Thạch Thành, Triệu Sơn, Hoằng Hóa… Các vườn rừng này được chia thành các ô khoảnh riêng biệt. Gà được nuôi khoảng 4-5 tháng nữa mới xuất bán. Ngoài thức ăn tự phối trộn gà sẽ tự tìm kiếm thức ăn trong tự nhiên, vận động nhiều nên thịt săn chắc, chất lượng thơm ngon.

    Với cách làm này, từ nhiều năm nay, King Food đã thiết lập được một mạng lưới khách hàng rộng lớn và khá ổn định. Các sản phẩm từ trang trại King Food được đưa vào các nhà hàng trên địa bàn tỉnh và các cửa hàng ở Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang… Ngoài việc xuất gia cầm, thủy cầm hơi, trang trại King Food còn giết mổ, đóng gói chân không để xuất cho những khách hàng có nhu cầu.

    Ông Hải cho biết thêm, nhu cầu gia cầm, thủy cầm đặc sản nuôi theo hướng an toàn sinh học, chăn nuôi hữu cơ đang tăng cao. Bình quân, mỗi năm trang trại King Food xuất ra thị trường khoảng 12-13 tấn gà đặc sản các loại và 8 tấn vịt Cổ Lũng. Vì nhu cầu đang tăng cao nên ông đang có ý định mở rộng quy mô chăn nuôi của trang trại.

    Bà Trịnh Thị Lý, chủ hộ chăn nuôi gà tại thôn 5, xã Xuân Du (Như Thanh) cho hay, gia đình bà đã nuôi được khoảng 1,5 nghìn con gà ri lai chọi; 500 con gà ri và 100 con gà lai Đông Tảo. Thời gian đầu trong chu kỳ nuôi, trang trại cho gà ăn thức ăn công nghiệp, sau đó giảm dần và cắt đứt hoàn toàn ở 2-3 tháng nuôi cuối cùng trước lúc xuất bán. Vì thế, không chỉ số gà được xuất cho các chủ hàng đã hợp đồng, số còn lại cũng được khách hàng đặt mua thường xuyên.

    Gà đặc sản được nuôi theo hướng hữu cơ.

    “Đến thời điểm này, gần như toàn bộ số gà trong trang trại tôi đã xuất bán hết. Nhìn chung, gà năm nay dễ bán, giá cao hơn thời điểm này năm trước 10-15%. Riêng gà lai Đông Tảo có mẫu mã bắt mắt hiện đã được khách đặt mua gần hết” – bà Lý cho hay.

    Ông Nguyễn Đình Tuấn, chủ trang trại chăn nuôi tổng hợp tại xã Đông Thanh, Đông Sơn cũng tự tuyển chọn gà ri bản địa sau đó cho lai với gà chọi. Quy trình nuôi của trang trại này áp dụng chặt chẽ các biện pháp an toàn sinh học và chăn nuôi theo hướng hữu cơ.

    “Gà nở ra chỉ cho ăn cám công nghiệp thời gian đầu để tăng kích thước hình thể và thể lực, sức khỏe. Trong chu trình nuôi, tỷ lệ thức ăn công nghiệp sẽ giảm dần và sau đó nuôi hoàn toàn bằng thức ăn tự phối trộn. Hiện nay, tôi nuôi giun quế làm thức ăn cho gà; ủ lên men thức ăn để giúp gà nhanh lớn, chống chọi tốt với dịch bệnh. Cách nuôi này vừa giảm chi phí thức ăn vừa cho sản phẩm thơm ngon nên được khách hàng ưa chuộng”, ông Tuấn chia sẻ.

    Cũng theo ông Tuấn, hiện đàn gà nuôi trong trang trại của ông đã được các chủ nhà hàng, các chuỗi cửa hàng trong và ngoài tỉnh đặt mua hết. Giá gà năm nay cũng cao hơn năm trước.

    Võ Văn Dũng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Gà Chép Tay 5
  • 200 Hộ Dân Tham Gia Chăn Nuôi Gà Sạch Ở Triệu Phong Đều Có Lãi
  • Thực Đơn Và Cách Làm Cơm Hộp Văn Phòng Cả Tuần Ngon Miệng Mà Đơn Giản
  • Chuyện Động Trời Ở Lò Giống Gia Cầm Lớn Nhất Nước
  • Trường Mầm Non Bạch Hạ, Địa Chỉ Tin Cậy Của Các Bậc Phụ Huynh
  • Danh Nhân Xứ Thanh Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Trong Bách Chiến 3Q Ngoài Dàn Kỹ Năng Của Tướng Thì Người Chơi Còn Còn Rất Nhiều Đại Chiêu Khác Để Dùng Nữa!
  • Chọi Gà Là Gì? Tìm Hiểu Về Lễ Hội Chọi Gà Hằng Năm
  • Nhiệt Độ Ấp Trứng Gà Ta, Gà Chọi, Gà Tre, Gà Đông Tảo Là Bao Nhiêu?
  • Bọc Ghế Chơi Game, Thay Vỏ Bọc Da Ghế Gaming Tại Hà Nội
  • Gà Cựa Là Gì, Xem Ở Đâu, Phân Biệt Đá Gà Cựa Và Gà Nòi
  • Tự là Bá Đạt, hiệu Mai Phong, quê làng Phủ Lý, nay thuộc huyện Thiệu Hóa, làm quan đời nhà Trần đến chức Thượng thư (1366).

    Tác phẩm ông chỉ còn lại 7 bài thơ, và một bài văn bia. Ông cực lực công kích Phật giáo, đề cao Nho học.

    Đương thời, và cả sau này nữa, ông và ông Phạm Sư Mạnh rất được đề cao. Phong cách và tài năng Lê Quát và Phạm Sư Mạnh khiến mọi người ca ngợi.

    Con trai Lê Quát là Lê Giốc đỗ Tiến sĩ năm 1334, đánh trận Chiêm Thành, bị bắt, chửi giặc mà chết, được phong là Mạ tặc Trung Vũ hầu.

    Có hiệu là Mai Trai, người làng Hải Lịch, huyện Lôi Dương, nay là thôn Đông Phương Hồng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Xuất thân là một thầy giáo nông thôn, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, có tên trong 18 người dự hội thề Lũng Nhai. Ông cùng với Nguyễn Trãi, là mưu thần của Lê Lợi, có công trong sự nghiệp giải phóng đất nước, được phong tước Khánh Thượng hầu, giữ chức Nhập nội Thiếu phó. Ông có tham gia chiến dịch, cùng Lê Bôi đi đánh Cầm Quí ở châu Ngọc Ma (1435) được toàn thắng.

    Lê Văn Linh là người cứng cỏi, thẳng thắn làm quan ba đời vua Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông. Khi Lê Sát bị giết, chỉ có ông dám can ngăn, mặc dầu vì thế mà bị giáng chức. Sau này, ý kiến của ông là đúng.

    Gia đình Lê Văn Linh có truyền thống văn học và tham gia chính sự. Các con ông: Lê Hoằng Dục là một nhà thơ, là bạn xướng hoạ với Lê Thánh Tông, có đi sứ Trung Quốc. Lê Cảnh Huy và Lê Năng Nhượng đều làm quan đến Quốc công.

    Nhân dân địa phương vẫn truyền tụng về Lê Văn Linh với tư cách là một thầy giáo. Đa số thanh niên được ông dạy dỗ đã trở thành tướng tài hoặc binh sĩ trong trại Lam Sơn. Vào Như Áng với Lê Lợi, ông cũng được giao việc dạy dỗ con cháu các gia đình nghĩa sĩ. Khi nhà Lê mở nước, tổ chức khoa thi, ông được cử làm Đề điệu (chủ khảo) cùng chấm với Nguyễn Trãi, lấy Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên (1442). Văn bia viết về ông còn cho biết là Nguyễn Trực, Lương Thế Vinh (?) đều là học trò của ông cả.

    Có lẽ ông thuộc dân tộc Mường, người thôn Dựng Tú, nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tham gia khởi nghĩa với Lê Lợi, đã tự nguyện thay Lê Lợi ra trận và hy sinh.

    Lê Thánh Tông gọi gia đình Lê Lai là “toàn gia trung hiếu”. Ba người con trai của ông đều hy sinh: Lê Lư tử trận ở Nghệ An (1425), Lê Lộ ở Trà Lân (1424), con út là Lê Lâm đánh Ai Lao bị trúng tên. Cháu nội của ông (con trai Lê Lâm) là Lê Niệm là một trọng thần, tài kiêm văn võ.

    Ông là người anh thứ hai của Lê Lợi, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, là một dũng tướng xuất sắc. Suốt ba triều vua, đi đánh dẹp từ Thái Nguyên đến Đồ Bàn đều khải hoàn rực rỡ.

    Ông còn là một nhà chính trị có biệt tài. Năm 1430, được cử vào trấn ở Châu Hoá, bãi trạm gác, bỏ sự nghiêm ngặt, chiêu mộ dân lưu tán, khuyên bảo làm ruộng, trồng dâu. Năm 1443, làm Đốc trấn Nghệ An, dân chúng đều mừng xem việc ông đến là trời giáng phúc cho dân. Năm 1447, vào đánh Đồ Bàn, khi tiến đến cửa Thi Nại, quân Chiêm hỏi: “Có phải ông Tư Mã đấy chăng?”. Ông tiến ra, cất mũ cho tướng Chiêm nhìn rõ mặt, thì tất cả tướng tá và binh sĩ đối phương đều hạ khí giới đầu hàng.

    Ông là cháu nội của Lê Lai, con của Lê Lâm, do chân ấm tử được làm việc trong triều, dần dần đảm đương nhiều việc lớn. Năm 1449, làm an phủ phó sứ An Bang, giữ gìn biên trấn vững vàng. Ông cũng có công, đánh Chiêm Thành, bắt được Trà Toàn ở Đồ Bàn, Trà Toại ở Quảng Nam. Năm 1480, lại đi đánh Bồn Man, đuổi Cầm Công, thanh thế lẫy lừng.

    Ông có công lật đổ Nghi Dân, tôn Lê Thánh Tông lên ngôi, rồi được làm quan đến Bình chương quân quốc trọng sự (1468).

    Lê Niệm có trình độ học vấn uyên bác, thường xướng hoạ thơ với Lê Thánh Tông. Năm 1463, phụ trách trường Quốc Tử giám; năm 1464, là đề điệu (Chánh chủ khảo) kỳ thi Hội.

    Ông cũng được dân chúng ngoài tỉnh Thanh thờ làm thành hoàng (như ở làng Phượng Trì – Ninh Bình, quê hương của Vũ Phạm Khải).

    Ông người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương, nay là huyện Thọ Xuân. Không rõ công phu học hành, chỉ biết là từ lúc trẻ đã ra giúp Trịnh Kiểm để khôi phục nhà Lê, làm quan đến Thị lang. Năm 1570, lại giúp Trịnh Tùng chống lại Trịnh Cối, chuyển sang chức Đô ngự sử khi đánh thắng Mạc, ông được thăng Thượng thư bộ Lại rồi thiếu phó Quỳnh quận công.

    Ông có tài chính sự, phụ trách nhiều bộ: Công, Hộ, Lại, Binh, giải quyết được nhiều việc khó khăn cho triều đình. Ông đã chủ trì kỳ thi Hội, lấy Nguyễn Thực đỗ đình nguyên hoàng giáp, cùng với 5 người đồng khoa, được dư luận khen là biết chọn nhân tài.

    Quê làng Bột Thái, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, Bùi Khắc Nhất là con trai cả giám sinh Bùi Doãn Hiệp và mẹ là bà Đỗ Thị Sy.

    Mồ côi cả cha mẹ từ sớm, ông được học trò của cha nuôi nấng. Cả hai anh em chăm chỉ học tập, đỗ Hương cống, rồi đỗ Bảng nhãn năm 33 tuổi. Được vua Lê tín nhiệm, ông giữ nhiều trọng trách trong triều, lên đến Hộ bộ rồi Binh bộ Thượng thư. Có câu đối khái quát được cuộc đời và sự nghiệp:

    Bốn mươi năm làm quan, trải ba triều, sáu bộ, ở con người ông luôn rạng toả một nhân cách lớn. Ông ghét thói xu nịnh nạn tham nhũng, hối lộ, luôn giữ cho mình một cuộc sống trong sạch. Nhiều việc làm của ông còn để tiếng thơm.

    Ông nổi tiếng vì đức tính thanh liêm: trả lại đôi hoa tai người cùng huyện đem đến hối lộ, khước từ vàng lụa quà cáp, rất công bình xét đoán không để nạn nhân bị hàm oan. Ông có câu nói rất hay: “Mệnh con người rất trọng, phép nước không được để tư tình mà can thiệp vào công lý”.

    Ông được nhân dân địa phương thờ làm phúc thần. Đầu thế kỷ, truy tặng là thượng đẳng thần.

    Người xã Cổ Định, nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn. Đỗ Hoàng giáp (1598), làm quan đầu đời Lê Trung Hưng, có đi sứ Trung Quốc (1608), rồi làm đến Thượng thư bộ Binh. Khi mất tặng tước Thái bảo, Diễm quận công.

    Ông có tài chính sự, luôn luôn đưa ra những phương sách, đề nghị nhà vua, nhà chúa (lúc này là Trịnh Tùng) chấn chỉnh việc cai trị. Liên tiếp nhiều năm, ông có các bản điều trần. Năm 1610, đề nghị chính sách đối với các tù trưởng vùng biên giới, không cho chuyên quyền. Năm 1615, cùng với Lưu Đình Chất, dâng khải xin không tuyển thêm binh lính để yên lòng dân. Năm 1618, lại cùng Ngô Tri Hoà đề xuất 6 vấn đề với nhà Chúa:

    Người làng Quỳ Chử, huyện Hoằng Hoá. Đỗ Đình nguyên Hoàng Giáp (1607), làm chánh sứ sang Trung Quốc, tước Phúc quận công, khi mất, truy tặng Thiếu sư.

    Ông có tài chính sự, thường đề xuất ý kiến với nhà Chúa định kế hoạch yên dân. Năm 1615, cùng với Lê Bật Tứ dâng khải xin đình chỉ việc tuyển binh. Năm 1618, lại dựa vào nhiều tai dị để phê bình những người cầm quyền cay nghiệt, vơ vét hết của cải của nhân dân. Năm 1623, ông phát hiện được âm mưu của nhóm Trịnh Xuân, Trịnh Đỗ toan gây bạo loạn, nên đã giúp cho Trịnh Tráng ổn định được tình hình.

    Người làng Thượng Cốc, huyện Lôi Dương, nay là vùng Cốc, huyện Triệu Sơn. Đỗ chế khoa hàng nhất giáp (1577) làm quan đời Lê Trung Hưng, dần dần đến Thượng thư bộ Lại, tước Vân Dương hầu.

    Ông giúp Vua, Chúa dẹp loạn, giữ gìn pháp độ trong triều. Với tính tình ngay thẳng, nổi tiếng là cương trực, được người đương thời ca ngợi.

    Ông còn là người thanh liêm đức độ. Làm quan tể tướng mà khi về hưu, nhà vẫn thanh bần, không có của dư. Gia đình ông cũng được khen là một gia đình văn hoá. Ông nội và chú ruột cũng đỗ Tiến sĩ đồng khoa (1499).

    Quê làng Vạn Hà, huyện Thụy Nguyên, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá. Đỗ Tiến sĩ (1667) làm quan thời Lê Trịnh, trải các chức Ngự sử, Thị lang rồi đến chức Tham tụng (Tể tướng). Khi mất, tặng tước Quận công.

    Ông nổi tiếng là người giản dị, khoan hoà đức độ, được nhân dân quí mến. Nên đã có câu:

    Dân gian cũng đồn đại câu hát:

    Là chỉ vào lòng ái mộ của dân chúng đối với ông, khi ông từ nơi trị nhậm trở về nghỉ ở quê nhà.

    Người làng Vàng, huyện Yên Định. Đỗ Bảng nhãn (1724) làm quan cả hai ban văn võ đến chức Tham tụng. Ông có tài chính sự, đã làm Đốc đồng Sơn Nam, Đốc trấn An Bang, phòng sát sứ Tây đạo, Nam đạo. Đã giữ chức Đại tướng, dẹp loạn ở biên trấn Thanh Hoá, lại về phụ trách các bộ Hộ, bộ Binh, kiêm coi việc ở Quốc tử giám.

    Ông còn nổi tiếng về đức độ, là người có “bụng dạ thản nhiên, rộng rãi, không câu nệ việc nhỏ nhặt”. Năm 65 tuổi (1760) về hưu, dạy học trò đỗ đạt rất nhiều. Ông dựng nhà ở bến sông, ngày ngày đọc sách, uống rượu đàm đạo với bạn già, không nghĩ gì đến chức tước cao sang của mình. Người đương thời ca ngợi ông: “Là bậc nguyên lão nhưng vẫn nhường bọn tuổi trẻ. Mọi việc làm xong cả, nhưng đến lúc thịnh, thì nhường cho người sau”.

    Cuối đời, ông lại được chúa Trịnh mời ra, đặt vào bậc Ngũ lão trong nước. Khi mất, tặng hàm Thái phó. Học trò ông có người nổi tiếng như Thám hoa Phan Kính.

    Tài liệu cũ cho biết ông là người ở huyện Cẩm Thuỷ, theo chúa Nguyễn vào lập nghiệp ở Đàng Trong, có mơ ước được thành thạo nghề kim hoàn. Ông xin với chúa Nguyễn Phúc Khoát, giả dạng là người Hoa chạy theo làn sóng di cư, để được làm một người hầu hạ trong nhà một chủ hiệu kim hoàn người Tàu. Một thời gian bí mật học được kỹ thuật rồi, ông trở về với Chúa Nguyễn.

    Chúa cho ông mở một cửa hàng kim hoàn ở làng Kế Môn (Phong Điền) thuộc tỉnh Thừa Thiên ngày nay. Vừa là cửa hàng buôn bán, vừa là nơi dạy nghề cho người dân Đàng Trong. Từ đó nghề này mới được mở mang.

    Nhà Tây Sơn nổi lên. Vua Quang Trung lập ngành ngân tượng. Cao Đình Độ theo về, được phong chức Lãnh binh. Người Phó lãnh binh lại là con trai ông, tên là Cao Đình Hương. Khi Gia Long lên ngôi, hai cha con ông vẫn được thu dụng, cho đến khi ông Độ mất năm 1810, thọ 75 tuổi. Năm 1821, ông Hương cũng qua đời.

    Học trò của hai ông ở khắp các tỉnh miền Nam, thờ các ông làm đệ nhất, đệ nhị tổ sư. Nhà thờ tổ sư gọi là nhà thờ Kim Hoàn, hiện nay ở phường Phù Cát (Huế).

    Người xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, đỗ Hương cống (1809), làm quan nhiều nơi, rồi về triều lên đến chức Thượng thư. Ông cũng có quân công, làm chức Tham tán dẹp loạn Quách Tất Công ở Ninh Bình. Từ đời Thiệu Trị là Cơ mật viện đại thần, kiêm Tổng tài Quốc sử quán. Khi mất truy tặng Thiếu bảo, Văn minh điện đại học sĩ.

    Người làng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, đỗ Thám hoa (1843), là vị Thám hoa đầu tiên của triều Nguyễn.

    Nhiều người thương tiếc ông. Phạm Văn Nghị làm thơ điếu, có câu:

    Người xã Lộc Tiên (nay là Hải Lộc) huyện Hậu Lộc. Có học chữ Hán, sớm giác ngộ, đi ra nước ngoài từ thời còn trẻ, hoạt động nhiều năm ở Trung Quốc thuộc nhóm yêu nước tiến bộ trong Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Bị địch bắt giam nhiều lần ở nhiều nhà tù khác nhau.

    Nét văn hoá nơi ông là ông sáng tác nhiều thơ ca yêu nước và cách mạng. Ông có vinh dự là được nhà cách mạng Hồ Chí Minh làm thơ tặng ở Trung Quốc (1943), nói lên tình đồng chí và ý thức cách mạng nhất trí giữa hai người. Sau Cách mạng 8-1945 ông là đại biểu Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ 1954, vì già yếu, về an dưỡng ở Hà Đông.

    Ông tiêu biểu cho lớp nhà Nho tân tiến, từ chủ nghĩa yêu nước và tư tưởng Khổng giáo đến với chủ nghĩa xã hội, đóng góp nhiều cho sự nghiệp hoạt động Cách mạng Việt Nam ở nước ngoài. Có những mẩu chuyện về ông lưu hành như giai thoại. Người ta trầm trồ về một nhà Nho cách mạng, có tên là ông Tú Đắc, để lại đôi guốc và bộ quần áo bên bờ Sông Mã, đánh lạc hướng kẻ thù và thoát hiểm an toàn. Người ta vẫn nhắc với nhau những câu thơ kêu gọi đoàn kết được mệnh danh là “Lời kèn thân ái”:

    Ông gây được tín nhiệm lớn với các đồng chí, đồng sự, rất có ý thức xây dựng quê hương, không muốn đặt mình vào vị trí cao, mà luôn luôn bám sát cơ sở. Ông có phong độ ung dung, hoà hợp được với mọi người, thể hiện nhân cách văn hoá đằm thắm, gây được cảm tình.

    Điều khá đặc biệt là ông không thực chuyên về mặt văn hoá, không đi vào nghiên cứu, làm thơ ít, mà đều là những lời thơ chân thật, bộc lộ sự trung thành và những câu ca dao xuất sắc, gây ấn tượng dồi dào:

    Trong giới tuồng chèo, người ta thường dùng tiếng Cả để chỉ vào những người diễn xuất sắc trong gánh hát. Nguyễn Ốn khi mới 26 tuổi đã được gọi là anh Cả, và vào 30 tuổi đã được gọi là bác Cả. Vì vậy tiếng tăm Cả Ốn trở nên quen thuộc khắp vùng. Ông thân sinh ra Cả Ốn là cụ Hai Lý, làng Quỳ Chử, xã Hoằng Quỳ (Hoằng Hoá) dẫn đầu một gánh hát riêng ở làng, đi biểu diễn khắp nơi trong huyện. Cậu bé Ốn học được nghề cha và được nhiều người bạn của cha bày vẽ, sớm đóng được những vai tuồng hát hay, múa dẻo. Ông trở thành một diễn viên Tuồng, tham gia nhiều gánh hát trong các huyện như gánh ông Bát Liễn, ông Ba Vân rồi vào các rạp lớn ở Thanh Hoá. Sau đó đi nhiều nơi ngoài tỉnh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông vào đội tuồng chèo Liên khu IV phục vụ bộ đội; đã được Thiếu tướng Nguyễn Sơn rất trân trọng khuyến khích. Từ 1954, ông vào đội văn nghệ trực thuộc Ty Văn hoá Thanh Hoá rồi làm Phó đoàn kiêm đạo diễn đoàn Tuồng Thanh Quảng (1963) đến năm 1967 thì về hưu. Năm 1993, ông được phong tặng là Nghệ sĩ Ưu tú (sau khi đã mất).

    Cả Ốn ham học, ham diễn, rất tâm huyết với nghề, đã đóng nhiều vở xuất sắc, thành công với những kép trắng, kép đỏ, kép xéo của tuồng. Ông nắm vững các tuồng thầy, tuổng cổ và cũng có khả năng xử lý ứng diễn trong những vở diễn. Ông có công đào tạo nhiều diễn viên tuồng chèo cho các đoàn văn công chuyên nghiệp và nghiệp dư trong tỉnh.

    Tên thật là Nguyễn Đắc Giới, quê ở Bút Sơn, Hoằng Hoá. Đỗ Thành chung, làm thợ, được kết nạp Đảng, hoạt động ở Hà Nội. Năm 1944, bị bắt giam ở nhà lao Hoả Lò rồi vượt ngục. Phụ trách in ấn báo Hồn Nước của Thanh niên cứu quốc. Sau 1945, công tác ở báo Sự Thật rồi vào quân đội, là người sáng lập báo Thủ Đô, báo Vệ quốc quân. Tham gia các chiến dịch ở mặt trận Việt Bắc từ năm 1947 đến 1950. Bị máy bay địch bắn ngày 16 – 12 – 1950.

    Cùng với cách mạng những hình ảnh mới, con người và nét sống mới đã xuất hiện trong xã hội Việt Nam. Nhà văn của thời đại mới phải nhạy cảm, nắm bắt được yêu cầu ấy. Lúc này, văn học Việt Nam dồi dào nhất là thơ và ca dao. Thôi Hữu xuất hiện, trung thành với sự phản ánh cuộc sống kháng chiến, với người bộ đội, người dân thường ở các làng mạc, xóm thôn, không đi vào các mảng đề tài khác. Những việc, những người, những tâm trạng của anh bộ đội cứ hiện ra, giản dị mà thấm thía. Thôi Hữu cứ nói sự thực, chân thành và thiết thực, không có cái say sưa bát ngát của xúc cảm lãng mạn.

    Và vì thế ta thấy con người bình thường trong thơ Thôi Hữu: những cô lái đò, những người dân công cũng hiện ra một cách thực thà và cảm động. Ông đã xuất phát từ lòng thương mến và niềm thông cảm, nên đã nói thực, không cần hoa lá gì. Thôi Hữu không gây ngạc nhiên, không tìm mơ mộng, là con người thật đi vào cuộc sống thật. Thôi Hữu chưa vươn lên được tầm cao. Ông mất sớm, nhưng đã là một nét mới trong Văn hoá Việt Nam lúc bấy giờ.

    Ai cũng biết, những huyền thoại và cả các giai thoại nữa, chủ yếu là những tư liệu không thể đem giám định theo phương pháp lịch sử. Nhưng phần lớn chính các loại tác phẩm này thường cung cấp cho chúng ta những ấn tượng sinh động nhất về xã hội và về con người. Có thể đây là những hiện tượng có cái lõi sự thật nào đó, được cảm quan nghệ thuật tôn vinh và có một giá trị phản ánh nhất định. Ở Thanh Hoá, những gương mặt lấp lánh sau các huyền thoại và giai thoại rất nhiều. Xin tạm kể ra một số gương mặt quen thuộc nhất.

    Không biết bà là vị thần như thế nào. Chỉ thấy làng Triều Dương (nay thuộc xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương và Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn thờ làm thành hoàng tôn là Thánh tổ (hay Thánh mẫu). Truyền thuyết nói bà có nhiều phép mầu, đã thi tài với thần Độc Cước, được thắng lợi. Thần Độc Cước phải nhận bà là chị. Khi làng tổ chức hội xuân, kiệu bà bao giờ cũng đi trước.

    Bà đã dạy cho dân làng biết kéo sợi, dệt súc. Dệt súc trở thành nghề chính, nghề truyền thống của dân làng.

    Hoàng Quang Hưng là người Trung Quốc. Từ đời Triệu Đà (?) ông sang Việt Nam, đến đất Cửu Chân dạy cho người địa phương là Trương Trung Ái làm nghề gốm. Các ông có kỹ thuật làm bàn xoay, cối xay để luyện đất và dập chum vại. Sau đó, hai ông lại ra vùng huyện Thanh Lâm (Hải Dương) mở lò. Dân Lò Chum (ở thành phố Thanh Hoá) thờ hai ông làm tổ nghề.

    Thần tích làng Mai Động (thành phố Hà Nội) nói là ông sinh năm Canh Dần (năm 22 trước Công Nguyên), chính quê ở Cửu Chân, có tài võ nghệ. Ông đến Mai Động mở lò võ dạy dân, rồi thầy trò cùng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Làng thờ ông làm Thành hoàng. Các thế hệ sau tôn ông làm tổ ngành Vật ở Việt Nam.

    Người họ La ở huyện Nga Sơn, tôn La Viện là thuỷ tổ, nhưng chưa rõ ông sống vào thời gian nào. Có ý kiến cho ông ở dưới triều nhà Lý, đã có tài dẹp sóng giúp vua. Vua Lý hành quân đường biển bị sóng to gió lớn, có cơ nguy đến binh thuyền. La Viện đã xuất hiện lướt mình trên biển cả. Tay áo trắng của ông phất lên, những đợt sóng hung dữ đều phải nép rạp cả xuống. Nhà vua đã phong ông là Áp lãng chân nhân (vị tiên có tài dẹp sóng).

    Ông không phải là người chính quán xứ Thanh, nhưng tên ông đã gắn bó vĩnh viễn với Thanh Hoá.

    Ông được xem là xuất hiện vào cuối đời Trần, làm quan đến chức Tri huyện nhưng lại bỏ đi sống cuộc đời thoát tục. Ông đã đến một cái động ở huyện Nga Sơn bây giờ, được gặp và kết hôn với tiên nữ Giáng Hương, sống một năm hạnh phúc. Nhưng khi nhớ nhà, ông đòi về làng cũ thì quê hương đã đổi khác, vì một ngày trên tiên bằng một trăm năm dưới trần. Ông muốn trở về cõi tiên thì không được nữa, đành đi phiêu bạt rồi mất tích trong núi Hoàng Sơn. Câu chuyện phổ biến cả miền Bắc và tỉnh Thanh Hóa. Tại Bắc Ninh có núi Tiên Sơn, tại Thanh Hoá có động Bích Đào, tên nôm là hang Từ Thức. Câu chuyện đã trở thành đề tài cho nhiều nguồn cảm hứng. Có cả những ca dao về ông, được lưu hành đến bây giờ:

    Nhưng các nhà thức giả lại lấy hiện tượng này làm một bài học nhân sinh quan. Lê Quí Đôn có ý kiến rất sâu sắc:

    Những gương mặt huyền thoại và giai thoại như vậy, còn có thể kể được nhiều hơn, nhất là khi ta tìm trong kho tàng Folklore phong phú. Song ta có thể lưu ý về một số gương mặt đậm nét hơn, sắc thái Thanh Hoá có phần rõ rệt hơn tất cả. Theo dòng thời đại, có thể nhận ra 6 gương mặt sau đây.

    Không thể khẳng định Lang Cun Cần là con người có thực, hay là một nhân vật huyền thoại, một nhân vật cổ tích. Nhưng Lang Cun Cần đã luôn luôn là một hình tượng đậm đà, được trìu mến và được tôn vinh trong lòng nhân dân Mường ở Thanh Hoá. Ở vùng dân tộc Kinh, ta thờ phụng Lạc Long Quân, Hùng Vương, dù biết chắc đó là huyền thoại, nhưng ta vẫn trân trọng là vị tổ của dân tộc, của quê hương Việt. Ở Thanh Hoá, Lang Cun Cần cũng được giành niềm trọng thị như vậy.

    – Ông hỏi kinh nghiệm của con Rùa để làm nên nhà cửa.

    – Ông cho người đi tìm lửa. Chuyện những bề tôi của ông gặp Thần Lửa phản ánh rất đúng nhu cầu cần lửa của thời cổ đại.

    – Ông nhờ được nữ thần Nàng Dặt cái Dành xin được các giống lúa nhà, lúa rẫy, mở mang việc canh nông, ruộng rẫy cho dân chúng. Vị nữ thần này còn gặp các bà tổ nuôi lợn, nuôi gà, xin giống về cung cấp cho mường.

    – Ông cho người đi tìm được trâu, thuần hoá trâu rừng thành trâu nhà.

    Bấy nhiêu hành động, sáng kiến cho ta cảm tưởng rằng Lang Cun Cần là một ông tổ văn hoá của dân tộc Mường. Có ông mới có ruộng vườn, có chăn nuôi, có sự sống. Ông phải trải qua nhiều chặng đường gay go, gặp những khó khăn nhất định, nhưng dần dần đã ổn định được một cuộc sống có văn hoá. Tiếp đó Sử thi còn cho thấy Lang Cun Cần đã cùng các con cháu giải quyết những vấn đề hôn nhân, những bất hoà trong nội bộ. Khi mọi việc yên ổn, đã dựng được lâu đài nguy nga tráng lệ, dẹp yên được những phản ứng giữa dân chúng với nhà Lang hoặc trong nội bộ anh em nhà Lang, thì Lang Cun Cần qua đời. Con ông là Lang Cun Khương được nối nghiệp, được lo xống áo, kiệu ngai và thành vua. Dân chúng rước vua về Đồng Chì Tam quan Kẻ chợ.

    Trước hết là ở ý thức về bản thân mình: tin tưởng về khả năng của mình có thể tự tạo nên cuộc sống. Người xưa không dám nghĩ đến điều đó, nên đã ghép cho An Tiêm cái lý luận về thuyết tiền thân và thuyết thượng đế, khiến cho nhà vua tức giận, nghe lời ton hót mà đày chàng ra biển khơi. Thực ra thì vấn đề không phải là tiền thân, mà là tự thân. Phải chăng ở xứ Thanh này, ngay từ thời Hùng Vương (hãy cứ tin như thế) đã lộ ra một quan niệm nhân sinh như thế.

    Mai An Tiêm còn có công khai phá ra được một vùng quê mới. Vùng đất ấy là một đảo hoang. Truyện cổ tích không cho biết được nhiều chi tiết, sử sách cố nhiên không thể nói đến, nhưng ta có thể hình dung, tưởng tượng đến cái quá trình làm sao cho miền sương cát mù khơi này có thể biến thành xóm làng trù phú xanh tươi, và nhất là thành một cảng thị sầm uất. Với vợ chồng An Tiêm, cuộc sống ở đây đã kết trái nở hoa và rất đặc biệt là đã tạo nên được sự giao lưu thông thương trên biển cả. Trong kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam, chỉ có hai câu chuyện cho ta một số tín hiệu về việc đổi chác hàng hoá, thông thương bằng con đường biển. Ấy là chuyện vợ chồng Chử Đồng Tử và đây là vợ chồng An Tiêm. Rõ ràng hai cặp vợ chồng này đã là những anh hùng văn hoá sớm nhất của đất nước ta trong lĩnh vực này. Dù họ không có thực, thì họ vẫn là những biểu tượng đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Vợ chồng Chử Đồng Tử, còn có sự trợ giúp của Phật, của Tiên, chứ vợ chồng Mai An Tiêm thì có bàn tay khối óc của mình. Đó là thêm một nét độc đáo nữa.

    Tiểu sử hành trạng của Lê Phụng Hiểu ai cũng đã rõ. Và chắc có người ngạc nhiên khi thấy xem ông là một gương mặt văn hoá của xứ Thanh. Thực ra, ông rất xứng đáng với danh hiệu ấy.

    Đến khi đi vào huyền thoại, Lê Phụng Hiểu lại trở thành một nhân vật, một hình tượng đặc sắc. Ông xuất hiện ở thế gian này vào thế kỷ thứ XI, lúc thần thoại đã lùi vào dĩ vãng. Vậy mà dân gian đã tô điểm cho ông thành một hình tượng thần thoại mới, một nhân vật khổng lồ như ở thời kỳ tiền sử, cổ sử xa xôi:

    – Ông có tài ăn khoẻ như Thánh Gióng ngày xưa. Cơm cà giành cho hàng trăm người mà một mình ông ăn hết.

    – Ông có tài nhổ cây, đánh cọp như các chàng dũng sĩ có thần lực ngày xưa.

    – Ông đã chiến thắng một thần núi ở bên Trung Quốc sang. Đó là ông thánh Cưu Sơn. Thánh Cưu thua phải nhận ông Bưng là anh. Ông lại đánh ngã một lực sĩ tên là Vồm chết hoá thành núi Vồm ở huyện Thiệu Hoá bây giờ.

    Như vậy, rõ ràng là Lê Phụng Hiểu đã được đi vào truyền thuyết dân gian và giữ một vị trí quan trọng. Đây là thần tượng khổng lồ, hào quang của thời cổ đại, lóe lên như ngọn đèn cạn dầu trước khi tắt hẳn.

    Chính vì vậy, mà Lê Phụng Hiểu đã trở thành một vị thánh. Tại Hoằng Sơn quê ông, người ta gọi là Thánh Bưng. Ở Hoằng Quỳ cách đó không xa, người ta gọi là Thánh Tến. Hàng năm, đền Thánh Tến mở hội. Loại hình nghệ thuật được sử dụng để thờ thần là một hình thức diễn xướng đặc sắc: Chèo Chải. Chèo chải chủ yếu gắn với ông Bưng; Có rất nhiều điệu hát, điệu múa và các bài thơ để “mừng công đức Thánh Tến”.

    Cho đến hôm nay vẫn chưa xác định được Phương Hoa là người có thực hay chỉ là một nhân vật truyện nôm. Cứ theo truyền văn (và có cả di tích thực địa) thì ở Hậu Lộc có họ Trần, ở Hoằng Hoá có họ Tào, ở Thạch Bàn có mả Thị Trinh. Nhưng sử sách lại không thấy ghi.

    Nói riêng về nhân vật Phương Hoa. Con người rất xứng đáng được ngưỡng mộ. Nàng hoàn toàn là hiện thân của tấm lòng thuỷ chung, son sắt hiếm có ở đời. Phương Hoa đã vượt lên trên tất cả mọi thử thách gay go. Hành động của Phương Hoa cũng không phải vì thanh danh, nề nếp của nhà họ Trần. So với những con người tiết hạnh xưa nay, Phương Hoa đã vượt quá xa, bóng trùm lên tất cả.

    So sánh với Mạnh Lệ Quân, cũng chung thuỷ, cũng giả trai, cũng đạt tới vinh quang cao nhất ở triều đình, nhưng Phương Hoa phải giải quyết những vấn đề rất thiết thực, rất cụ thể trong cuộc sống bình dị tối tăm ở nông thôn. Người yêu của Phương Hoa tuy cũng thuộc dòng dõi nhà quan, nhưng không đến mức quý tộc như chàng trai họ Hoàng, việc bi đát xảy ra là việc hàng ngày nông thôn Việt Nam xưa thường chứng kiến: quan lại tham nhũng, trộm cắp nhiễu nhương. Phương Hoa không ra làm quan đầu triều như Mạnh Lệ Quân, nàng cũng không luyến tiếc địa vị cao sang như cô tài nữ bên Trung Quốc. Câu chuyện có những nét tương đồng, nhưng hình ảnh Mạnh Lệ Quân không phải là hình ảnh mà người phụ nữ Việt Nam gần gũi, xem đó là bóng dáng của chính mình. Phụ nữ Việt Nam phải là Phương Hoa, với tất cả những phẩm chất đảm đang trung hậu. Đảm đang trung hậu một cách bình dị, phóng khoáng, chứ không nhuộm màu quý tộc, siêu nhân. Cô không những làm vinh dự cho phụ nữ Việt Nam, mà cho cả văn hoá Việt Nam, trong đó xứ Thanh được cái vinh dự là nơi sản sinh ra gương mặt ấy.

    Ở đất Mường Khoòng, ngày nay là xã Cổ Lũng thuộc huyện Bá Thước có lưu truyền câu chuyện một người con gái tài sắc tuyệt vời. Đó là chuyện Nàng Mứn.

    Không biết Nàng Mứn thực quê là ở đâu. Truyền thuyết kể rằng hồi bấy giờ vào khoảng đời vua Lê (?), vùng trên này loạn rừng, loạn cỏ. Gia đình anh em nhà Khăm Panh trôi dạt đồi này thung nọ, mãi mới kiếm được đất mường Khoòng, rủ nhau tìm cách làm ăn sinh cơ lập nghiệp ở đó. Khăm Panh tìm được Nàng Mứn làm vợ. Nàng đã xây dựng nên một gia đình tốt đẹp và còn khiến cho đất mường Khoòng trở nên thịnh vượng.

    Nhưng sau đó, Khăm Panh bị tên giặc phương Bắc là Khun Han lừa, bị mất cả cơ nghiệp. Thất cơ, Khăm Panh cùng vợ và các con, các em lưu lạc trong rừng vắng. Vừa uất ức, vừa hổ thẹn, Khăm Panh ốm chết giữa thung Eo Điếu. Nàng Mứn vô cùng đau đớn. Chôn cất chồng xong rồi, Nàng Mứn tập hợp dân bản lại, cùng với các em bàn cách đánh trả thù. Đích thân Nàng Mứn cầm quân, chỉ huy chiến đấu. Nhưng không thắng nổi địch. Nàng cũng phải hy sinh như chồng.

    Vợ chồng Khăm Panh mất đi nhưng không nguôi được nỗi căm thù vì bản mường, vì gia tộc. Khăm Panh đã hoá thành một con bướm vàng. Nàng Mứn đã hoá thành một con bướm trắng. Chính đôi bướm này đã bay chỉ đường cho con cháu của Khăm Panh tìm được nơi lẩn tránh, và cuối cùng đứa con sống sót của nàng đã khôn lớn trả thù được cho gia đình, mường bản. Đứa con ấy là Khăm Khong đã nói với dân bản:

    Không thể dùng phương pháp giám định lịch sử để thấy được sự thực Nàng Mứn là người thế nào? Nhưng vẫn phải nhận Nàng Mứn là một nhân vật văn hoá đặc sắc. Trong con người phụ nữ này, có người thực, có con người của truyện truyền kỳ. Nhưng nàng đã hiện ra là con người biết xây dựng bản mường, biết tổ chức cuộc sống, biết chiến đấu không mệt mỏi lúc sống cũng như lúc chết. Nàng còn là người yêu, người vợ, người bà luôn luôn giữ gìn truyền thống của gia đình, của quê hương – Nàng là một gương mặt văn hóa.

    Ở nước ta, hễ khi nói đến truyện cười thì phải nhắc đến truyện Trạng Quỳnh. Truyện Trạng Quỳnh là bao gồm nhiều dạng: Có thể là truyện hài hước, truyện giai thoại, có thể là truyện tiếu lâm (giới nghiên cứu đã xác định và phân biệt, chúng ta không cần nhắc lại).

    Vì những lý do ấy nên Trạng Quỳnh đã được gắn với xuất xứ Thanh Hóa. Đây là một gương mặt cười vẫn luôn luôn hiện ra cái dáng dấp xứ Thanh. Các nhân vật trong kho truyện cười này đều xuất xứ từ Thanh Hóa mà ra cả: Vua chúa, bà hoàng, quan thị, cho đến cả thành hoàng, bà mẫu v.v…, đều ở Thanh Hóa nhiều hơn, mặc dù xã hội Trạng Quỳnh là đủ triều đường, cung phủ, đền miếu, phố xá nông thôn. Cảnh sinh hoạt cũng đủ việc bình thường như chèo đò, bán quán, chọi gà, và cả chuyện ngoại giao, thi cử. Trạng Quỳnh biết nhìn vào nơi nào cũng phát hiện được chuyện đáng cười, và cái cười cũng có chất nông dân, pha đô thị, pha cả nét cung đình, giống như cái cười quen thuộc xứ Thanh (khác với nụ cười xứ Nghệ hay nụ cười Nam Bộ).

    Nhưng một điều đặc biệt, tự dân gian khẳng định nét truyền thống và khuôn mặt cười của xứ Thanh này, là nhân dân đã tự tạo lấy một cách áp đặt mà lại rất tự nhiên, để giành cho được Trạng Quỳnh về cho địa phương. Ấy là một sự khẳng định gương mặt văn hoá quê hương. Các nhân vật cười ở nhiều tỉnh, nhiều vùng khác, không có truyền thống này. Nhân dân đã cho Trạng Quỳnh phải là một ông tổ cười, có con cháu cũng là một nhân vật cười hẳn hoi. Người ta chấp nhận ông Xiển Bột (hay Xiển Ngộ) ở làng Bột (Hoằng Hoá, Thanh Hoá) theo dòng dõi Trạng Quỳnh, có những chuyện cười đúng theo phong cách Trạng, tất nhiên nghệ thuật và nội dung thì không bằng. Có thực là Xiển Ngộ mang cái “gien” Trạng Quỳnh (cách nhau đến 3 thế kỷ), vì cùng chung “huyết thống”, quê hương hay không, ta sẽ thẩm tra thêm. Nhưng rõ ràng lịch sử văn học Việt Nam đã muốn cho Trạng Quỳnh mở ra một dòng trào phúng. Mở dòng ở Thanh Hoá, và gợi cho các dòng khác ở miền Bắc, miền Nam. Đã mấy ai có được vinh dự ấy trong làng Cười đất Việt?

    Lịch sử Việt Nam và lịch sử Thanh Hoá đã ghi khá rõ về Bà Triệu. Mặc dù tư liệu vẫn chưa thật đầy đủ, nhưng hàng ngàn năm qua, Bà đã là một nữ anh hùng, một nhân vật lịch sử sống trong lòng các thế hệ. Hơn bao nhiêu nhân vật lịch sử khác, Bà trở thành một hình tượng đẹp, tiêu biểu cho văn hoá Việt Nam. Bà đi vào chính sử, truyền thuyết, ca dao. Bà tiêu biểu cho phẩm chất người Việt Nam nói chung, cho phụ nữ Việt Nam nói riêng và một phần nào cũng ghi được dấu ấn riêng của quê hương Thanh Hoá.

    Nét nổi bật về phương diện văn hoá ở Bà Triệu là ở lý tưởng phấn đấu của Bà. Lịch sử mãi mãi ghi chép câu nói của bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ta”. Điều tâm niệm độc đáo đó, không ngờ lại ở trong lòng một cô gái vào tuổi hai mươi, ở một vùng xa xôi như quận Cửu Chân hồi thế kỷ thứ III. Không biết câu danh ngôn này có phải do người đời sau đưa thêm vào nhằm mục đích tôn vinh Bà hay không, nhưng dù sao câu nói vẫn chứa đựng cái lõi lịch sử nhất định. Cái lõi ấy là, dù trong hoàn cảnh thời gian và không gian thế nào thì ý chí bất khuất của phụ nữ trẻ tuổi xứ Thanh vẫn là thường trực. Tư tưởng ấy chứng minh tinh thần độc lập, tiềm tàng của nhân dân ta trong thời đại bấy giờ, và sẽ bộc lộ đậm đà, rõ nét hơn trong những thế kỷ về sau.

    Sử sách không ghi được nhiều về Bà Triệu, nhưng đây là một sự kiện lịch sử độc đáo: Tài liệu cổ sử Trung Quốc đã không thể dấu diếm mà phải ghi chép rõ ràng. Những ngày thành công của Bà cũng ngắn ngủi, nhưng hình tượng của Bà đã tồn tại với thời gian. So với nhiều hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hoá của Việt Nam, thì hình tượng Bà Triệu đã sống động và đậm đà hơn cả (so với các nhân vật lịch sử ở các giai đoạn sau cũng vậy). Rất nhiều nét đã được nâng lên thành hình ảnh nghệ thuật có sức gợi cảm lớn. Một nàng nữ chúa đội khăn vàng, mặc áo vàng, ngồi trên con voi hùng dũng từ chốn rừng sâu, tung hoành suốt một dải núi rừng từ Ngàn Nưa đến Phú Điền. Rõ ràng là một hình ảnh đẹp.

    Trong ca dao thì câu này có lẽ xuất hiện lâu đời:

    Hình như sau đó, người dân xứ Thanh cũng chưa thực vừa lòng với hình tượng trên, dù đẹp đẽ, oai hùng nhưng chỉ mới nói được nét riêng của Bà Triệu. Không, Bà Triệu không phải là một cá nhân bà. Bà là tất cả phụ nữ Cửu Chân lúc bấy giờ, là cả phụ nữ Việt Nam sau này. Bà rất được các chị em hưởng ứng. Bà ở đó, trên con voi hùng dũng, nhưng bà cũng ở đây với đông đảo phụ nữ Cửu Chân: một lòng yêu nước, yêu chồng. Vì thế mà ta có thêm hai câu:

    Thật không có gì là bản sắc văn hoá hơn thế nữa.

    Nhữ Bá Sĩ đã có ý kiến rất hay. Bà Triệu có vú dài, vú lớn. Phải dài, phải lớn như vậy mới dồi dào nguồn sữa cho hàng muôn vạn con cháu bú. Con cháu sẽ bú, sẽ nhận lấy dòng sữa quật cường vô tận trong người mẹ anh hùng. Nét văn hoá ở đây qua Nhữ Bá Sĩ đã được tôn vinh một cách hùng hồn mà thuyết phục.

    Ông là người hương Phủ Lý, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá. Đỗ Bảng Nhãn năm 1247, được giữ chức Học sĩ viện Hàn lâm, kiêm Giám tu quốc sử. Cuối đời thăng Thượng thư bộ Binh, tước Nhân uyên hầu.

    Ông là cháu bảy đời của Lê Lương, một vị hào trưởng ở đất Ái Châu, đời vua Đinh Tiên Hoàng, nhưng đến đời Trần thì sa sút. Lê Văn Hưu là con của ông Lê Văn Minh và bà Đỗ Thị Hoà, lúc bé theo học thầy giáo họ Nguyễn ở làng Phúc Triền nổi tiếng thần đồng. Năm Đinh Mùi 1247, thi đỗ Bảng nhãn đồng thời với Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Thám hoa Đặng Ma La, rồi được giao nhiều chức vụ. Ông đã sống gần trọn một thế kỷ, trực tiếp tham gia chống quân Nguyên Mông lần thứ I (1258) và lần thứ II (1285).

    Lê Văn Hưu cũng là một thầy giáo. Thời kỳ làm môn khách cho các quý tộc họ Trần, ông đã là thầy dạy Thượng tướng Trần Quang Khải và hình như có dạy cả Bạch Liêu (người đỗ Trạng nguyên năm 1266, sau kỳ thi Bảng nhãn của ông 19 năm).

    Ông là thầy giáo, là nhà khoa bảng, nhà văn và nhà sử học đầu tiên mà xuất sắc của đất nước. Nhắc đến Thanh Hoá là phải nhắc đến ông. Lê Văn Hưu đúng là một gương mặt văn hoá toàn diện. Được cử vào Viện Hàm Lâm thị độc, ông đã giúp vua Trần xem xét các bài vở, bồi dưỡng cho lớp người hậu tiến. Những tấm bia đời sau ghi chép về ông, đều xưng tụng ông là bậc Thầy. Điểm đặc sắc nhất trong tư tưởng giáo dục của ông là tinh thần dân tộc.

    Ông mất năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông.

    Xét về tư cách nhà chính trị, người cầm đầu đất nước, Hồ Quý Ly đã có nhiều sáng kiến táo bạo, muốn xây dựng cho đất nước trở nên cường thịnh, vượt khỏi tình trạng suy thoái của thời Trần mạt. Và đây là một nhà chính trị có tầm nhìn văn hoá toàn diện. Ông đặt ra các phép hạn điền, hạn nô, định lại chế độ thuế khoá, cho phát hành bạc giấy, qui định việc đo lường. Ông cũng quan tâm đến các vấn đề cứu tế xã hội, lập các sở quảng tế, các kho lúa để phòng trợ cấp lúc mất mùa. Về quân sự, ông rất lo việc đối phó với nhà Minh xâm lược, nên chăm chú việc phòng thủ, nhất là ở các cửa biển, đồng thời tăng cường quân lực để hòng đối phó với tình hình. Sợ dân chúng không phục vì xem ông là một nguỵ triều, ông đã cố gắng biểu dương thanh thế, phát triển sự nghiệp Nam tiến, và cũng đã chiến thắng Chiêm Thành, thu được các đất Chiêm Động và Cổ Lũng.

    Ông cũng tỏ ra có khả năng nắm vững quyền chuyên chính của mình, dẹp yên được một số âm mưu đảo chính như hội thề Đốn Sơn của con cháu nhà Trần. Song mặc dầu có nhiều sáng kiến cải cách, có những cố gắng chỉnh đốn quốc gia, có cái nhìn văn hoá sắc sảo với thời đại, ông đã không được lòng dân. Bọn xâm lược nhà Minh cho các tướng Trương Phụ, Mộc Thạch kéo sang, quân ta kháng chiến mạnh mẽ, nhưng bị thất bại. Cả hai cha con và một số triều thần bị bắt. Nhà Hồ bị diệt, và nước ta bị thuộc nhà Minh suốt mười năm trời (từ năm 1406).

    Lê Lợi là danh nhân lịch sử. Lê Lợi là của cả Việt Nam, điều đó thì đã rõ ràng. Nhưng Lê Lợi là người Thanh Hoá, nên khi nói đến con người xứ Thanh, trước tiên là phải nhắc đến ông.

    Tuy nhiên, từ lâu, ta vẫn quen nhìn ở Lê Lợi một nhà lãnh tụ khởi nghĩa, một vị vua sáng nghiệp. Ta ngưỡng mộ ông trong lịch sử, chứ chưa quan tâm nhiều đến bản sắc văn hoá trong con người lỗi lạc này, và do đó, ta cũng ít có điều kiện nhận ra tính cách Thanh Hoá trong ông. Vì vậy, sau đây ta sẽ chú ý đến những khía cạnh:

    1. Con người văn hoá ở Lê Lợi: con người có nhân.

    2. Nét văn hoá độc đáo: Lê Lợi, con người giữa hai huyền thoại.

    Lâu nay, nói về Lê Lợi, ta thường chỉ chú ý về mặt lịch sử, mặt chính trị. Nói đến con người, lại chỉ nhớ đến những hạn chế như việc giết hại công thần. Thật ra, điều rất đáng trân trọng ở ông là tính cách văn hoá của một nhân vật đặc sắc.

    Lê Thánh Tông là nhà chính trị, là danh nhân của cả nước Việt Nam. Nhưng ông cũng xứng đáng là một gương mặt rực rỡ của xứ Thanh. Là cháu nội của Lê Lợi, ông có gắn bó với Thanh Hóa, với tư cách là nhà văn hoá. Những vấn đề khá phong phú ở ông với tư cách là nhà chính trị, là nhân vật lịch sử, xin được lướt qua hoặc không nói đến. Ta chỉ chú ý ở đây:

    Có hơn vài ba câu chuyện về Lê Thánh Tông khi ông chưa lên ngôi. Dân gian không kể rằng nhà vua ra đời ở Thăng Long, mà cho ông cất tiếng khóc chào đời ở vùng thôn dã thuộc đất Thái Bình. Có câu ca dao địa phương làm chứng cho sự việc này. Bà Ngọc Dao sợ bị hại, đã trốn về nhà họ Đinh, dọc đường ban đêm thì trở dạ, vô cùng đau đớn, sợ rằng thai nhi không được vẹn toàn. Bà phải khấn trời đất, lầm rầm với đứa con sắp lọt lòng một câu ca bà bất giác đặt ra:

    Và như thế cơn đau của bà chấm dứt. Cậu bé Lê Tư Thành chào đời, mẹ tròn con vuông, sau này mới trở về chùa Huy Văn. Nhưng cậu không sống suốt tuổi thiếu niên ở đây. Chẳng rõ do hoàn cảnh thúc đẩy thế nào, cậu cũng có dịp trú ngụ ở Thanh Hoá, bên một bờ sông nhỏ. Chính ở bến sông này, một lần cậu đã gặp người đẹp vo gạo, đọc một vế đối tỏ ra ý mến cảnh mến người. Cô gái rất thông minh đã ứng khẩu đối lại, ngụ ý khuyên chàng trai hãy để tâm lo đời, lo nước. Cuộc gặp gỡ đưa đến tình yêu. Cô gái ấy tên là Ngọc Hằng, sau này sẽ thành Trường Lạc hoàng hậu. Sau đó cậu về Thăng Long, đúng vào lúc Nghi Dân làm đảo chính giết mẹ con Nhân Tông. Hoàng tử Tư Thành, trong đêm tối, nhảy qua hào, tìm đường chạy loạn thì gặp ngay một thanh niên vạm vỡ ghé vai cõng cậu chạy biến vào nơi an toàn. Chàng thanh niên ấy còn mấy người bạn nữa, mỗi người có một cái tài: ăn giỏi, vật giỏi, đánh cờ giỏi, bói giỏi. Đấy chính là những Trạng Ăn, Trạng Vật, Trạng Cờ, sau này đều phò tá nhà vua. Câu chuyện cũng chưa hết. Khi Nghi Dân bị phế, triều đình tìm người nối ngôi và nghĩ đến Tư Thành. Nhưng vẫn có vài vị quan nghi hoặc, chưa rõ tài năng, chí khí của anh. Họ tìm đến chùa Huy Văn, thử tài anh bằng cách bắt anh làm ngay mấy câu thơ vịnh con cóc. Thế là anh ứng khẩu ngay mấy câu nổi bật khẩu khí đế vương. Ngôi chí tôn dành cho anh, không còn ai có thể nghi ngờ gì nữa.

    Rõ ràng là những câu chuyện dân gian để khẳng định một sự lựa chọn ngôi chân chúa, có nét khác so với những mô típ quen thuộc. Không thấy một ông vua nào trước hay sau ông có cái vinh dự được folklore (văn hóa dân gian) nhắc đến nhiều như ông. Hầu hết các mẩu chuyện đều giàu chất thẩm mỹ hơn là sử liệu. Có những giai thoại về những mối tình lãng mạn. Tình với một ni cô khi ông đến chùa Ngọc Hồ. Người đẹp khoác áo tu hành đã gieo vào lòng ông một cái gì man mác như là hồn bướm mơ tiên, khiến ông không thể dằn lòng, nhất định đón nàng về cung. Nhưng kiệu đến cửa Đại Hưng thì người đẹp biến đi đâu mất, ông cho dựng ngay Vọng Tiên lâu, để kỷ niệm cuộc gặp gỡ mà ông tin là gặp gỡ tiên trần. Ông còn là người chủ động gắn với một mối tình khác, mối tình khiến cho người câm biết nói. Cô ca nữ hàng chục năm bị tật nguyền gì đó, chỉ biết im lặng gõ phách theo đám ả đào, khi được nhà vua nhắc đến, bỗng bất ngờ hát được thành bài, nội dung bài hát lại nhắc cho nhà vua biết rằng vua với mình có mối duyên tiền kiếp. Điều bất ngờ là cô ca nữ ấy lại là con gái của Nguyễn Trãi, trốn thoát được trong vụ thảm án tru di. Thánh Tông nhớ ơn Tế Văn Hầu, hiểu được mối “duyên trời” đã nhận nàng là phi tần trong nội. Khả năng giao tiếp với thần minh ở Lê Thánh Tông đã được folklore diễn tả một cách khác hẳn, không giống như những thiên thần khác đầu thai, mặc dầu ông cũng là một dạng kim đồng nào đó ở thượng giới. Ông luôn được mô tả theo tư thế, phong cách của một ông vua, có lãng mạn, có si tình, những vẫn rất sáng suốt.

    Ông quê ở làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, đỗ Bảng Nhãn từ năm 1499, làm quan đến Thượng thư bộ Lại, tước Đôn Trung bá, dưới triều vua Lê Tương Dực. Chức quan này mãi cuối đời mới nhận, thời gian làm quan dài nhất là ở chức Thị lang. Nhưng ông lại luôn luôn viện cớ, xin nghỉ ở quê nhà để chăm lo dạy học.

    Tiếng tăm của Lương Đắc Bằng còn vang dội nhờ một bài văn khác: Bài hịch kể tội Lê Uy Mục. Ông vua này là một bạo chúa, gây tác hại cho đất nước rất nhiều. Hoàng thân Lê Oanh đã nhờ Lương Đắc Bằng làm hịch dụ các đại thần và dân chúng nổi lên lật đổ Lê Uy Mục. Lời hịch của ông Lương rất quyết liệt, vạch trọng tội của tên vua này:

    “Bạo chúa Lê Tuấn, phận con thứ kém hèn, làm nhơ bẩn nghiệp lớn. Lần lữa đã 5 năm, giết hại người xương thịt, dìm hãm các thần liêu. Bọn họ ngoại được tin dùng mà phường đuôi chó tung hoành làm bậy. Kẻ cương trực bị ruồng bỏ mà người trung nghĩa ẩn nấp nẻo xa. Tước đã hết rồi, mà thưởng bậy không ngớt, dân đã cùng rồi mà vơ vét không thôi. Đánh thuế tỉ mỉ, tiêu tiền như bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính, xem bề tôi như ngựa trâu, coi dân như rác, kiêu ngạo còn quá Nguỵ Canh. Nhân dân nhức óc, cả nước đau lòng…”

    1. Hết sức cảnh giới để dẹp điềm tai dị

    2. Hết lòng hiếu thảo để tỏ lòng trung

    3. Xa thanh sắc để làm gốc cho sự chính tâm

    4. Bỏ kẻ tà nịnh để trọng nguồn phong hoá

    5. Dè dặt việc cho quan tước để cẩn thận về việc khuyến trình

    6. Tuyển bổ công bằng để đường làm quan được trong sạch

    7. Tiêu dùng phải dè dặt để giữ thói kiệm ước

    8. Khen thưởng những người có tiết nghĩa để trọng đạo cương thường

    9. Cấm hối lộ để bỏ thói gian tham

    10. Sửa sang võ bị để thế nước được vững

    11. Kén chọn gián quan để cho người dám nói phấn khởi

    12. Bớt việc phục dịch để thoả tình dân trông ngóng

    13. Hiệu lệnh phải nhất định để thống nhất lòng bốn phương

    14. Cẩn thận pháp độ để mở đường thịnh trị.

    Những ý kiến trong bài hịch và trong 14 chước trị bình như vậy, cũng có thể phần nào giúp ta hiểu quan điểm của Lương Đắc Bằng với tư cách là một người thầy của vua, cũng là người thầy của cả nước. Nhưng ông Lương không thực hiện được ước mơ của mình. Những ngày đầu, vua Lê Tương Dực còn tỏ ra biết chăm lo, biết giữ gìn tư cách, coi sóc triều chính đúng mực. Sau đó, vua bị tha hoá dần, cũng trở nên hoang dâm, tàn bạo. Lương Đắc Bằng bất bình, dù được cất nhắc lên làm Thượng thư bộ Lại, ông cũng cáo về và tiếp tục mở trường dạy học, ngay trên quê hương mình.

    Tài liệu truyền văn (cũng có một vài chỗ ghi trong sách vở) thường nói là ông Lương đã dạy cho Nguyễn Bỉnh Khiêm về những vấn đề triết học và huyền học. Sách Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú ghi rõ: “Ông Lương Đắc Bằng đi sứ Minh, được Bộ Thái ất thần kinh, đem về truyền dạy cho Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ông Nguyễn hiểu thấu được lẽ huyền vi và nắm được chân truyền”. Nhưng ngày nay, ta không thể biết được Lương Đắc Bằng đã dạy dỗ như thế nào, vì không có bài giảng nào của ông để lại. Thái ất thần kinh, có thể là bộ sách từ Kinh Dịch mà ra. Lý luận nội dung của dịch học từ xưa đến nay đã được nghiên cứu nhiều, Lương Đắc Bằng đã tiếp nhận và phát triển ra sao không thể xác định được. Tìm hiểu trò, để có khái niệm qua về thầy, ta chỉ biết là Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này được học giả trong nước và ngoài nước cho là người nắm chắc được lý học ( An Nam lý học hữu Trình tuyền). Vinh dự ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhờ Lương Đắc Bằng mà có.

    Lương Đắc Bằng là một gương mặt văn hoá của thế kỷ XV, XVI ở Việt Nam, của Thanh Hoá nói riêng. Lịch sử triết học Việt Nam chưa viết được, nhưng nếu viết phải ghi tên Lương Đắc Bằng lên trước. Ông còn là nhà chính trị, nhà giáo dục và cũng đã sống một cuộc đời trong sáng, đức độ. Còn phải nói rằng, ông lại tạo nên được một truyền thống gia đình văn hoá. Con ông là Lương Hữu Khánh, cháu ông là Lương Khiêm Hanh đều có tư chất, tài năng và có đóng góp cho văn hoá nước nhà.

    Ông là con trai của Nguyễn Kim, quê làng Gia Miêu, huyện Hà Trung. Ai cũng nhớ câu chuyện, vì sợ bị Trịnh Kiểm hãm hại, ông đã nhờ chị là Ngọc Bảo xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Quảng. Cái tầm văn hoá của ông chính là ở chỗ này.

    – Ông có tầm nhìn chiến lược, không phải đi tìm đất dung thân mà là để mở mang cơ nghiệp. Ông thấy được Thuận Quảng và cả các vùng miền trong rộng lớn nữa, là nơi dụng võ, hơn nữa là nơi dựng nghiệp. Trước ông, các vua nhà Lý, nhà Hồ, nhà Lê, đều đã đi vào Nam, nhưng chỉ là đi chính phạt, lập võ công, và tiêu diệt ý đồ gây hấn. Có được đất đai, nhưng chưa hề có ý định xây dựng và phát triển. Nguyễn Hoàng đã có quan điểm phát triển từ khi nhiều thế hệ chúng ta chưa biết đến vấn đề này.

    – Nguyễn Hoàng đã có một kế hoạch di dân rộng lớn. Từ trước, sau một số trận đánh ở xa, các triều đình, các tướng tá của ta đã đặt những chế độ lưu quan, lưu đồn, và một số vùng phía Bắc đã tiến hành – một cách tự phát, việc Việt hoá cư dân bản địa. Một vài nơi ở Thanh – Nghệ – Tĩnh, thì có việc cho người Chiêm lập làng lập ấp mới. Chỉ có Nguyễn Hoàng mới có chủ trương đưa dân đi hẳn vào một phương trời mới, lạ nước, lạ non. Nhưng kết quả là ông đã tạo nên được miền Nam cho đất nước này. Điều đáng chú ý là ông đã có cách thế nào đó mà truyền lại cái ý đồ chiến lược này cho tất cả con cháu ông: những Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Khoát v.v…, đều tiếp tục được cái chiến lược phát triển của ông. Rồi cả các tướng lĩnh dưới quyền các chúa Nguyễn sau này, đều thực hiện được sự nghiệp khai phá mở mang ấy.

    – Vào vùng đất mới, Nguyễn Hoàng lại càng tỏ ra có một tầm văn hoá chiến lược rất cao. Ông biết tổ chức các làng mới, chỉ dẫn hướng sản xuất, ổn định nhân tâm, tạo ra phong tục tập quán mới mà không quên gốc. Nhân dân Thuận Quảng – (và các vùng miền trong sau này) đã dần dần được an cư lạc nghiệp, và mặc dầu phải cùng họ Nguyễn đối đầu với họ Trịnh, nhưng vẫn nhớ đến nhà Lê, nghĩa là vẫn nhớ mình là con Lạc cháu Hồng. Những người cầm đầu – trước nhất là Nguyễn Hoàng, phải có một tiềm thức về giống nòi, về đất nước thế nào đó mới gìn giữ cái tình cảm ấy bền vững và sâu sắc được.

    Ngoài vấn đề cơ bản ấy, ta còn thấy Nguyễn Hoàng có nhiều khả năng xuất sắc khác. Ông biết dùng binh đánh thắng quân Mạc, ông biết nhún mình giữ lễ, đảm bảo quan hệ với vua Lê chúa Trịnh, để giữ hoà khí buổi đầu tiên. Ông biết sử dụng nhân tài, biết giáo dục các thuộc hạ. Có rất nhiều truyền thuyết dân gian cho thấy ông đã là một nhân vật văn hoá, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng dân. Có chuyện ông vào Nam, được người địa phương dâng cho ông bảy chum nước. Có chuyện bà Tiên hay bà Phật báo trước tin lành cho dân chúng, để sau này được thờ ở chùa Thiên Mụ v.v… Tất cả đều cho ta thấy Nguyễn Hoàng là môt gương mặt văn hoá thật sáng chói.

    Chưa rõ tên thật ông là gì, hai chữ Sư Lộ chỉ có nghĩa là ông thầy ngồi dạy học bên đường. Ông sinh năm 1519, quê ở làng Bột Thượng (Hoàng Bột) nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, mất năm nào không rõ. Năm Giáp Dần, Thuận Bình thứ sáu (1554), vua Lê Trung Tông đặt chế khoa ở hành cung Yên Trường, ông thi đỗ đệ nhất giáp đệ tam danh (Thám hoa), làm quan đời Lê Trung Hưng, đến chức Hữu thị lang bộ Lại, tước Đoan Phúc hầu.

    Gia đình Nguyễn Sư Lộ là một gia đình có truyền thống văn hoá. Nhân dân địa phương có lời ca ngợi:

    Địa phương truyền tụng một giai thoại độc đáo về ông, chứng tỏ ông cũng có một cách dạy học thật là đặc biệt.

    Những ngày còn chờ đợi ra xuất chính, ông cứ ra ngồi giữa phiến đá dọc đường. Người qua, kẻ lại, ai hỏi gì ông cũng giải đáp rất phân minh. Trẻ con xúm xít lại gần, ông bày cho các cháu những câu danh ngôn trong sách và kể thêm chuyện cho các em được rõ. Ông cầm cái gậy vạch xuống mặt đất những chữ Hán: chữ đơn, chữ kép và giảng giải rõ ràng. Lâu dần thành lệ. Phiến đá ông ngồi như cái bục của thầy giáo. Mảnh đất quanh phiến đá thành một lớp học, sáng trưa chiều vẫn rất đông người. Ông nói:

    “Học trò đi học phải vào nhà học, phải theo bài bản. Nhưng trong đời có bao nhiêu người không được đi học, không có lớp. Và cũng có bao nhiêu điều phải học ngoài nhà trường. Lớp học giữa đường cũng là lớp học”.

    Từ đó người ta gọi ông là ông Sư Lộ: ông thầy giữa đường. Hòn đá Sư Lộ ngày nay vẫn còn ở xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá.

    Sử sách đều nhất trí chép: Đào Duy Từ là soạn giả cuốn sách Hổ Trướng khu cơ. Như tên gọi, sách là một tài liệu dùng cho các vị chỉ huy quân sự, các vị chủ soái; gồm những chỉ dẫn về binh pháp, trận đồ, cách điều hành, tổ chức quân đội, khí giới. Loại tài liệu này, ở nước ta rất hiếm. Chỉ biết rằng, dưới triều Trần, vị tiết chế Trần Quốc Tuấn có những bộ Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền v.v…, hiện nay chưa tìm được nguyên bản (bản dịch của Nxb Sử học trước đây có lẫn lộn cả nhiều ý kiến người đời sau; không phải là nguyên văn của Trần Hưng Đạo). Hổ Trướng khu cơ của Đào Duy Từ là tác phẩm quân sự có lẽ là nguyên vẹn cho đến ngày nay. Sau này Lương Huy Bích (một tác giả Thanh Hoá hồi giữa thế kỷ XIX) có tham khảo để viết trong cuốn Kỷ sự Tân biên.

    Việc đắp luỹ Trường Dục hoàn thành, ông lại cùng Nguyễn Hữu Dật đắp luỹ từ cửa Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu. Chính luỹ này có tên là Luỹ Thầy (cùng nhiều tên khác: Luỹ Đồng Hới, Luỹ Trấn Ninh, Luỹ Nhật Lệ…). Các Luỹ Trường Dục, Luỹ Thầy đã phát huy được tác dụng lớn lao chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh từ phía ngoài vào. Chúa Nguyễn có được những tuyến phòng thủ chắc chắn từ biển lên núi. Kinh nghiệm của Đào Duy Từ, được học tập, phát triển và thực hiện cả sau khi ông mất. Năm 1634, Luỹ Trường Sa được xây dựng, dài trên 40km từ thôn Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh đến xã Ngư Thuỷ. Năm 1662, đời chúa Nguyễn Phúc Tần lại xây dựng luỹ Trấn Ninh.

    Cả hai cha con Đào Duy Từ đều được tôn là Tổ sư của ngành tuồng bội Việt Nam. Chắc phải từ một cơ sở nào đó mới có thể nhận định thống nhất như thế, trải qua nhiều thế hệ…

    Vấn đề nghiên cứu vẫn đang phải tiếp tục. Song dù căn cứ khoa học sau này có thể đưa tới những phát hiện và những kết luận mới, thì niềm tri ân của các nghệ nhân tuồng, các nghệ sĩ múa từ mấy trăm năm nay vẫn là thiêng liêng và cần trân trọng. Sự trân trọng này khẳng định công lao không nhiều thì ít của Đào Duy Từ đối với nghệ thuật tuồng, với ngành ca vũ Việt Nam.

    Xin thêm một nhận xét. Có bao nhiêu vị được tôn là tổ nghề hát tuồng, hát chèo đã được thờ cúng nhưng hoặc là người ở nước ngoài, hoặc là những người mà ngay cả tên tuổi, quê quán cũng khó xác minh (Sai Ất, Đào Văn Xó, Lão Lang Thền v.v…). Chỉ có Đào Duy Từ là người có tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Riêng một điểm ấy, cũng làm giảm bớt đôi chút hoài nghi trong nhận định của chúng ta, dù chỉ là suy đoán.

    Cũng không có ai nghi ngờ gì về sự kiện văn học: Đào Duy Từ là tác giả hai bài lục bát: Ngoạ Long cương vãn, Tư Dung vãn. Cho đến nay, vẫn chưa có tài liệu chính thức nào cho biết, thơ lục bát đầu tiên trong lịch sử văn học ta là bài nào. Những câu ca dao như: ” Nhiễu điều phủ lấy giá gương” được cho là ra đời từ cuộc khởi nghĩa Bà Trưng rõ ràng là không chính xác, chỉ là sự gò ép của tác giả Việt Nam – phong sử mà thôi. Sách Văn đàn bảo giám (1930), trước đây có cho in bài Tự thán bắt đầu bằng câu: “Chiếc thuyền lơ lửng bên sông và cho là của Nguyễn Trãi cũng không có bằng chứng nào chính xác. Dù tác giả Quốc âm thi tập là một nhà thơ xuất sắc, nhưng vần điệu và lời lẽ quá điêu luyện của bài Tự thán, khó lòng có thể ra đời vào đầu thế kỷ XV. Một vài câu lục bát xen vào những bài thơ Nôm trong Hồng Đức quốc âm thi tập, hoặc trong bài hát ả đào của Lê Đức Mao, chưa chứng tỏ trình độ lục bát hay song thất lục bát điêu luyện. Cũng không biết những truyện nôm khuyết danh có cuốn sách nào ra đời vào giai đoạn này. Có niên đại chắc chắn hơn cả chỉ là tập thơ Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải viết vào khoảng 1585, sau khi tác giả thôi làm quan với nhà Mạc, quy phục nhà Lê. Bài viết theo lối song thất lục bát, nhằm ca ngợi Lê Trịnh, cũng có nhiều câu điêu luyện, có tính chất trữ tình. Sang thế kỷ XVII, có tập truyện Hoa Vân cáo thị của Nguyễn Hữu Dật (1604 – 1681), không rõ viết năm nào. Con Nguyễn Hữu Dật là Nguyễn Hữu Hào (mất năm 1713), là tác giả truyện nôm Song tinh bất dạ. Cả hai cha con ông Nguyễn đều là lớp sau của Đào Duy Từ. Như vậy có thể khẳng định là khoảng cuối thế kỷ XVI sang đầu thế kỷ XVII, ở nước ta hiện nay mới chỉ tìm được ba tác giả viết văn lục bát dài hơi. Đó là Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613), với tập Đào Nguyên hành (còn có tên là Lâm Tuyền Vãn), Hoàng Sĩ Khải với tác phẩm kể trên và Đào Duy Từ. Nếu tài liệu sau này không phát hiện gì thêm nữa thì phải công nhận bộ ba: Phùng, Hoàng, Đào này là những người tiên phong, có tác phẩm lục bát dài hơi, đóng góp cho văn học sử.

    Trước hết, ông là con người tài kiêm văn võ. Xuất thân là một võ tướng, có tham gia trận mạc. Đến năm 44 tuổi, mới được cử làm tổng trấn ở Sơn Nam, dưới triều Lê Hy Tông.

    Lê Đình Kiên giữ chức trấn thủ Sơn Nam đến 40 năm. Khi mất, ông được phong tước Thái Bảo và công nhận là Phúc thần. Những thương khách các tỉnh ở Trung Quốc, cư trú ở Vạn Lai Triều đã khắc bia kỷ niệm và lập đền thờ ông. Bia hiện còn ở Hưng Yên, do tàu trưởng Đào Hải Nam là Trần Đế Đào ở huyện Tấn Giang, phủ Truyền Châu, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) soạn năm Quí Mão đời Bảo Thải thứ tư (1723).

    Tại đền thờ ở làng Thiết Đanh (Yên Định) có đôi câu đối có thể nói là tóm tắt đầy đủ công đức của ông và làm sáng lên một khuôn mặt văn hoá:

    Có thể còn đôi ba người ở Thanh Hoá chưa quen lắm với cái tên này. Nguyễn Hữu Cảnh, còn gọi là Nguyễn Hữu Kính là con thứ ba của Nguyễn Hữu Dật, quê làng Gia Miêu, huyện Hà Trung. Có thể ông đã được sinh ra ở Quảng Bình (khi ông ra đời, Nguyễn Hữu Dật đã 46 tuổi và làm trấn thủ ở đó), nhưng tất nhiên cả mấy cha con Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Cảnh, đều là con em trực tiếp của Thanh Hóa. Lớn lên, ông Cảnh theo cha trên bước đường chinh chiến, đã lập nhiều chiến công; đánh Chiêm Thành (1692), đánh Chân Lạp (1698). Được trao chức trấn thủ nhiều lần ở những vùng mới gia nhập bản đồ Việt Nam (như các nơi: Diên Khánh, Khánh Hoà).

    Nhưng một thành tích lớn lao của Nguyễn Hữu Cảnh, mà lịch sử Việt Nam không thể nào không ghi công lớn, là Nguyễn Hữu Cảnh đã lãnh đạo khai thác miền Đông Phố, thành lập các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn (Biên Hoà và Gia Định ngày nay). Tạo nên được Sài Gòn, tức là Thành phố Hồ Chí Minh bây giờ là công của Nguyễn Hữu Cảnh.

    Nét đặc sắc của Nguyễn Hữu Cảnh trong giai thoại lịch sử (chỉ vài năm cuối thế kỷ XVII) này là tầm văn hoá của ông trong đường lối mở mang cơ nghiệp: Kế hoạch rất đầy đủ, bao quát mà chi tiết, nhưng chủ yếu là ở lòng nhân đạo và nhiệt tình với dân với nước của ông. Hãy tưởng tượng vào hồi cuối thế kỷ XIX, Pháp đã sang xâm lấn miền Nam, với trình độ khoa học, kỹ thuật nhất định, cũng chỉ mở mang được vùng đất Sài Gòn trong phạm vi hạn hẹp. Thế mà từ ba thế kỷ trước, cả miền Nam mênh mông hoang sơ như vậy, được Nguyễn Hữu Cảnh quy hoạch lại, tổ chức và kiến thiết thành một miền trù phú bao la, thì Nguyễn Hữu Cảnh đã có tài năng xuất sắc đến bậc nào. Ông đã cho thực hiện:

    + Ông biết tổ chức lại giao thông và cho phát triển thương mại. Người Hoa được ông cho định cư, nhập sổ hộ bộ Việt Nam, thành các làng như xã Thanh Hòa (Biên Hòa), xã Minh Hương (Sài Gòn). Ông khuyến khích cho tàu bè nước ngoài vào cảng Đại Phố, khuyến khích dân chúng cả ở Đường Ngoài vào đây lập nghiệp. Câu ca dao quen thuộc được cho là xuất hiện vào chính thời gian Nguyễn Hữu Cảnh kinh dinh đất mới:

    + Sáng kiến của Nguyễn Hữu Cảnh trong việc kinh dinh có thể thấy rõ ở hai hướng. Tại vùng nông thôn hay miền núi, ông chia ra các loại sơn điền, thảo điền, và cho dân khẩn hoang, lập thành nông trại. Ở vùng cư dân sầm uất, thì ông cho lập các phố thị. Đặc biệt chú trọng vào đường sá. Lúc này các vùng phố thị ở Đại Phố có ba loại đường: Đại nhai lộ là đường lớn lót đá trắng, Hoành nhai lộ là đường ngang lót đá ong, và Tiểu nhai lộ là đường nhỏ lót đá xanh. Sáng kiến này tạo ra cho các phố thị một diện mạo rất mới.

    + Nguyễn Hữu Cảnh còn là một nhà ngoại giao xuất sắc. Hồi ông vào Nam mở mang biên cương, phía bên Chân Lạp không phải đã dễ dàng gì phục tùng. Nhưng thấy binh uy của ông rất lớn, vua Miên là Nặc Ông Thu tìm cách bỏ trốn, để cho cháu là Nặc Yêm mở cửa thành ra hàng. Nguyễn Hữu Cảnh tiến vào. Nhưng ông đã giáo dục cho đội quân chiến thắng giữ gìn kỷ luật, không tơ hào của dân, không xâm phạm đến tài sản và tính mạng. Do đó mà nhân dân Chân Lạp cảm ơn đức của ông đã hoàn toàn quy phục. Nặc Ông Thu trốn tránh ít lâu rồi cũng về hàng. Ông đã khuyến dụ các thổ quan, khích lệ các dân tộc Miên, Hoa, Việt giữ tình thân thiện. Ta sẽ không lạ khi thấy sau này ông mất, được nhân dân thờ phụng. Ngay ở Nam Vang cũng có đền thờ ông.

    Nhân dân miền Nam rất nhớ ơn Nguyễn Hữu Cảnh và biểu lộ sự thành kính, tri ân này bằng một chủ trương rất văn hoá, rất nhất luật ở miền Nam. Đa số các làng các vùng trong Nam đã dựa vào tên làng của Nguyễn Hữu Cảnh mà đặt tên cho nơi ở của mình.

    Nguyễn Hữu Cảnh sau này được phong tước là Lễ thành hầu. Ông vừa xây dựng xong miền Nam thì nhuốm bệnh. Thuyền chở ông về đến Rạch Gầm, ngã ba Tiền Giang thì ông mất, thọ được 51 tuổi. Ngày mất của ông là ngày mồng 9 tháng 5, Canh Thìn (1700). Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được dựng lên ở khắp nơi: Quảng Bình, Biên Hoà, Cần Thơ, Tiền Giang, Châu Đốc. Và có một chi tiết rất dân gian nữa: Triều đình phong cho ông chức này, tước nọ rất nhiều, nhưng nhân dân chỉ nhớ ông là một vị chưởng binh. Họ gọi ông là Ông Lớn. Đền thờ được gọi là Đền Ông. Con sông do ông đào ở phía dưới Vàm Nao (Châu Đốc) và đặt tên là Long Giang, thì người dân gọi là Sông Lòng Ông. Cả một vùng đất Thủ Điềm (sau thời Pháp thuộc đổi tên là Kiến Long) thì được gọi là Cù Lao Ông Chưởng. Và câu ca dao truyền tụng còn lưu lại mãi đến bây giờ:

    Ôn lại cuộc đời và thành tích vĩ đại của Nguyễn Hữu Cảnh, có thể có chăng một sự liên hệ suy tư? Có chăng ở đây một nét văn hoá truyền thống của người Thanh Hoá: Khẩn hoang và lập nghiệp? Sự liên hệ có thể ngược lên thời gian để nhớ đến An Tiêm, khai phá đất Nga Sơn, đến ông Tu Nưa với sự tạo ra núi Quảy, sông Cày, đến Nguyễn Hoàng mở mang Đàng Trong dựng nên đế nghiệp. Rồi Nguyễn Phúc Chu là vị chúa trưởng trực tiếp của Nguyễn Hữu Cảnh. Và sau nữa là Nguyễn Phúc Khoát đã thu phục được Mạc Thiên Tứ để sáp nhập Hà Tiên vào bản đồ nước Việt. Vô tình hay có qui luật nào để người xứ Thanh có được những nhà văn hoá tiền bối lập được những công lao như vậy?

    Nhữ Bá Sĩ, tự là Nguyên Lập, hiệu là Đạm Trai, người làng Cát (Kẻ Cát) xã Cát Xuyên, tổng Dương Sơn nay là xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá; sinh tháng 2 năm Mậu Thân (1788); mất ngày 14 tháng 9 năm Đinh Mão (1867), thọ 80 tuổi.

    Chính gốc họ Nhữ là ở làng Hoạch Trạch, tỉnh Hải Dương, rời vào Thanh Hoá đến Nhữ Bá Sĩ là 13 đời. Tới đời thứ bảy là Nhữ Văn Vịnh, làm quan võ thời Lê, được phong là Đặng võ hầu. Các đời sau không đỗ đạt gì, gia đình chuyên làm ruộng. Mãi đến thân sinh Nhữ Bá Sĩ mới lưu tâm cho con cháu ăn học được nhiều người đỗ đạt.

    Nhữ Bá Sĩ đi học từ nhỏ, năm 11 tuổi vào trường tư ông Hương cống Đặng Văn Chinh, làng Mạo An, cùng huyện. Năm 19 tuổi, theo tập bài ở trường tỉnh với ông Đốc học Phan Bảo Định (người cùng quê với Nguyễn Thiếp). Năm 1821, thi đỗ Hương cống và liền năm sau thi hội trúng tam trường.

    Đỗ xong, ông được giữ chân hành tẩu bộ Công, rồi ra hậu bổ Bắc thành, làm tri huyện Tiên Lữ, rồi về Huế trải các chức chủ sự bộ Hình viên ngoại lang, Lang trung v.v… Năm 1830, sau khi đi thanh tra thuế đường ở Quảng Nam, vì một chuyện vu cáo, ông bị cách chức kết án xử tử giam hậu; đến năm 1833 được tha, phải đi hiệu lực trong phái bộ sang Quảng Đông (Trung Quốc). Về nước, ông được khai phục hàm cửu phẩm, làm việc ở Viện đô sát, sau ra huấn đạo An Lão (1834), giáo thụ Hoài Đức (1836), rồi quyền tri phủ ứng Hoà (1838). Ngót 20 năm nổi chìm trong bể hoạn, ông thấy rõ thế tình, mới quyết tâm cáo bệnh về mở trường tư, dạy học, viết sách suốt 16 năm. Nhiều lần triều đình cho gọi, ông nhất định từ chối. Năm 1853, bị thúc ép mãi, ông phải ra nhận chức đốc học ở ngay tỉnh nhà, nhưng chỉ hai năm lại cáo bệnh về với làng xóm, trường học cũ của mình.

    (Ban Biên tập – Sưu tầm và biên soạn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gạc Ma: Trung Quốc Xâm Lược Và Thảm Sát Không Phải Chỉ Là Một Ngày 14/3/1988
  • Thạch Sùng, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Thạch Sùng
  • Gà Chọi Ăn Gì Để Mượt Lông?
  • Cách Phòng Các Bệnh Thường Gặp Ở Gia Cầm Trong Vụ Đông Xuân?
  • Kỹ Thuật Phòng Bệnh Cho Gia Cầm Vào Mùa Lạnh
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sầm Sơn Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sầm Sơn Đi Lại, Đặt Phòng, Ăn Uống, Vui Chơi Từ A
  • Top 10 Cửa Hàng Đồ Chơi Trẻ Em Tại Buôn Ma Thuột
  • Tổng Hợp Quan Bar, Pub Giá Rẻ Ở Buôn Ma Thuột Được Giới Trẻ Yêu Thích Nhất
  • Có Thể Làm Giàu Từ Việc Chăn Nuôi Gà Chọi
  • Cách Xem Chân Gà Chọi Hay
  • Du lịch Sầm Sơn chơi gì vui, ăn ở đâu ngon?

    Kinh nghiệm du lịch Sầm Sơn 2022

    Kinh nghiệm du lịch Sầm Sơn 2022 cho biết, “chặt chém” luôn là vấn đề được nhiều du khách quan tâm khi lên kế hoạch du lịch Sầm Sơn. Chính vì vậy, việc tìm hiểu những thông tin về đi lại, ăn uống, thuê khách sạn, tham quan ở Sầm Sơn rất cần thiết. Đặc biệt, là việc tham khảo những thông tin chia sẻ của những du khách đã từng du lịch Sầm Sơn trên những diễn đàn như chúng tôi chúng tôi hay otofun.net…sẽ giúp cho chuyến đi của bạn trở nên suôn sẻ hơn.

    Một thành viên trên chúng tôi cho biết: “Về ăn uống các bạn lưu ý nếu có thời gian sáng sớm chịu khó ra chợ cá gần bãi tắm mua đồ hải sản rồi vào cái lều cạnh đấy thuê người chế biến cho vừa tươi ngon lại rẻ. Buổi trưa và chiều thì ăn cơm thường thôi.

    Về đi lại rẻ nhất là di chuyển bằng ô tô hoặc đi tàu vào thành phố Thanh Hóa, sau đó bắt xe bus xuống Sầm Sơn. Nhìn chung phòng ốc ở đây có giá chung rồi, nếu muốn tìm phòng rẻ các bạn có chấp nhận đi xa bãi tắm một chút.”

    Du lịch biển Sầm Sơn tự túc.

    Nên du lịch Sầm Sơn vào thời điểm nào? Sầm Sơn vốn là một thành phố biển thế nên chắc hẳn ai cũng biết rằng nên đến đây vào mùa hè. Khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 là thời điểm đẹp nhất để du lịch Sầm Sơn, tuy nhiên đây cũng là mùa du lịch nên giá cả, các loại dịch vụ tăng cao.

    Còn du lịch Sầm Sơn mùa đông thì sao? Tuy không thể tắm biển nhưng không có nghĩa là bạn không thể tới Sầm Sơn. Lúc này thời tiết cũng lạnh không kém gì Hà Nội, các bãi biển rất vắng vẻ, nhưng lại đồng nghĩa với việc bạn có thể tận hưởng ngắm cảnh trên bãi biển, thưởng thức không khí yên tĩnh và nghỉ dưỡng tại các resort cao cấp với giá rẻ hơn rất nhiều so với những thời điểm khác trong năm.

    Phương tiện di chuyển khi du lịch Sầm Sơn

    Sầm Sơn cách Hà Nội bao xa? Cách Hà Nội khoảng 170km và dự kiến nếu di chuyển từ Hà Nội đến Sầm Sơn sẽ mất khoảng hơn 3 giờ đồng hồ. Kinh nghiệm du lịch Sâm Sơn, bạn có thể lựa chọn di chuyển bằng một trong các phương tiện sau:

    Cách phương tiện đi lại ở Sầm Sơn

    Trừ khi bạn có phương tiện cá nhân, còn không thì khi du lịch Sầm Sơn, bạn có di chuyển qua các địa điểm, bãi biển, khách sạn… bằng một trong những loại sau

    1. Xích lô – phương tiện rất phổ biến để trải nghiệm 1 vòng Sầm Sơn, giá khoảng 50k/người.
    2. Xe đạp đôi – để vừa đạp xe, vừa tận hưởng đường bở biển, giá thuê xe 40-50k/giờ.
    3. Xe điện – Thuê nguyên xe chở 6 người lớn và 2 trẻ em, 30k/km đầu tiên/xe, và 20k/ km tiếp theo.
    4. Xe ôm – Bạn nên sử dụng nếu cần di chuyển đến vị trí xa.
    5. Thuê xe máy – Có một địa chỉ cho thuê ở Võ Thị Sáu, cạnh đường Bà Triệu
    6. Taxi – Có rất nhiều xe dừng đợi sẵn ở ngã tư các đường lớn

    Khách sạn ở bãi biển Sầm Sơn đẹp, chất lượng và hút khách.

    Khách sạn ở bãi biển Sầm Sơn rất nhiều, từ cao cấp cho tới bình dân, giá rẻ. Tùy vào điều kiện kinh tế của từng người cũng như mục đích của chuyến du lịch là nghỉ dưỡng hay khám phá, trải nghiệm mà các bạn hãy lựa chọn cho mình một điểm dừng chân phù hợp nhất.

    Khách sạn ở Sầm Sơn

    Các địa điểm tham quan, du lịch Sầm Sơn

    Địa điểm du lịch nổi tiếng ở Sầm Sơn

    Du lịch Sầm Sơn nên đi đâu chơi? Tới biển Sầm Sơn trước tiên phải ngắm và tắm biển, có thể thưởng thức bình minh trên biển và tham gia kéo lưới với dân chài vào sáng sớm. Bên cạnh những địa điểm du lịch nổi tiếng ở Sầm Sơn như: Hòn Trống Mái, bãi biển Sầm Sơn, hồ Duồng Cốc, thác Ma Hao Sầm Sơn, Động Từ Thức…các bạn có thể đi chơi ở Thủy Tiên Cung vào đó có cảm giác mạnh nhưng rất thú vị .

    Đi chơi các chùa trên núi ( chùa độc cước, chùa cô tiên ..) Hoặc đi chơi ở khu du lịch sinh thái, đi câu tôm, câu cá,..Để mua hải sản làm quà các bạn có thể ghé qua 2 chợ chính là chợ trong và chợ ngoài, theo cẩm nang du lịch Sầm Sơn giá rẻ các bạn nên đi chợ trong, có nhiều đồ hải sản tươi ngon và có giá rẻ hơn so với đại lý hải sản rất nhiều.

    Về kinh nghiệm ăn uống ở Sầm Sơn, các bạn nên lựa chọn những quán ăn xa khu vực bãi tắm A và B vì cả hai bãi tắm này đều có đồ ăn không được tươi ngon và có giá “cắt cổ”.

    Những món ăn ngon nổi tiếng ở Sầm Sơn nên thưởng thức như: Cháo lươn, nem chua, mực nhồi thịt, chả tôm, chè lam Phủ Quảng, Phi Thanh Hóa, bánh răng bừa (bánh lá), bánh gai Tứ Trụ, mắm tép Hà Yên, gỏi cá Sầm Sơn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nga Sơn
  • Hải Dương: Cho Gà Lai Chọi Uống Nước Tỏi, Nuôi Kiểu “gối Đầu” Thu Lãi Cao
  • Iphone Hải Phòng Uy Tín Giá Rẻ Trả Góp 0%
  • “từ Điển Tiếng Nghệ An” Và Sự “hoang Mang” Đầy Ngọt Ngào Của Cô Dâu Xứ Bắc
  • Kỹ Thuật Chọn Giống Gà Chọi Nhanh Lớn Khỏe Mạnh
  • Sỉ Lẻ Gà Ác Thị Trường Khu Vực Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nuôi Gà Ác Lông Đen Cho Thu Nhập Khá
  • Trứng Gà Lộn Giá Bao Nhiêu
  • Quán Hoàng Hưng Ở Bàu Cát, Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Cách Nấu Cháo Khoai Lang Thịt Gà Siêu Ngon Cho Bé Ăn Dặm
  • Bệnh Tiểu Đường Có Ăn Được Thịt Gà Không? 5 Công Thức Nấu Ăn “Thân Thiện” Cho Đường Máu
  • phan văn trọng

    23/04/2019

    Cần bán

    Bá thịt gà ác tại Thanh Hóa

    Các món ăn từ thịt gà ác là bài thuốc quý rất giàu chất đạm, người lớn mỗi tuần chỉ nên ăn 2 lần, mỗi lần 200 g; trẻ em mỗi tuần ăn 1 lần, mỗi lần 100 g

    Gà ác thuộc họ trĩ, có tên khoa học là Gallus gallus domesticus brisson, còn được gọi là ô cốt kê, ô kê… là loại gà cỡ nhỏ, được thuần hóa và nuôi dưỡng. Đặc trưng của giống gà ác là bộ lông trắng không mượt nhưng toàn bộ da, mắt, thịt, chân và xương đều đen, chân có 5 ngón.

    Bổ huyết, ích khí

    Dinh dưỡng học hiện đại cho rằng thịt gà ác ít lipid nhưng rất giàu protid và có khoảng 18 loại acid amin, nhiều vitamin (A, B1, B2, B6, N12, E, PP) và các nguyên tố vi lượng (K, Na, Ca, Fe, Mg, Mn, Cu…).

    Nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng cho thấy thịt gà ác phòng chống mệt mỏi, tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu dưỡng khí, cải thiện công năng miễn dịch, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống võng mạc nội mô cũng như khả năng chống đỡ bệnh tật của cơ thể.

    Dược thiện tiêu biểu

    Trên thực tế, muốn phát huy triệt để công dụng của gà ác, chúng ta phải phối hợp thực phẩm quý giá này với một số thực phẩm khác và dược liệu để chế biến thành những món dược thiện vừa dễ dùng vừa bổ dưỡng. Các dược liệu này cũng rất dễ mua ở các cửa hàng thuốc đông y.

    – Bài 1: Nguyên liệu gồm 50 g thịt gà ác rửa sạch, chặt miếng, cho vào nồi hầm với 10 g kỷ tử, vài lát gừng tươi cho thật nhừ, chế thêm gia vị ăn nóng. Món này dùng cho những người hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau lưng do can thận âm hư.

    – Bài 2: Nguyên liệu gồm 100 g thịt gà ác rửa sạch, chặt miếng, cho vào nồi hầm cùng với 10 g đông trùng hạ thảo, 30 g hoài sơn cho thật nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Món này có công dụng bổ tinh khí, cường gân cốt; chuyên dùng cho các trường hợp cơ thể suy nhược, gầy còm, ốm yếu.

    – Bài 3: Nguyên liệu gồm một con gà ác trống làm thịt, bỏ lông và nội tạng; 5 g tam thất thái phiến, cho vào trong bụng gà cùng với một chút rượu vang và gia vị. Tất cả đem hầm cách thủy đến khi chín thì ăn. Công dụng bổ khí huyết, cường gân cốt, thường dùng cho những người bị gãy xương.

    – Bài 4: Nguyên liệu gồm 1 con gà ác làm thịt, bỏ lông và nội tạng, chặt miếng; 15 g hạt sen trắng bỏ lõi, 15 g khiếm thực, 150 g gạo nếp rửa sạch. Tất cả cho vào nồi nấu thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng bổ tì thận, thường dùng cho những nam giới bị di tinh, phụ nữ khí hư có màu trắng đục.

    – Bài 5: Nguyên liệu gồm 1 con gà ác làm thịt, bỏ lông và nội tạng, chặt miếng; 100 g hoàng kỳ rửa sạch, cắt đoạn. Tất cả cho vào nồi hầm thật nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng bổ huyết, điều kinh. Món này thường dùng cho phụ nữ thống kinh, trước kỳ kinh 3 ngày nên ăn, dùng liên tục trong 5 ngày.

    – Bài 6: Nguyên liệu gồm 1 con gà ác làm thịt, bỏ lông và nội tạng, chặt miếng; 20 g ngải cứu rửa sạch, cắt đoạn. Tất cả đem hấp cách thủy, ăn nóng. Món này thường dùng cho những trường hợp tử cung xuất huyết.

    Ăn liều lượng vừa đủ

    Ngoài những món dược thiện kể trên, kinh nghiệm dân gian còn dùng thịt gà ác tẩm mật ong, nướng qua rồi đem sấy khô giòn, tán thành bột mịn, làm thành viên hoàn hoặc ngâm với rượu uống để bồi bổ sức khỏe. Thịt gà ác cũng được ghi nhận là đặc biệt tốt cho người đang điều trị các bệnh về phổi, thận, đau lưng, ra mồ hôi trộm, chân tay yếu mỏi, tạng yếu, lao lực, người ốm dậy, phụ nữ sau sinh. Cũng có nơi còn dùng xương gà ác nấu thành cao, gọi là tinh gà đen, uống để chữa chứng hư nhược, chán ăn, mệt mỏi, đau lưng, mất ngủ, yếu sinh lý…

    Phụ nữ đang mang thai hoặc sau khi sinh, người già yếu, kém ăn, trẻ em còi xương, người vừa bệnh một thời gian dài… nên ăn các món gà ác tiềm thuốc bắc, gà ác hầm nhân sâm hoặc tiềm với nấm linh chi. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là gà ác rất giàu chất đạm nên người lớn mỗi tuần chỉ ăn 2 lần, mỗi lần 200 g; trẻ em mỗi tuần ăn 1 lần, mỗi lần 100 g.

    Gà 250 gr / 40 k

    Gà 1 – 1,2 kg / 140 k

    Thanh Hóa liên hệ :

    LH : Trọng 0967 235 265 ( zalo, facebook , sms )

    “gaacthanhhoa” gaacthuongphamthanhhoa# gaacthanhhoa. Gaacthanhhoa,

    https://www.facebook.com/G%C3%A0-%C3%A1c-Thanh-H%C3%B3a-273955696815178/?modal

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Nối Cung Cầu Nông Sản An Toàn Thanh Hoá
  • Sỉ Lẻ Gà Ác Tại Thanh Hóa. Công Dụng Của Gà Ác.
  • Thang Thuốc Bổ Tiềm Gà
  • Trứng Gà: Lợi Ích Sức Khoẻ, Dinh Dưỡng, Gà Ta Và Công Nghiệp
  • Kỹ Thuật Chăn Nuôi Và Chăm Sóc Gà Ác
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100