【#1】Gà Hatch: Chú Gà Chọi Với Đôi Chân Nặng Đòn , Giống Gà Đặc Biệt

Gà Hatch: Lai tạo từ 4 giống gà, chân đá nặng đòn

Vào đầu thế kỷ 20, Stanford Hatch hay còn gọi là Sandy đã mở ra kỷ nguyên của những cuộc đua gà chọi đầy kịch tính. Người đàn ông đến từ Long Island – New York tạo nên sức hút cho các trận đấu nhờ vào giống gà Hatch.

Theo nhiều ghi chép, gà Hatch có nguồn gốc rất đa dạng. Cha đẻ của giống gà này, ông Sandy đã lai tạo gà Hatch từ 4 giống gà khác nhau. Cụ thể là:

  • Dòng Kearny (dòng này được tạo từ dòng Mike Kearny từ Ái Nhĩ Lan gồm dòng ngực đỏ và ngực đỏ nhạt).
  • Dòng the Herman Duryea còn được gọi là Boston roundhead
  • Dòng Thompson chân xanh

Vào thời điểm lúc bấy giờ, những chú gà chọi hiếu chiến và lì đòn luôn được ưu tiên. Các chiến kê khi ra trận thường có cựa ngắn (từ 2-3 phân). Đảm bảo sức khỏe tốt và phải có tinh thần chiến đấu rất cao. Gà Hatch lại hội tụ đầy đủ các yếu tố trên. Do đó, chúng trở thành lựa chọn hàng đầu dân chọi gà.

Ban đầu, gà Hatch được biết đến với phong cách đá bám đất. Chân đá chậm nhưng vô cùng mạnh mẽ. Ngày nay, chúng đã được cải tiến tốt hơn. Chúng trở nên nhanh nhẹn, ra đòn nhanh và có thể bay cao hơn. Có thể nói, gà mỹ dòng Hatch đã dần lọt top những gà chọi thiện chiến nhất thế giới.

Các dòng gà Hatch nổi tiếng Leiper, McClean, Spangle, Yellow Leg, Penny Hatch

Leiper

Gà Leiper sở hữu ngoại hình ấn tượng, bắt mắt người nhìn. Bao gồm một bộ lông sẫm màu hoặc đổ về màu nâu hẳn, mào cao trung bình và đôi chân màu xanh. Thành viên trong “họ nhà Hatch” này có sức mạnh chiến đấu cao với tốc độ đáng gờm.

Trong lịch sử, một vài nhà lai tạo Mỹ gây được dấu ấn bởi tạo ra giống gà Leiper này. Có thể kể đến những cái tên như Oscar Adkins hay Rat Graves. Họ thậm chí nhận được giải thưởng Nhà tạo giống của năm bởi Liên minh Hoa Kỳ. Điều này đã tạo cảm hứng và trở thành một kỷ lục cho các thế hệ lai gà chọi sau này.

Ở thời điểm hiện tại, gà Leiper nằm trong danh sách những giống gà chọi mạnh nhất. Chúng là đối thủ tiên phong trong các trận chiến với các dòng gà Gaff, Raroz và gà chọi Philippines.

McClean

Cũng thuộc dòng giống gà Hatch, gà McClean được lai tạo bởi ông Ted McClean vào khoảng giữa thế kỷ 20. Giống gà này có kích thước trung bình và sở hữu bộ lông màu vàng. Một số con khác lại có tông màu tối hơn, lưng của chúng có màu nâu sẫm, lông cổ màu cam. Đuôi rộng và có kích thước vượt trội. Đầu gà McClean khá tròn và chủ yếu có mào gà tây.

So với giống Leiper thì McClean có cấu trúc cơ thể đơn giản hơn. Loài chiến kê này nổi bật với sự nhanh nhẹn và phản ứng nhạy bén trong chiến đấu. Một đặc điểm khác giúp chúng nổi bật trong thế giới gà chọi là khả năng sát thương kết hợp với tốc độ vượt trội.

Spangle

Về cơ bản, gà Spangle giữ lại gen của gà chọi McClean. Do đó, ngoại hình của chúng cũng phần tương đồng với McClean. Tuy nhiên, Spangle được tô điểm thêm một vài chấm trắng ở phần ngực, cánh và đuôi. Gà Spangle vốn là gen lặn nên chúng không phổ biến như các anh em khác trong họ nhà Hatch. Ngày nay, chỉ có vài nhà lai tạo sở hữu dòng gà này.

Yellow Leg

Hầu hết các giống gà có nguồn gốc từ gà Hatch nguyên thủy đều có đặc điểm là chân vàng (Yellow Leg). Bởi vì điều này, chân vàng là kiểu hình hoàn chỉnh nhất. Rất nhiều con gà trong số dòng Yellow Leg có sọc trắng, lưng rộng. Chúng cũng sở hữu mào gà tây và đầu tròn.

Yellow Leg có chiều cao trung bình và được biết đến với phong cách chiến đấu hung hăng và hiếu chiến. Do được lai tạo từ các nhà lai tạo khác nhau nên mỗi con Yellow Leg có 1 phong cách chiến đấu riêng biệt.

Penny Hatch

Penny Hatch được xem là một trong những giống gà có lực chân mạnh mẽ nhất trong dòng gà chọi Mỹ nói chung và gà Hatch nói riêng. Chúng có trọng lượng khá lớn, khoảng 2,7kg với bộ ngực lớn và lưng rộng.

Giống gà này được Sherill Penny lai tạo cách đây vài chục năm. Dòng gà này được pha từ nhiều dòng Hatch khác nhau như Harold Brown Hatch, Ruble Hatch, JD Perry Hatch, Johnny Moore Democrat Hatch và một số giống khác. Chúng được Penny tạo ra với mong muốn trở thành một chiến kê mạnh mẽ với sức chiến đấu bền bỉ đến cùng.

Gà Hatch ở Việt Nam

Gà Hatch rất được ưa chuộng tại Việt Nam. Giới chơi gà chọi nhận xét gà Hatch là một trong những biến thể hoàn hảo nhất của giống gà chọi Mỹ với kích thước trung bình và trọng lượng vừa phải.

Đồng thời, gà Hatch cũng được xếp vào danh sách những chiến binh có ngoại hình đẹp nhất. Tốc độ nhanh nhẹn, lì đòn và lực đá mạnh mẽ là những đặc điểm khiến các tay chơi gà phải mê mẩn giống gà này. Hiện nay, bạn có thể dễ dàng sở hữu một em gà Hatch chính hiệu tại nhiều cơ sở trang trại gà giống trên thị trường.

【#2】24 Đa Hiệu Pdf Free Download

1 24 Đa Hiệu 112

2 TRÂN TRỌNG CÁM ƠN Các Niên Trưởng, Các Sĩ Quan Quân Sự Vụ và Văn Hoá Vụ, cựu SVSQ, quý phu nhân, các anh chị, Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu, các Chiến Hữu, Thân Hữu, các Mạnh Thường Quân, đã đóng góp bài vở, tài chánh, và công sức để thực hiện TẬP SAN ĐA HIỆU 111 *** Phát Hành Tháng 9 năm Đa Hiệu 111 1

4 TOÅNG HOÄI CÖÏU SINH VIEÂN SÓ QUAN TVBQGVN ÑA HIEÄU CÔ QUAN NGOÂN LUAÄN CUÛA TOÅNG HOÄI CSVSQ TVBQGVN TỔNG HỘI TRƯỞNG, KIÊM CHỦ NHIỆM: CSVSQ TSU A CẦU, K29 * * * CHỦ BÚT: CSVSQ ĐỖ MẠNH TRƯỜNG, K23 TRƯỞNG BAN TRỊ SỰ, KIÊM THỦ QUỸ: CSVSQ TRẦN TRÍ QUỐC, K27 * * * PHÁT HÀNH: Hội CSVSQ TVBQGVN Nam California, Hoa Kỳ. Hội Trưởng: CSVSQ NGUYỄN PHƯỚC ÁI ĐỈNH, K26 * * * ĐIẠ CHỈ TOÀ SOẠN: DA HIEU MAGAZINE P.O. Box 8628 Fountain Valley, CA Tòa Soạn Đa Hiệu: * * * WEBSITE CỦA TỔNG HỘI CSVSQ TVBQGVN Group của Võ Bị Việt Nam: Đa Hiệu 111 3

5 Muïc Luïc STT Đề Tựa Tác Giả Trang 1 Phần Đầu 1 2 Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc Nguyễn Đạt Thịnh 9 3 Cánh Cửa Không Bao Giò Đóng Phạm Văn Hoà 26 4 Thơ Buổi Chiều và Em Lâm Viên Lê Anh 34 5 Các Chỉ Huy Trưởng Đặng Đình Liêu 35 6 Nỗi lòng của Mẹ Giang Văn Nhân 43 7 Giữ Lại Gì… Ấu Tím 50 8 Ảnh Hưởng Vương Quốc… Đặng Kim Thu 61 9 Thơ Cho Em Hỏi??? Lê Kim Nga Phục Vụ Trong Quân Chủng… Hồ Tấn Đạt Tình Bạn Nguyễn Kim Bảng Tướng Lãm và Tôi Hạ Bá Chung Chiến Sách Hải Đăng… Cao Xuân Thanh Ngọc Mây Vẫn Còn Bay Vi Vân Thơ Mẹ Võ Bị Nguyễn Viết Ấn Thơ Mùa Hoa Phương Sao Linh Hội H.O Và Lão Bà-Bà. Tô Văn Cấp Nguyệt Cầm Song Vũ Đại Hội VB Châu Âu Kỳ 13 Hoàng Tôn Long Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù… Tố Quyên Thơ Mai Anh Về Đà Lạt Nguyễn Đông Giang K17 và Không Quân Bắc Đẩu Võ Ý Ông Steve Dille Nguyễn Quốc Đống Thơ Vô Đề Song Ba Chiếc Nhẫn Thâm Tình Tealan Pennsylvania… Đỗ Nguyễn Nhật Khai Thơ Hỡi Con Vũ Thế Khanh Nhẹ Tưạ Lông Hồng Nguyễn M Trận Thường Phước,… Vương Võ Chiêu Đa Hiệu 111

6 30 Vùng Trời Mênh Mông Tường Thuý Nhớ Quên Đời Lính Trần Châu Giang Tình Huynh Đệ Trần Xuân Hiển Thơ Một Chút Gì Để Nhớ Hữu Hiền Tiểu Đoàn Một Bốn… Võ Công Tiên Lá Thư Tiền Tuyến Minh Nguyệt LĐ 5 BĐQ tại Quảng Trị Nguyễn Văn Nam Thơ Tặng Anh… Thanh Xuân Đại Hội Võ Bị Châu Âu Trần Tuấn Ngọc Trợ Giúp Thương Phế Binh Trần Ngọc Toàn Thơ Nếu Một Mai Tina Hồng Thơ Trở Giấc Chiêm Bao Phạm Kim Khôi Báo Cáo Tài Chánh – Đại Hội Cám Ơn Anh Kỳ 11 Hoàng Như Cầu Yểm Trợ Đa Hiệu Trần Trí Quốc Trả Lời Thư Tín Đỗ Mạnh Trường Chia Buồn 337 ÑA HIEÄU SOÁ 111 Phát Hành Cuối Tháng HÌNH BIÀ TOÀN CẢNH ĐẠI NHẠC HỘI CÁM ƠN ANH – NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH LẦN THỨ 11, SAN JOSE, CALIFORNIA, HOA KỲ, NGÀY Đa Hiệu phát hành định kỳ, mỗi năm 3 số, vào cuối các tháng 1, 5, 9. Đa Hiệu số 111 đã phát hành vào cuối tháng 9, Rất mong quý cộng tác viên đóng góp bài vở cho Đa Hiệu số 112 trước ngày 10 tháng 12 năm Đa Hiệu 111 5

7 LAÙ THÖ TOÅNG HOÄI Huntington Beach, ngày 1 tháng 9 năm Thưa các NT, quý vị sĩ quan Văn Hoá Vụ và Quân Sự Vụ, quý phu nhân, cùng toàn thể CSVSQ, – Các anh chị thuộc Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu, – Quý chiến hữu, độc giả, và thân hữu, Chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh quý CSVSQ, trong tình huynh đệ chi binh, đã nghe tiếng chim gọi đàn, từ khắp bốn phương trời, bay về với niềm vui hân hoan gặp nhau trong Đại Hội Âu Châu 2021, Đức Quốc. Sự hiện diện của quý vị đã nói lên lòng thương mến và quan tâm đến sinh hoạt của tập thể Võ Bị. Từ nhiều quốc gia trên thế giới, chúng ta về đây mang theo những kỷ niệm thân ái và thơ mộng của một thời áo lính học trò; và có người còn mang theo cả những hình ảnh hào hùng, oanh liệt của chiến trường ngày xa xưa. Nhân dịp này, chúng ta cùng tạm ngược thời gian quay về quá khứ, trở về buổi bình minh của cuộc đời, để tìm lại một vài cảm giác trẻ trung, một vài cảm xúc lãng mạn thời thanh niên, thời tràn đầy sức sống của những ngày xưa thân ái, để tận hưởng ánh nắng huy hoàng của mùa Hè rực rỡ tại Châu Âu. Chúng ta cũng chúc mừng nhau, vì sau cuộc chiến chống Cộng tàn khốc, với những cảnh sinh ly tử biệt, với những thăng trầm nhục vinh, với tù đày và khổ ải, chúng ta vẫn còn sống sót và khỏe mạnh để được tái ngộ nơi chân trời góc biển này. Trong sinh hoạt Đại Hội, chúng ta được chứng kiến một cuộc bầu cử chi tiết và đầy đủ, dựa vào Nội Quy của Tổng Hội CSVSQ/ TVBQGVN. Biên bản đã được hoàn tất với đầy đủ chữ ký của Chủ Tọa Đoàn và trao đến BCH/TH ngay tại phiên họp. Thay mặt BCH/TH, chúng tôi chúc mừng Tân Liên Hội Trưởng, anh Hoàng Tôn Long -K31. Cám ơn NT Đặng 6 Đa Hiệu 111

8 Văn Khanh -K25, Cựu Liên Hội Trưởng. Chúng tôi cũng chúc mừng cháu Mai Ngọc Sương -K10/2 được tái tín nhiệm vào chức Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn TTNĐH Âu Châu. Trong lễ bàn giao, chúng ta cảm kích khi nghe lời phát biểu của Tân LHTAC tái xác định lập trường và điểm đứng của LHÂC trong hệ thống của Tổng Hội CSVSQ/ TVBQGVN. Chúng ta cũng thấy vị Cựu Liên Hội Trưởng rất khiêm nhường, không ngại ngùng khi nhận lời mời làm phó cho vị Tân Liên Hội Trưởng. Đây là một quyết định đứng đắn, đáng khâm phục, và trân quý. BCH mới rất cần sự phụ giúp của những người có kinh nghiệm, đã từng trải qua những khó khăn và thấu hiểu những công tác trước mặt. Những vị đó không ai khác hơn là những người tiền nhiệm, có nhiệm vụ bàn giao và giúp đỡ ban chấp hành mới. Chúng ta cũng nhận thấy việc tổ chức Đại Hội rất nhịp nhàng nên có nêu thắc mắc với TBTC. CSVSQ Hoàng Tôn Long -K31 cho biết là mỗi lần tổ chức đều có lưu giữ lại hồ sơ, để Ban Tổ Chức lần kế đến có thể căn cứ vào để thực hiện thành công hơn. Tham dự Đại Hội lần này cũng có vợ chồng NT Trần Trí Quốc -K27, Trị Sự Đa Hiệu. NT Quốc đã nhận được sự yểm trợ nồng nhiệt từ gần 30 tham dự viên, đặc biệt có NT Trương Văn Tăng -K22 yểm trợ $100US, NT Trần Tuấn Ngọc -K28 $300US, NT Đặng Văn Khanh -K25 $200, chị Trần Văn Tiến -K22 yểm trợ thêm $59US dù NT Tiến đã gởi $50US trước đó… Thay mặt Toà Soạn Đa Hiệu, chúng tôi cám ơn những tấm lòng quý mến từ quý vị khi yểm trợ Đa Hiệu, tiếng nói của tập thể cựu SVSQ/TVBQGVN. Điều ghi nhận cuối cùng là, sau Đại Hội, đoàn du hành trên 120 người với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và nón bê-rê Võ Bị đã ghi lại nhiều dấu ấn tại những quốc gia Đông Âu. Một cuộc du hành mang tính cách đấu tranh, Cờ Vàng phất phới tung bay nơi vùng trời đã một thời bị kềm kẹp dưới chế độ Cộng Sản. Đa Hiệu 111 7

9 Ngày nào những đoàn du hành như thế sẽ về đến quê nhà Việt Nam? Trân trọng, TM. Ban Chấp Hành Tổng Hội, Tổng Hội Trưởng kiêm Chủ Nhiệm Tập San Đa Hiệu CSVSQ Tsu A Cầu, K29 Ba Thế Hệ Võ Bị Cùng Đọc Đa Hiệu. (Trong buổi tiệc của Gia Đình Võ Bị Houston chào đón anh Nguyễn Khoa, K26/2, từ Connecticut đến thăm.) Tammy Huỳnh K19/2 đứng hàng sau, thứ ba từ trái. 8 Đa Hiệu 111

10 Chieán Thuaät Ñaùnh BöùngGoác Nguyễn đạt Thịnh, K6 (viết theo tài liệu của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, K6) (Trích đăng) Ngày mùng 3 tháng 5/ 1974, thiếu tướng Homer D. Smith, Tùy Viên Quân Sự của Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam – ông Graham Martin – viết văn thư chính thức cho chuẩn tướng Trần Quang Khôi, tư lệnh trận đánh bứng gốc Sư Đoàn 5 Việt Cộng, ca ngợi chiến thắng của tướng Khôi. Trong văn thư đó có câu, Nhân danh ông Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin, và cả cá nhân tôi nữa, tôi xin ca ngợi chiến công lẫy lừng Chuẩn Tướng vừa đoạt được trong cuộc hành quân mới rồi. Đây là lần đầu tiên sau Hoà Ước Ba Lê, tôi chứng kiến một cuộc hành quân được thiết kế tuyệt hảo, và được thực hiện cũng tuyệt hảo. Cuộc hành quân tuyệt hảo đó là trận đánh tróc gốc Sư Đoàn 5 Việt Cộng – trận đánh này thường được gọi là trận Đức Huệ, mặc dù cả hai giai đoạn giao tranh và chiến thắng đều không thực sự diễn ra tại Đức Huệ. Đồn Đức Huệ nằm về phía Tây Bắc và cách Sài Gòn 56 cây số, do Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân phòng thủ với quân số trên dưới 420 người. Đồn chỉ cách biên giới có 6 cây số, khoảng cách lý tưởng Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 9

11 để thực hiện chiến thuật công đồn đả viện cho những tiểu đoàn pháo binh Việt Cộng đặt cách biên giới 5, 7 cây số, vừa an toàn lại vừa đúng tầm pháo để đánh trận địa pháo trên những toạ độ chúng đã điều chỉnh, và cắt cử tiền sát viên pháo binh theo dõi. Đêm 27 tháng Ba 1974, một đaị đội Đặc Công CS xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức Huệ; vào lúc 02:00 giờ sáng ngày , chúng chiếm được một góc trong căn cứ. Ngay từ những phát súng nổ đầu tiên, Thiếu Tá Bảo bị thương ở chân, nhưng ông vẫn sử dụng máy truyền tin, gọi được 3 đại đội tác chiến bên ngoài gấp rút trở về. Tiểu Đoàn tập trung lại phản công quyết liệt. Bên ngoài căn cứ, Sư Đoàn 5 CS (Công Trường 5) bao vây Đức Huệ bằng hoả lực; pháo binh địch tập trung pháo kích vào căn cứ dữ dội. Bên trong căn cứ Biệt Động Quân và Đặc Công CS cận chiến giành nhau từng vị trí một, đánh nhau bằng lưỡi lê và lựu đạn. Đến sáng thì đại đội Đặc công CS bị quân ta tiêu diệt hết. (Tài liệu của Chuẩn Tướng Khôi) Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình, tổ chức lại phòng thủ chặt chẽ, và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa lực chung quanh căn cứ. Trong khi đó, các đại đội tác chiến BĐQ bố phòng chặn đứng các đợt xung phong của các đơn vị bộ binh thuộc Sư Đoàn 5 CS. Hai bên giao chiến ác liệt ngày đêm không ngừng nghỉ. Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ Đức Huệ, nhưng bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 CS ở Giồng Thổ Địa, thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông Vàm Cỏ. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III điều động Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 33 BĐQ do Trung Tá Lê Tất Biên phụ trách sang Đức Hòa cùng với Tiểu Đoàn 64 BĐQ do Thiếu Tá Nguyễn Chiêu 10 Đa Hiệu 111

12 Minh chỉ huy. Ngày , Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ (khoảng 50 người) do Trung Úy Anh chỉ huy được trực thăng vận xuống Căn Cứ Đức Huệ tăng cường cho Tiểu Đoàn 83 BĐQ, đồng thời Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) vượt sông Vàm Cỏ Đông ở gần nhà máy đường Hiệp Hòa, nhập với Tiểu Đoàn 36 BĐQ làm 2 cánh quân tiến song song về hướng Căn Cứ Đức Huệ, cách đó chừng 10 cây số đường chim bay. Tiến được chừng 2 cây số, khoảng hơn 1 trung đoàn Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 5 CS từ những vị trí hầm hào đào sẵn, xông lên tấn công mạnh, đồng thời pháo binh địch cũng bắn xối xả vào đội hình của hai cánh quân này gây tổn thất nặng. Cuối cùng Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) và Tiểu Đoàn 36 BĐQ buộc phải gom quân rút lui về lại bên này bờ sông Vàm Cỏ.Bộ Tư Lệnh QĐIII giao nhiệm vụ giải cứu Đức Huệ cho Sư Đoàn 25 BB do Đại Tá Nguyễn Hữu Toán chỉ huy. Đại Tá Toán điều động các đơn vị thuộc Sư Đoàn 25 đang hành quân trong vùng lân cận biên giới từ phía Bắc đến giải tỏa. Một căn cứ hỏa lực được thành lập tại làng Phước Chỉ, thuộc tỉnh Tây Ninh. Căn cứ này nằm cách biên giới khoảng 2 cây số về phía Nam đồn biên giới An Hòa và cách Căn Cứ Đức Huệ khoảng 13 cây số về phía Bắc. Ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu phối trí trong căn cứ Phước Chỉ, còn có Trung đoàn 46/ SĐ25 BB được tăng cường Chi đoàn 3/10 Thiết kỵ. Chi đoàn trưởng Chi đoàn này là Đại Úy Trần Văn Hiền. Tất cả lực lượng liên binh này được đặt dưới quyền điều động của Trung Tá Cao Xuân Nhuận, Trung Đoàn Trưởng Trung đoàn 46 BB và được Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25 BB ở Củ Chi giám sát, chỉ huy. Để đối phó với đoàn quân giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB, quân địch đã chủ động tổ chức địa thế, bố trí chờ đánh quân tiếp viện. Chúng đặt các chốt chặn trên trục tiến quân của ta, đồng thời pháo binh tầm xa của chúng nằm Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 11

13 sâu bên kia biên giới mở những trận địa pháo chính xác, liên tục và ác liệt gây nhiều thương vong cho Trung đoàn 46 BB, làm các cánh quân không điều động được, nên kế hoạch giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB thất bại. Một phi cơ quan sát L19 bị phòng không địch bắn rơi gần đó, Trung đoàn cũng không tiếp cứu nổi phi hành đoàn. Sau đó quân địch pháo kích tập trung hỏa lực thẳng vào căn cứ Phước Chỉ bằng hỏa tiễn 107 ly và 122 ly khiến Trung Tá Cao Xuân Nhuận, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 46/ SĐ25 BB bị tử thương. Trong suốt thời gian gần một tháng trời, quân bạn không đem lại một kết quả khả quan nào, hàng ngày vẫn bị pháo kích dồn dập, trực thăng tản thương và tiếp tế bị bắn rớt ngay trong căn cứ, 1 khu trục cơ Skyraider yểm trợ hành quân và 1 phi cơ DC3 thả dù tiếp tế bị hỏa tiễn SA 7 bắn rớt; những cánh dù mang lương thực và đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ thường bay ra ngoài vòng rào và lọt vào tay quân địch. Như vậy là cả hai nỗ lực từ phía sông Vàm Cỏ Đông của BĐQ đánh qua và từ phía Bắc của Sư Đoàn 25 BB đánh xuống đều bị thất bại trong việc tiếp cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ. Vấn đề vô cùng cấp bách lúc đó là tản thương, cứu thương, và tiếp tế lương thực, nước uống, đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ, trong lúc mọi đường giao thông liên lạc vào căn cứ đều bị Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn cắt đứt nhiều ngày. Căn cứ bị cô lập và bị bao vây chặt chẽ. Tình hình bên trong căn cứ rất căng thẳng. Ngày , Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, Tư Lệnh Quân Đoàn III, cho gọi Chuẩn Tướng Khôi trở về bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, trong lúc ông đang chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hành quân thám sát Khu Tam Giác Sắt và Vùng Hố Bò. Tướng Thuần cho Tướng Khôi biết thêm về tình hình giao tranh tại Đức Huệ, ra lệnh cho Tướng Khôi bay vào vùng giao tranh, nhận xét tình hình rồi trở về trình bầy cho ông biết quan 12 Đa Hiệu 111

15 thị trấn ChiPu của Campuchia xuất hiện ở phía trước. Về phía Nam một chút, có một khu rừng rộng khoảng 10 mẫu Tây gây sự chú ý cho Khôi. Ông chợt nhớ lại cách đó 4 năm, trong cuộc hành quân Toàn Thắng 42 cuối tháng Tư 1970, ông đã đi qua khu rừng này và biết rất rõ địa thế phía Nam của Thị trấn ChiPu. Hiểu biết đó giúp ông tìm ra cái gốc của bài toán Đức Huệ: Việt Cộng đặt pháo tại khu rừng phía Nam ChiPu, và pháo vào mọi đơn vị Việt Nam đến giải cứu Đức Huệ. Ông viết lại trong một bài báo, Trong chớp mắt, tôi thấy ngay là phải hành động như thế nào để đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ trong Căn Cứ Đức Huệ. Trở về hậu cứ của Lữ Đoàn ở Biên Hòa, tôi phác họa ra kế hoạch phản công trong vòng 20 phút. Đặc điểm của kế hoạch này là sự giản dị tối đa và bất ngờ hoàn toàn: Toàn bộ LLXKQĐIII sẽ cùng tôi vượt biên ban đêm và bí mật tiến sâu vô lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Nỗ lực chính là đột kích đêm vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS từ hướng Nam ChiPu. Phải hết sức bí mật và hành động thật nhanh, tập trung toàn bộ sức mạnh của Thiết Giáp, khai thác tối đa tốc độ và Shock Action trên trận địa, không cho địch trở tay kịp. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần chăm chú nghe Tướng Khôi trình bày đề nghị sử dụng LLXKQĐIII (Lực Lượng Xung Kích QĐIII) phản công để giải toả Căn Cứ Đức Huệ. Kế hoạch phản công của tướng Khôi có 2 giai đoạn. Ông viết: – Giai đoạn 1: Hành quân lừa địch. Từ ngày N-6 đến ngày N: Rút LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong tỉnh Tây Ninh về khu Còmi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung tin là LLXKQĐIII di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh). Mục đích của cuộc điều động quân này là làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ rút 14 Đa Hiệu 111

16 đi đến một nơi khác. – Giai đoạn 2: Hành quân phản công. Từ ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu, dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở phía Tây Căn Cứ Đức Huệ. Nghe xong kế hoạch của Tướng Khôi, Tướng Thuần tỏ ra ngần ngại; ông bảo Tướng Khôi, Chuẩn Tướng Khôi, Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh, tại căn cứ BĐQ Đức Huệ, Tôi lo kế hoạch này của anh sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng về chính trị. Vì như thế là chúng ta xâm phạm vào lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền. Chính phủ Campuchia sẽ có phản ứng và Liên Hiệp Quốc chắc chắn sẽ lên tiếng phản đối. Tôi sẽ gặp khó khăn. Tướng Khôi trả lời, – Thưa Trung Tướng, CSBV có tôn trọng chủ quyền của Campuchia đâu. Chúng đang sử dụng lãnh thổ của Campuchia để tấn công chúng ta. – Đúng vậy, nhưng đây là một vấn đề rất tế nhị. Anh có thể làm một kế hoạch khác được không? Tướng Khôi đáp, – Xem xét kỹ tình hình và địa thế, tôi nghĩ chỉ có kế hoạch bứng gốc Sư Đoàn 5 Việt Cộng, tiêu diệt những họng đại bác Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 15

17 chúng đặt trên lãnh thổ Miên chúng ta mới đánh bại chúng và giải cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ được. Dĩ nhiên Tướng Khôi có lý, nếu không khoá họng vài chục khẩu đại bác 130 ly đặt an toàn trên lãnh thổ Miên, với hàng kho đạn đầy ắp, được viện trợ thoả thích chứ không giới hạn như đạn Mỹ cho Việt Nam, thì bao nhiêu ngàn quân tiếp viện cũng chỉ là thịt đưa vào lò giết người của Việt Cộng. Ông quyết liệt trong đề nghị đánh một trận bứng gốc để tiêu diệt mọi tiềm năng hoả lực đang tàn sát chiến sĩ Việt Nam bên trong và bên ngoài căn cứ Đức Huệ. Tướng Thuần cũng thấy không có giải pháp nào khác hơn là phải tấn công Sư Đoàn 5 Việt Cộng đang an nhàn pháo kích sang trận địa pháo Đức Huệ. Ông bảo Tướng Khôi, – Thôi được, tôi sẽ trình kế hoạch của anh lên Tổng Thống để ổng quyết định. Nếu được chấp thuận, anh sẽ chỉ huy cuộc hành quân này. Hãy về chuẩn bị lực lượng. Tướng Khôi viết, – Trên đường về Lữ Đoàn, tôi nghĩ chắc rồi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng sẽ chấp thuận; chúng ta không thể vì lo ngại Liên Hiệp Quốc mà hy sinh tính mạng của hơn 500 chiến sĩ BĐQ và gia đình họ bên trong Căn Cứ Đức Huệ. Trong lòng tôi rất vui mừng vì đây là lần đầu tiên tôi sắp có trong tay một lực lượng Thiết Giáp lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lần đầu tiên tôi được toàn quyền hành động để đương đầu trực diện với một Sư Đoàn CS. Ngày , Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận Kế Hoạch Hành Quân của tôi, đồng thời ra lệnh cho Không Lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh: 120 phi xuất (Tactical Air Support), từ ngày N đến ngày N+3 theo yêu cầu của tôi. Tôi chọn ngày N là ngày Theo nhu cầu hành quân của tôi, các đơn vị sau đây được 16 Đa Hiệu 111

18 Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III chỉ định tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB để nằm trong tổ chức của LLXKQĐIII: – Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy; – Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy; – 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy; – Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy; – Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy; – Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công Binh do Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát; – 1 Trung đội Truyền Tin Siêu Tần Số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ, Trưởng phòng Truyền Tin Lữ Đoàn Giám Sát; – 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy. Ngoài ra, Trung Tướng Thuần còn ra lệnh cho 3 tư lệnh sư đoàn Bộ Binh cho tôi mượn 6 giàn hỏa tiễn TOW chống xe tăng để phân phối cho mỗi Chiến Đoàn Thiết Giáp vượt biên, 2 giàn hỏa tiễn TOW gắn trên xe thiết vận xa M113 đề phòng trường hợp có chiến xa T54 của địch xuất hiện trên chiến trường Kampuchia. Trước khi kết thúc buổi họp, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn chúc tôi thành công trong nhiệm vụ giao phó. Tôi đứng Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 17

19 lên đáp lời cám ơn. Lúc đó trong lòng tôi có một sự tin tưởng mãnh liệt vào chiến thắng của cuộc hành quân này, nên tự nhiên tôi buột miệng thốt ra: – Thưa Trung Tướng, chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản! Trên đường về Lữ Đoàn, tôi giật mình khi nghĩ lại những lời mình vừa nói. Tại sao tôi dám liều lĩnh khẳng định trước hội nghị là sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản? Mặc dù tôi có trong tay LLXKQĐIII là một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ chưa từng bị thất trận và mặc dù tôi đã nắm chặt trong tay những yếu tố có tính cách quyết định thắng lợi, nhưng vẫn còn 2 yếu tố khác ngoài tầm tay của tôi có thể làm tôi bị thất bại trong cuộc hành quân này. Đó là thời tiết và kế hoạch hành quân bị bại lộ. Thật vậy, nếu đến ngày N là ngày xuất quân trời đổ mưa trong vùng hành quân, địa thế trở nên lầy lội, tôi sẽ không thể điều động lực lượng Thiết Giáp như ý muốn được, hoặc kế hoạch hành quân của tôi trình lên phủ Tổng Thống để xin quyết định, nếu bị tiết lộ ra ngoài, chắc chắn sẽ đưa tôi đến thảm bại. Cứ nghĩ đến 2 yếu tố này là tôi không ăn ngủ được. Tôi thấy hối tiếc đã thốt ra những lời khẳng định trước là sẽ đánh thắng quân địch. Lời khẳng định này cứ ám ảnh tôi ngày đêm. Cuối cùng tôi tự nhủ: phải giữ đúng lời hứa; bằng mọi cách, mọi giá, phải đánh thắng Sư Đoàn 5 Cộng Sản. Ngày , tôi ra lệnh cho toàn bộ LLXKQĐIII, đang hành quân thám sát trong Chi Khu Khiêm Hanh thuộc tỉnh Tây Ninh, rút quân về đóng ở khu Còmi thuộc quận Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương (Thủ Đầu Một). Tôi cho phao tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển qua Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh. Mục đích của cuộc rút quân này là để đánh lừa địch, làm cho chúng tưởng là quân Thiết Giáp sẽ rút đi luôn không trở lại. Tôi cho trung đội điện tử thường xuyên nghe lén và theo dõi địch trao đổi tin tức với nhau. Khi LLXKQĐIII vừa rút đi khỏi Gò Dầu 18 Đa Hiệu 111

20 Hạ về Lái Thiêu thì đài tình báo của địch ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo: Quân Thiết Giáp đã rút đi. Tôi biết chúng bị mắc lừa. Từ ngày đến ngày , trong 6 ngày này đóng quân ở khu Còmi quận Lái Thiêu, các Chiến Đoàn 315, 318, và 322 theo lệnh tôi ra sức ôn tập hợp đồng tác chiến giữa Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh từ cấp Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Chiến Đoàn thật nhuần nhuyễn. Riêng tôi trong 6 ngày đó, tôi tích cực không ngừng làm công tác chính trị. Kinh nghiệm chiến trường cho tôi thấy tinh thần hăng say làm tăng sức mạnh của đơn vị lên gấp bội. Khơi dậy được tinh thần chiến đấu của toàn quân là yếu tố số một của thắng lợi. Tôi lần lượt đi xuống họp với các cấp chỉ huy Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn của các binh chủng và với các chiến đoàn trưởng, nói rõ tình hình của ta và địch, nói rõ nhiệm vụ và cách đánh của LLXKQĐIII để mọi người đều thông suốt và tin tưởng sự tất thắng của chúng ta. Tôi thuyết phục họ tin vào sự chỉ huy của tôi và nói rõ sự quyết tâm của tôi là phải chiến thắng bằng mọi giá. Tôi thúc đẩy họ, tôi nói đến tình đồng đội: Chúng ta không thể bỏ rơi đồng đội của mình đang bị địch bao vây và mong chờ chúng ta đến cứu họ. Ngày N – ngày đã đến. Chiều ngày , Công Binh đã sẵn sàng; Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 302 CB, theo lệnh tôi, đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ các phà cao su để đưa chiến xa M48 qua sông. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận 2 bờ sông Gò Dầu Hạ kiểm tra Công Binh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông. Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐIII gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318, và 322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 19

21 Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ. Ngày , lúc 00:00 giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra hướng biên giới Việt Miên. Từ 01:00 giờ sáng đến 03:00 giờ sáng, các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt vượt biên sang lãnh thổ Kampuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu. Đến 03:15 giờ, tất cả các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy chỉ dấu gì chúng Giải toả căn cứ Đức Huệ, tháng 4/1974. nghi ngờ. Đúng 03:30 giờ, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318 vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy của tôi theo sau Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc Lộ 1 chờ lệnh. Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. Đến 05:00 giờ sáng ngày , các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo cáo chạm địch. Quân ta điều động bao 20 Đa Hiệu 111

22 vây, chia cắt, tấn công liên tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt. Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ Pháo Binh của quân địch bị quân ta tràn ngập và lần lượt bị quyét sạch. Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ. Đặc biệt hơn cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT3 của Liên Xô nằm trên giàn phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt. Đến 08:00 giờ sáng, Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 tháng Tu 1974, đại quân của Sư Đoàn 5 CS bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích chúng sâu trong lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và hàng trăm tên bị quân ta bắt sống. Sáng ngày , các đơn vị địch còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần lượt bị quân ta tiêu diệt. Đến trưa, một cánh quân của Thiết Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn bị quân ta quét sạch. Bộ Chỉ huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chipu trong một làng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm nức lòng mọi người. Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả, trời trong vắt, đầy sao, lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với Quân Đoàn là chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS và bây giờ chúng tôi đã đánh bại chúng. Tôi đã nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì sẽ không một ai trở về Việt Nam và bây Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 21

23 giờ chúng tôi đã chiến thắng để có thể trở về. Đối với tôi trận đánh này cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy mạng sống của tôi ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó trong đời tôi, thật không có một niềm hạnh phúc nào lớn hơn được. Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận vận động chiến nào mà quân ta hoặc quân Đồng Minh chiến thắng một đại đơn vị CS nhanh chóng đến như thế, tuyệt đối đến như thế. Tôi lấy một mẫu giấy nhỏ, tự tay thảo ngay bức công điện ngắn báo cáo chiến thắng về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III. Trân trọng báo cáo: – Ngày : Xuất quân. – Ngày : Phản công. – Ngày : Tiêu diệt địch. – Ngày : Hoàn thành nhiệm vụ. Ngày , tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn ở Gò Dầu Hạ, phóng viên đài VOA phỏng vấn hỏi tôi: – Có phải Chuẩn Tướng đã đưa quân sang lãnh thổ Campuchia không? – Không, tôi chỉ hành quân dọc theo biên giới bên trong lãnh thổ Việt Nam. Chính Cộng Sản Việt Nam mới có quân trên lãnh thổ Kampuchia. Tôi đáp. Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của Quân Lực ta ở Căn Cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm: – Tướng Trần Quang Khôi nói không hề đưa quân sang lãnh thổ Kampuchia, nhưng theo tin tức riêng của chúng tôi thì Quân lực VNCH có truy đuổi quân Cộng Sản Bắc Việt trên lãnh thổ Kampuchia. Ngày , Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng đến Gò Dầu Hạ thị sát chiến trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi tiếp đón Tổng Thống. Ông vui vẻ bắt tay 22 Đa Hiệu 111

24 chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân địch. Rất nhiều vũ khí cộng đồng các loại. Nổi bật là các giàn phóng hỏa tiễn 4 ống, 8 ống, và 12 ống cùng hàng trăm hỏa tiễn 107 và 122 ly. Đặc biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ thống điều khiển chống xe tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến trường Nam Việt. Nhiều tùy viên quân sự Tây phương mỗi người xin một quả nói để đem về nước nghiên cứu. Nhìn số vũ khí khổng lồ của địch bị quân ta Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăm TĐ 83 BĐQ tại căn cứ BĐQ Đức Huệ, sau khi được giải toả khỏi áp lực địch, 1974 tịch thu mới hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong Căn Cứ Đức Huệ và sự chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ. Tiếp đến, Tổng Thống đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh chủng trong tổ chức LLXKQĐIII, ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn cấp bậc Đại Tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn trưởng Chiến Đoàn 315. Sau đó Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy cùng tôi bay qua Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và phái đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau.trên đường bay, Tổng Thống bảo tôi: Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 23

25 – Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh. – Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán, Tôi đáp lại. Trực thăng đáp xuống Căn Cứ Đức Huệ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ một vòng viếng thăm, ủy lạo và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị Pháo Binh địch tàn phá đổ sập gần hết, nhưng sự hãnh diện giữ vững được đồn hiện ra trong đôi mắt của mỗi chiến sĩ BĐQ. Một chuẩn úy BĐQ còn rất trẻ đến gặp tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh bước tới gần tôi, hai tay nắm chặt lấy tay tôi bật khóc và nói: – Cám ơn Chuẩn Tướng đã cứu mạng chúng em. Tôi cảm động ôn tồn đáp lại: – Chính anh phải cám ơn các em mới đúng. Sự chiến đấu vô cùng dũng cảm của các em là một tấm gương sáng chói, là niềm hãnh diện chung của Quân lực chúng ta. Các em mới thật sự là những anh hùng của Quân đội mà mọi người Việt Nam Tự do phải mang ơn các em. Hai tuần sau, tôi nhận được một lá thư của Đại Tá Raymond Battreall nguyên Cố Vấn Trưởng của Bộ Chỉ huy Thiết Giáp Binh QLVNCH. Battreall cho rằng đây là một chiến thắng ngoạn mục và xuất sắc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối thư ông viết bằng chữ Việt Nam: Kỵ Binh Việt Nam Muôn Năm. Đúng một năm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Đoàn 4 CSBV do Thượng Tướng CS Hoàng Cầm chỉ huy đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa, và Sư Đoàn 341 CSBV bị LLXKQĐIII đánh bại ở Biên Hòa buộc phải rút đi sau khi chịu nhiều tổn thất to lớn. Ngay sau đó, LLXKQĐIII kéo quân về tiếp cứu Thủ Đô Sài Gòn thì được lệnh buông vũ 24 Đa Hiệu 111

26 khí đầu hàng lúc 10:25 giờ ngày 30 tháng 4 năm Ai là người chịu trách nhiệm làm mất MNVN? Ai là thủ phạm đưa QLVNCH đến chỗ thua trận? Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh kể từ ngày thành lập đến ngày do tôi chỉ huy, luôn luôn chiến thắng hết trận này đến trận khác cho đến phút chót. Không một ai trong chúng tôi lùi bước trước quân thù. Không một ai trong chúng tôi bỏ trốn ra nước ngoài. Tất cả có mặt tại hàng và chấp nhận định mệnh không than van kêu khóc. Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi Chiến Thuật Đánh Bứng Gốc 25

28 người tuổi về hưu như tôi. Mưa bắt đầu nặng hạt, mấy giỏ hoa treo đong đưa; mấy lá sen trong hồ ngả nghiêng theo gió ve vẩy như vành tai con voi. Thấm thoát mười năm rồi từ ngày treo chiếc wind chimes theo ý nhà tôi. Nay chuông gió còn đó nhưng nhà tôi không còn để nghe tiếng trầm bổng mỗi khi gió lộng. Nay, chỉ mình tôi ngồi đây nghe tiếng còn tiếng mất, vì tai trở thành nghễng ngãng. Hai năm qua mau chiếc ghế kia nay trống trơn, nơi người bạn cùng khoá hay ngồi cùng tôi nhâm nhi suy ngẫm cuộc đời. Anh đã ra đi nhanh như chiếc lá theo gió cuốn, tôi làm theo điều ước anh trăn trối, và cuối cùng nắm tro tàn của một đời người được gởi vào lòng đại dương tại vịnh Mexico. Nhiều năm qua cánh cửa sau nhà đã chứng kiến bao nhiêu việc xảy ra trong đời, chia sẻ cùng tôi khi vui, lúc buồn; tâm sự như thủy triều lên xuống. Cánh cửa cũ bị trộm phá hư đã được thay, nhưng kỷ niệm trong tôi không thể thế. Dù có người bạn mới đến với mình trong cuộc sống, nhưng không thể nào thay thế kỷ niệm ăn sâu trong lòng. Nhớ ngày nhà bị trộm khi tôi đang ngồi quán uống cà phê ngoài phố với bè bạn. Đứa con điện thoại cho biết cửa kiếng nhà sau bị đập, tôi vội vã trở về, lẩm bẩm, chỉ đi vắng chưa đầy hai tiếng mà nhà bị trộm! Kiểm điểm đồ đạc, tôi mới biết mình mất máy computer mới mua để trên bàn đang chờ load softwares; mất thêm máy computer cũ để nơi bàn viết dưới bàn thờ gia đình; và mất lon nhựa đựng tiền xu trong phòng học, biết được nhờ thấy bạc cắc rơi rớt trên driveway. Thật ra tôi cũng may mắn chỉ mất bằng ấy thứ, nhưng rất buồn vì chiếc máy computer cũ bị đánh cắp. Nó là kỷ vật vô giá đã theo chân tôi hết nhà thương này đến bệnh viện khác, ròng rã bốn năm tháng sau cùng khi nhà tôi lâm trọng bệnh cuối đời. Nó ghi lại và lưu trữ tâm sự tôi trong suốt thời gian này; nhờ nó tôi được sống lại kỷ niệm quý báu đời mình. May thay vài Cánh Cửa Không Bao Giờ Đóng 27

29 tháng sau khi nhà bị trộm, nhân viên cảnh sát gọi đến nhận lại chiếc máy cũ này mà tôi tin nhờ sự mầu nhiệm. Cửa sau nhà đã được thay. Cổng sắt được gắn thêm trên driveway và vài món trang bị khác được thiết trí giúp tôi đề phòng trộm đạo hay bất trắc. Bây giờ tôi cảm thấy an toàn hơn ư! Không hẳn! Vì tất cả những thứ này chỉ để phòng người ngay chớ nào ngăn được kẻ gian. Ở xã hội này là vậy. Tin tức xấu ngày đêm loan truyền trên các phương tiện truyền thông. Mấy ai nghĩ tai nạn hay bệnh tật sẽ xảy đến cho mình, vậy mà chỉ trong vòng vài năm tôi có đủ, điển hình là trộm vào nhà, heart attack, vĩnh viễn chia tay với người thân. Bà con xa, nhưng láng giềng gặp mặt chào hỏi chứ nào biết gốc gác. Cửa nhà lúc nào cũng đóng im ỉm. Chẳng lẽ tôi là tên tù tự nhốt mình sau cánh cửa? Khác lúc mới đến xứ này, tôi mời vào nhà bất cứ ai đến gõ cửa. Người bảo trợ biết được khuyên không nên, bởi cuộc sống ở đây khác xa nơi tôi sanh ra. Ở miền quê Việt Nam xưa kia, xóm làng biết nhau từ đời này qua đời khác. Cửa nhà không cần đóng, đúng như cụ Nguyễn Công Trứ trong bài Hàn Nho Phong Vị Phú: Bóng nắng dọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô, Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó. Trong cũi, lợn nằm gặm máng, đói chẳng muốn kêu, Đầu giàn, chuột cậy khua niêu, buồn thôi lại bỏ. Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no, Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ. Quê tôi là vậy. Mấy vần thơ này sao đúng cuộc đời tôi năm xưa! Thấy mình trong Thằng bé tri trô, sống cảnh nghèo nàn nhưng đầm ấm và bình an nên cửa thường bỏ ngỏ. Còn nay cho dù cửa đóng then cài vẫn không cảm thấy an toàn lúc đêm về. Làm sao an tâm khi cuộc sống lúc nào cũng bị rình 28 Đa Hiệu 111

30 rập. Khi cuộc sống bất an, con người thường hướng lòng về đức tin; như tôi hằng cầu nguyện xin được bình an khi rời Việt Nam trên chuyến tàu nhỏ hơn chiếc lá trong đại dương; như tôi tin vào sự nhiệm mầu của nhà tôi nên máy computer được Châu về hợp phố Và nay bên trong cánh cửa, tôi đêm đêm cầu nguyện để được đón ánh bình minh một ngày mới, để được nhâm nhi ly cà phê đầu ngày và được nhìn đời qua khung cửa. Cửa nhà tuy đóng, nhưng cửa tâm hồn bỏ ngỏ để vần thơ, câu văn được sáng tạo. Khi tình láng giềng khép kín thì cửa lòng mở rộng đón người cùng chí hướng cùng nguyên quán. Nhờ vậy người Việt tỵ nạn âm thầm góp công, góp sức vào các công cuộc từ thiện, cứu trợ; xây đắp hội đoàn cùng cộng đồng để sánh bước với cộng đồng bạn, giúp lớp trẻ hội nhập vào dòng chính trong xã hội mới. Họ là những người Việt với cánh cửa lòng rộng mở, trong đó có anh, có tôi, có các chiến sĩ đã từng hy sinh tuổi thanh xuân cho tự do của quê hương mình. Có quá suy diễn hay không, khi liên kết cánh cửa nhà đến cánh cửa lòng, từ vật hữu hình vô tri đến ý nghĩ trừu tượng vô hình? Chúng ta hầu hết không làm chính trị, nhưng ý thức được sức mạnh chính trị để giúp cộng đồng lớn mạnh, những mong luồng gió mới mang sinh khí cho quê hương được hồi sinh, hay ít nhất để tiếng nói của người Việt hải ngoại được lắng nghe và được đối xử bình đẳng trong cuộc sống hằng ngày. Họ góp bàn tay chọn người nói thay trong xã hội họ đang sống. Mưa vẫn còn ray rứt. Tiếng sấm sét đì đùng. Con chó cào cửa đòi vô. Qua khung cửa, cảnh vật ngoài vườn mờ nhạt. Cũng qua khung cửa này hôm qua khi trời quang mây tạnh, tôi chứng kiến cảnh con Cardinal** trống đâm đầu vào cửa Cánh Cửa Không Bao Giờ Đóng 29

31 kính, đá vào bóng mình vì tưởng gặp kẻ thù. Màu đỏ tuyệt đẹp của Cardinal trống như nền alpha trên cầu vai, như màu logo trên nón với điều tâm niệm Tự Thắng để Chỉ Huy của người Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi mơ màng nghĩ đến ngôi trường năm xưa trên đồi 1515, những người bạn cùng khóa, những đồng môn đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam hay mệnh một nơi xứ người. Tôi nghĩ đến những người trai từ khoá 1 đến khóa 31 dù đã rời khỏi ngưỡng cửa này nhưng vẫn có cùng mẫu số. Và ngậm ngùi khi thấy con Cardinal trống tự đá bóng mình một cách điên cuồng, rồi, tự hỏi có phải tôi vừa chứng kiến hình ảnh của tập thể Võ bị những lúc gần đây! Không phải chỉ loài chim muông, con người đôi lúc cũng mắc bệnh ảo tưởng. Tranh hơn thua với chính chiếc bóng của mình. Đó là mầm mống tự hủy diệt trong sinh hoạt tập thể. * * * Cánh cửa là gạch nối cuộc sống riêng tư với xã hội bên ngoài qua ngưỡng cửa. Bên sau mỗi cánh cửa là một câu truyện đặc thù của gia đình, nơi đó có vui buồn, thầm kín mà không gia đình nào giống gia đình nào. Ánh đèn sau khung cửa lúc đêm về cho ta cảm giác an toàn, đầm ấm, đoàn tụ sau một ngày lăn lộn với cuộc sống. Nhưng ánh đèn sau khung cửa cũng nói lên những khắc khoải ưu tư của cuộc sống. Bên trong cánh cửa là biểu tượng cho cuộc sống nội tâm, trong khi bên ngoài cánh cửa là dấn thân, là hòa đồng vào cuộc sống để cho và nhận. Bên sau cánh cửa hay bên ngoài cánh cửa đều có sức quyến rũ của nó. Riêng cánh cửa kiếng sau nhà tôi, nơi đó tôi được chiêm ngưỡng nét đẹp vườn sau mà tôi đã bỏ nhiều công vun xới, tôi thấy được thiên nhiên qua áng mây thật cao, tìm được hạnh phúc lúc tuổi xế chiều, và trực diện với ảo ảnh cuộc đời. Cánh cửa nhà hư hỏng, mục nát còn thay được; nhưng cánh cửa đời vô hình chỉ mở một lần cho chúng ta đến 30 Đa Hiệu 111

32 với cuộc sống và trở về nhà khi đã làm tròn trách nhiệm nơi trần thế. Cánh cửa về miền vĩnh phúc không bao giờ đóng. Chúng ta sống ở cả hai bên cánh cửa cuộc đời. Hãy khép cửa khi cần phút riêng tư, mở cửa khi cần hội nhập vào cuộc sống, hé cửa khi cần quan sát và để người khi cần đến với ta; nhưng đừng bao giờ khóa chặt cửa tự giam hãm để chính mình không có lối thoát. * * * Cảm Nghĩ Sau Cùng Hiện nay, cánh cửa thương thảo của thế giới với Bắc Hàn vẫn chưa đóng, chỉ vì nền hòa bình trên thế giới. Vì quyền lợi riêng tư, cánh cửa quốc gia của hai cựu thù trong chiến tranh Việt Nam được mở để họ tái lập ngoại giao vào năm Vậy, chừng nào sự rạn nứt của tập thể Võ Bị được hàn gắn? Cánh cửa căn nhà Võ Bị được mở để tiếp đón những người đồng môn? Đó là nguyện vọng của đa số thầm lặng của tập thể Võ Bị. Hãy đối xử với nhau như đứa con cùng Mẹ. Nguyên tắc, quyền lực, nội quy, điều luật để điều hành và sinh hoạt trên phương diện tổng quát mà thôi, không phải là cẩm nang phải nhất nhất tuân theo để giải quyết các trở ngại. Áp dụng cứng nhắc, chẻ sợi tóc cho từng vấn đề để có lợi cho phe nhóm chỉ làm tập thể thêm phân hóa. Hãy đếm và thống kê bao nhiêu lời chia buồn Thành Kính Phân Ưu ngày ngày trên diễn đàn, trong mỗi Tập San Đa Hiệu thì rõ tình trạng của GIA ĐÌNH VÕ BỊ CHÚNG TA HIỆN NAY!!! Người lãnh đạo sáng suốt rất cần cho tập thể chúng ta bây giờ. Quả cầu pha lê của tương lai tập thể Võ Bị phải được bảo toàn vì nó là di sản của chúng ta để lại cho con cháu. Tôi yêu màu đỏ của nền Alpha Võ Bị. Tôi thích màu đỏ con chim Cardinal thường xuất hiện qua khung cửa nhìn ra vườn Cánh Cửa Không Bao Giờ Đóng 31

33 sau, vì đây là màu cho tôi được tình yêu đi đến hôn nhân và là màu Tình Tự Võ Bị của những người cùng chí hướng. Tôi hằng cầu nguyện con chim Cardinal được mạnh giỏi sau khi tự đá bóng mình, và trở lại viếng vườn sau nhà để tôi được ngắm qua khung cửa. Để kết thúc bài viết, xin mượn ý một đoạn trong bài thơ The Door của Miroslav Holub, Hãy mở cửa! Ngoài kia sương mù, rồi sẽ có lúc trời quang đãng Hãy mở cửa! Ngay khi tăm tối, khi gió lộng, cho dù không tìm được gì cả và hãy mở cửa! Ít ra ta cũng một lần được thử. (*) (*) Viết theo ý The Door của Miroslav Holub (Sanh năm 1923, tại Zechoslovakia). Go and open the door. If there s a fog, it will clear. Go and open the door. Even if there s only the darkness ticking, even if there s only the hollow wind, even if nothing is there, Go and open the door. At least there ll be a draught. **Viết thêm về chim Cardinal Cặp chim Cardinal thường đến viếng khu vườn của nhà tôi. Một hôm, tôi nghe như có tiếng đập vào french door nhà sau, thì ra con chim Cardinal trống đang đá và mổ vào khung kính. Sau một hồi thấm mệt, Cardinal bay đi. Tôi tò mò ra phía sau nhìn vào cửa thì thấy bóng mình trong đó. Thì ra Cardinal trống đá vào bóng mình mà tưởng là gặp địch thủ. Được biết Cardinal trống rất hung hãn vào thời kỳ kết đôi bắt đầu vào tháng 3 đến hết mùa Hè, vì nó không muốn bất kỳ loại chim nào đến khu vực của chúng. Tôi được cái duyên với loài chim này, như trước khi dọn sang đây cũng có cặp chim Cardinal thường đến viếng: Ơ kìa! Đôi chim Cardinal từ đâu 32 Đa Hiệu 111

34 Những cánh thiên thần nhiệm mầu Come down from heaven Tung tăng trong khu vườn sau Trong buổi sớm trời không chút nắng Ta chợt thấy lòng rộn ràng như trẻ thơ như đôi chim trời Con Trống màu đỏ tươi, uy nghi, như chàng trai Võ Bị Con Mái mỏ vàng tươi, e ấp, như cô em gái tuổi xuân thì – Này là cọng rơm, Cho em xây tổ ấm Tiếng chim hót thật vui Nghe lòng như mở hội Dù không gian sầm tối Tôi thấy ánh mặt trời và cả không gian lóng lánh sao đêm Cuộc đời giờ lại đẹp thêm Ta quên hết mọi ưu phiền Quên đi nỗi buồn ray rứt Ngoài vườn sau đôi chim trời, vẫn tung tăng bay lượn Trong này hai con tim, ngập ngừng đếm thời gian trôi Ta vẫn còn chờ mỗi sáng mai..! (Trích Đôi Chim Cardinal vườn sau, 2008) Cánh Cửa Không Bao Giờ Đóng 33

35 Buoåi Chieàu Vaø Em Laâm Vieân. Vắng em nỗi nhớ cuối chiều Nắng buông xế bóng nghe nhiều bâng khuâng Mây xa ngọn thấp bay ngang Trắng mùa thương cũ còn mang điệu chào Bước chân đời bước hôm nào Muôn ngàn nẻo khó đã vào thiên thu Vắng em giờ biết tương tư Hồn hoang lũng suối chiều như bạt ngàn Một mình giữa những vỡ tan Đồi thông kia dấu tro tàn lại rơi Nhìn theo đời thấy mù khơi Còn trong kỷ niệm xưa người lặng thinh Xa nhau chiều rũ xuống mình Vắng em chim bỏ nhân sinh về rừng Vọng buồn dâu bể rưng rưng Ngày chưa qua hết tận cùng ngày qua Vắng em nỗi nhớ thật thà Tháng năm sương muộn cỗi già tình đây. Lê Anh, K27 34 Đa Hiệu 111

36 CAÙC VÒ CHÆ HUY TRÖÔÛNG CUÛA TVBQGVN TRONG THÔØI GIAN K19 THUÏ HUAÁN. Đặng Đình Liêu, K19 Khi khoá vừa gia nhập TVBQGVN, Trung Tá Trần Ngọc Huyến đã là Chỉ Huy Trưởng của trường VB. Trong 8 tuần lễ Tân Khoá Sinh đầu tiên, chúng tôi ít có dịp thấy ông, nếu có thì chỉ thấy bóng dáng của ông từ xa. Khi Khoá 19 là SVSQ, chúng tôi mới hay được gặp ông vì ông hay lên lớp, giảng dạy cho chúng tôi trong giờ học Đạo Đức, vào mùa văn hoá. Ông có tài ăn nói nên một số lớn vẫn say sưa nghe giảng, mặc dù môn học rất khô khan. Tuy nhiên, cũng có một số ít muốn tránh giờ học này. Một hôm, Trung tá Huyến gọi tên một SVSQ trong đại đội của tôi trả lời câu hỏi. Khi xưng danh, ông thấy tên của anh này không giống tên đã được ghi trong sơ đồ lớp học nên ông giận, đã ra lệnh phạt cả ĐĐ chạy 10 vòng sân Vũ Đình Trường. Giữa trưa, trời nóng nên có nhiều người bị sỉu vì vừa đói và mệt. Chúng tôi lại bị phạt thêm một lần khác vào mùa Quân Sự. Vì đi học từ bãi tập về trễ nên chúng tôi nghĩ rằng các SQ cán Các Chỉ Huy Trưởng 35

37 bộ đã nghỉ để ăn trưa, vì thế hàng lối đoàn quân không còn giữ nghiêm chỉnh khi di chuyển. Nào ngờ, Trung Tá Huyến tình cờ trông thấy nên đã dừng xe và ra lệnh một SQ cán bộ phạt chúng tôi ôm súng đạn, ba lô, mũ sắt chạy lên, rồi xuống thông thủy ngay cạnh Vũ Đình Trường 10 lần. Giống như lần trước, trưa hôm đó trời gay gắt khác thường khiến nhiều người trong chúng tôi đã bị ngất sỉu. Ngày 26 tháng 10 năm 1963 là ngày Quốc khánh, trong khi ngày 23 tháng 11 năm 1963 là ngày mãn Khóa 18 nên họ đã không thể nào về Sài Gòn diễn hành. Vì thế, khoá 19 đã phải tập dượt liên tục để thay thế. Chúng tôi được Đại Úy Huỳnh Bửu Sơn huấn luyện đặc biệt để biểu diễn cơ bản thao diễn. Những động tác này bao gồm: tung súng, đổi súng, quay súng, v…v… cộng thêm phần đi theo nhịp trống để biến đội hình diễn hành ra các hình tam giác, vòng tròn, hình thoi. Cuộc biểu diễn chấm dứt khi các SVSQ quỳ xuống với vị thế súng chào, hoàn thành hàng chữ VBQG. Màn tung súng được coi là nguy hiểm nhất vì báng súng được đánh verni (sơn gỗ) thật bóng và các SVSQ phải đeo găng trắng, nên súng rất trơn dễ tuột khỏi tay cầm, va vào người kế cận. Để hoàn thành việc huấn luyện, Đại úy Huỳnh Bửu Sơn đã tận dụng thời gian trước giờ đi ăn. Liên Đoàn SVSQ phải tâp hợp thành đội hình diễn hành đi trên sân cỏ, trước doanh trại các đại đội, tới Phạn Điếm. Mỗi SVSQ phải có một sợi dây thung nhỏ. Một đầu được buộc vào con đỉa bên tay trái của quần trận hay kaki. Đầu dây còn lại được buộc vào một thanh tre nhỏ giống như đũa dài khoảng 10cm để tay cầm. Khi đi diễn hành, các SVSQ sẽ đánh tay trái lên ngang hông người đi trước, làm sao để hàng các tay như nằm trên một mặt phẳng và điều chỉnh chiều dài sợi dây cho thích hợp. (Tay phải đang giữ súng trên vai.) Ngoài ra, trong thời gian học văn hóa hay quân sự các SVSQ cũng phải đều bước khi đến lớp học cũng như khi trở về doanh trại của mình. Những lúc tập về diễn hành ở Sài Gòn cũng như biểu diễn 36 Đa Hiệu 111

38 cơ bản thao diễn luôn luôn có ban Quân Nhạc của trường. Vì tập nhiều nên ban Quân Nhạc cũng đôi khi mệt mỏi, đôi khi đánh quá chậm so với nhịp quân hành làm SVSQ K19 đi loạc choạc. Thật không may mắn, Trung Tá CHT đi ngang qua chỗ tập. Hậu quả là Trung Tá Huyến đã phạt cả khoá 19 và ban Quân Nhạc. Đó là lần bị phạt nặng nhất mà K19 nhớ suốt đời. Vào ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 năm 1963, khi khối TVBQG đang đi diễn hành tới gần khán đài, đột nhiên 4 đến 6 trực thăng bay thấp và sát phía trên làm đoàn diễn hành không nghe được tiếng trống của ban quân nhạc. Thiếu tá Lê Trí Tín, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ, đã dùng khẩu lệnh để đoàn diễn hành đi theo nhịp đếm. Kết quả Trường Thiếu Sinh Quân và TVBQG đồng hạng nhất… SVSQ Đặng Đình Liêu, Cán Bộ SVSQ Đại Đội Ngày 01 tháng 11 năm 1963, quân đội dưới quyền của Hội Đồng Tướng Lãnh đã đảo chính Trưởng Đại Đội C, Tổng thống Ngô Đình Diệm. Đại tá Huyến, CHT/ TVBQG, được bổ nhiệm làm Quân Trấn Trưởng Thị Xã Đà Lạt. Ông đã cho lệnh điều động các ĐĐ/ SVSQ giữ an ninh những nơi trọng yếu. Vì các SVSQ/ K18 đã rời trường theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ/ Dục Mỹ, nên mọi việc đều do khoá 19 đảm nhiệm. Trong thời gian này, Trung úy Lý Văn Mẹo là SQ Cán Bộ ĐĐ/C, còn tôi là SVSQ Cán Bộ ĐĐT được điều động giữ an ninh thác Prenn. Ngày 23/11/1963, K18 ra trường. Trong buổi lễ mãn khóa, K19 đã biểu diễn cơ bản thao diễn thành công mỹ mãn. Quan khách đã vỗ tay cổ võ nồng nhiệt màn biểu diễn này. K19 là khóa đầu tiên và duy nhất đã trình diễn cơ bản thao diễn với số lượng SVSQ tham dự đông đảo. Các Chỉ Huy Trưởng 37

39 Đại tá Trần Ngọc Huyến rời TVBQG ngày 05 tháng 01 năm 1964 về làm Thứ Trưởng Bộ Thông Tin. Cùng ngày Trung Tướng Trần Tử Oai, đang trông coi chương trình diệt trừ sốt rét, được bổ nhiệm về làm CHT/ TVBQGVN. Đại Tá Trần Ngọc Huyến từng đảm trách chức vụ Chỉ Huy Phó kiêm Văn Hóa Vụ Trưởng vào tháng 10 năm Từ năm 1961 đến 05/ 01/ 1963, Đại Tá Huyến chính thức là CHT/ TVBQG. Trong những giờ học đạo đức, Đ/T Huyến cố gắng truyền đạt hướng dẫn chúng tôi những kiến thức về lãnh đạo, chỉ huy, những kinh nghiệm thực tế về tình trạng quân đội VNCH lúc bấy giờ. Ông đã luôn hướng dẫn chúng tôi về lý tưởng đối với quốc gia dân tộc, khuyến khích nhiệt tâm phục vụ đất nước trong tinh thần trách nhiệm và dấn thân. Với nhãn quan của một sĩ quan cao cấp có trình độ, theo tôi, ông đã thành công khi thực hiện ý định đào tạo một thế hệ sĩ quan mới, thích hợp với đời sống văn minh trên toàn thế giới, đang dần xâm chiếm vào đời sống của dân chúng VN lúc đó. Tìm cách giúp SVSQ làm quen với cách ăn uống (dùng muỗng, niã) và giao tế, cũng như cung cách xử thế theo kiểu Tây Phương (cách đi đứng, giao tế với phụ nữ, với người lớn tuổi hơn, với những người có vị trí xã hội cao hơn, với người ngoại quốc), mà hồi đó còn xa lạ với đời sống bình thường của dân chúng VN, ông đã có những hướng dẫn đặc biệt. Khi được xuất trại vào ngày thứ Bảy hoặc Chủ Nhật không về ăn cơm ở Phạn Điếm, các SVSQ phải thông báo cho Ban Hoả Thực để họ tiết kiệm ngân quỹ đủ cho một bữa cơm Tây hàng tháng để các SVSQ làm quen. Trường cũng cử một sĩ quan thuộc khối Văn Hoá Vụ, đã có dịp du học từ Pháp về, hướng dẫn SVSQ cách dùng muỗng nĩa và cách ứng xử trong giao tế. Ngoài ra, SVSQ, có thân nhân thăm viếng, có thể ghi tên mượn ngựa cưỡi dạo quanh Hồ Xuân Hương, Cam Ly, Đã có vài SVSQ bị ngã gẫy tay vì gặp ngựa chứng 38 Đa Hiệu 111

40 Những hướng dẫn này chỉ là vụn vặt, nhưng nó cũng đã giúp sĩ quan tốt nghiệp noble (lịch lãm) hơn, dễ dàng hơn giao thiệp với xã hội bên ngoài đang thay đổi thích ứng với văn minh phương Tây, thành công hơn, tự tin hơn khi giao tiếp với quân đội Đồng Minh, hoặc du học nước ngoài. Có thể nói, quan niệm huấn luyện cuả ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến các khoá mà ông đã trực tiếp huấn luyện, mà còn đến mãi đến các khoá sau này. Những việc ông làm đã được các khoá đàn em truyền tụng cho nhau. (Khi có dịp đặt câu hỏi với NT Nguyễn Minh Chánh, K16, là tại sao Đại Tá Huyến đã có những ảnh hưởng sâu sắc đối với các SVSQ và sĩ quan tốt nghiệp, trong thời gian ông là Chỉ Huy Trưởng? NT Chánh đã tóm tắt như sau: Đại Tá Huyến đã luôn hướng dẫn SVSQ: – Hiểu rõ nghệ thuật chỉ huy (luôn sáng tạo, không rập khuôn). – Tác động tâm lý đến SVSQ, nâng cao tinh thần trách nhiệm. – Xác định ranh giới rõ rệt giữa Quốc Gia và CS. – Tạo cho sinh viên tự tin có thể làm được mọi việc nếu có quyết tâm. Kể từ đây, khi nói đến SVSQ/ VB là phải nói đến Đa Hiệu.) Ngay từ những ngày đầu, Trung Tướng Trần Tử Oai, CHT, đã thay đổi tổ chức LĐ/ SVSQ bằng cách tách K19 và K20 ra thành những ĐĐ chỉ hoàn toàn là K19 và K20. Khoá 20 ở ĐĐ/A và ĐĐ/C nhập thành ĐĐ/A do Hệ thống tự chỉ huy của K19 đảm trách. Tôi được chuyển sang chỉ huy ĐĐA/ K20. Anh Nguyễn Văn Trọng chỉ huy ĐĐ/A và ĐĐ/C / K19. Sáu ĐĐ khác như B, D, E, G, F, H cũng tổ chức như vậy. Từ đây K20 ít chịu sự kiểm soát của K19 so với trước kia. Sinh hoạt hàng ngày của LĐ/ SVSQ cũng có nhiều thay đổi. Trung Tướng CHT ra lệnh SVSQ viết nhật ký trong 1 Các Chỉ Huy Trưởng 39

41 cuốn sổ cỡ 20×30 cm, dầy khoảng 100 trang, ngoài bìa ghi rõ tên tuổi, và đại đội của mỗi SVSQ. Hàng ngày sau giờ tự học khoảng 15:00 giờ, LĐ/ SVSQ tập họp tại sân cỏ trước doanh trại, với quần short zazou màu sắc giống như kiểu của dân Hawaii nước Mỹ, áo T shirt, tập dượt Boxing, Judo, hay Taekwondo. Ngoài ra Trung Tướng Oai cũng lần lượt mời các SVSQ trong Hệ Thống Tự Chỉ Huy ra dùng cơm tại tư dinh của ông, ở ngoài thành phố Đà Lạt. Lối sinh hoạt này đã thay đổi hoàn toàn truyền thống lâu đời của TVBQG. Ngày 30/04 /1964 Trung Tướng Oai được bổ nhiệm làm Tổng Trưởng Thông Tin và Đại Tá Trần Văn Trung được bổ nhiệm làm CHT/ TVBQG thay thế Trung Tướng Trần Tử Oai. Đại Tá Trung đã cho tổ chức Liên Đoàn SVSQ và Hệ Thống Tự Chỉ Huy lại như cũ. Trước ngày mãn khóa 3 tháng, khoá 19 đề đạt Đại Tá Trần Ngọc Huyến, (Cấp bậc đại tá đeo trên cổ áo lúc này là 3 mai bạc..) nguyện vọng được mặc complet xuất trại vào ngày cuối tuần. Phu nhân của Đại tá CHT đã có nhận xét: – Tôi thấy SVSQ trong quân phục dạo phố đẹp hơn. Tuy nhiên K19 cũng được phép mặc thường phục khi xuất trại. Cũng trong thời gian này, đội bóng tròn của TVBQG mà các cầu thủ là SVSQ/ K19 đã tham dự giải bóng tròn của Tỉnh Tuyên Đức. Trong trận chung kết, đội bóng TVBQG đã thắng đội Nha Địa Dư, là đội đã từng vô địch mấy năm liền. Đại tá CHT và Ông Giám Đốc Nha Địa Dư cùng ngồi trên khán đài theo dõi trận đấu. Thủ môn Đặng Kim Thu đã xuất sắc chống 40 Đa Hiệu 111

42 giữ khung thành. Đội bóng TVBQG đã thắng đội Nha Địa Dư với tỷ số 3-1. Đại Tá CHT đã cho phép SVSQ Đặng Kim Thu, ĐĐ/ C lên xe của ông về trước đội bóng. Ngày 16/08/1964, Đại Tá CHT bàn giao cho Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Kiểm từ Trường Hạ Sĩ Quan Nha trang về chỉ huy TVBQG. Đại Tá Trần Văn Trung được bổ nhiệm làm Tham Mưu Phó Nhân Viên kiêm Trưởng Phòng I BTTM. Năm 1971 được thăng Trung Tướng nhiệm chức với chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Kiểm là người ít nói nhất nếu so với các vị CHT tiền nhiệm. K19 theo học Khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ/ Dục Mỹ từ giữa tháng 10/1964 đến trung tuần tháng11/1964. Đã có 2 biến cố quan trọng xảy ra trong thời gian thụ huấn này. *Khi chuẩn bị đi học RNSL, các SVSQ không nghĩ thời tiết ở Dục Mỹ lạnh như Đà Lạt. Vì thế đa số không mang theo quần áo chống lạnh. Chẳng may, lúc khoá 19 đang được huấn luyện ở Căn Cứ Sình, mưa bão đã kéo dài đến 20 ngày, mang theo thời tiết lạnh hơn bình thường và vô cùng ẩm ướt. Bộ quần áo trận chưa kịp khô thì lại hứng chịu cơn mưa khác. Các SVSQ/K19 đã phải mắc võng trên cây cao để tránh nước lụt phía dưới. Để tránh cho các SVSQ không bị cảm lạnh, các vị SQ trách nhiệm đã có sáng kiến mua bao nylon lớn (giống như bao nylon chúng ta đang bọc các bộ complet bây giờ) để các SV trùm vào người, thay áo ấm. *Một tai họa thảm khốc xảy ra trong phần thực tập Đột kích ban đêm gây tử thương 6 SVSQ gồm: Nguyễn Thế Long Trọng, Bùi Quang Vực, Nguyễn Khắc Vũ, Phan Thừa, Bùi Thình Túc, và Lê Quang Trị. Một số bị thương gồm: Trần Văn Thuật, Nguyễn Thanh Tòng, Phạm Đình Thừa, Lê Viết Tùng, Nguyễn Văn Triệu, Các Chỉ Huy Trưởng 41

44 Noãi loøng cuûa Meï Giang Văn Nhân, K22 Bà Sáu trằn trọc không ngủ được, bà bước đến trước bàn thờ tổ tiên thắp nén nhang miệng lâm râm khấn vái. Bà thở dài khi nhìn tấm hình thằng con trai thứ Tư mặc kaki chụp để làm thẻ căn cước quân nhân lúc sắp mãn khóa. (Hình cỡ 4×6 mà mấy đứa em lồng khung kính để lên bàn thờ, vài tuần sau khi đơn vị của nó mất tin tức ở Thuận An vào cuối tháng 3 năm 1975.) Bà, lấy chổi lông gà quét nhẹ bụi trên các khung ảnh, hồi tưởng thuở còn con gái, sinh trưởng ở làng Bình Đức, xã Điều Hòa tỉnh Mỹ Tho, đường đến bến bắc Rạch Miễu, cách cũng không bao xa. Một hôm có người đến nhà mai mối, sau lễ cưới bà phải theo chồng ở Sàigòn. Lần lượt những đứa con trai ra đời trong hạnh phúc của vợ chồng bà và niềm vui của gia đình chồng. Nhờ ơn trên mấy đứa con khôn lớn khỏe mạnh, vì bên gia đình bà cũng như gia đình bên chồng, hai bà mẹ cùng sanh mười mấy người con nhưng số tử thì nhiều, số nuôi được thì không bao nhiêu. Bởi thế nhìn các con trưởng thành bà thấy đó là ân huệ của Thượng Đế. Bà thường nghe ba mình (đạo Cao Đài) nói về tội ác của Cộng Sản (đội lốt Việt Minh), thêm vào đó là lời của bác Tư làm việc ở Charner người Bến Tre, rồi bác Năm Y Tá sinh quán Tây Ninh. Năm 1954 với làn sóng người Bắc di cư vào Nam, bà nghe nhiều chuyện kể về sự tàn ác của cộng sản tại miền Bắc. Các câu chuyện của vợ chồng ông Diễm ở Thái Nỗi Lòng cuả Mẹ 43

45 Bình, bác Hai người Hà Nội giúp bà hiểu rõ trách nhiệm bậc làm cha mẹ. Vì thế, vợ chồng bà hãnh diện tiễn đưa từng người con lên đường bảo vệ miền Nam tự do. Bà biết rõ tình hình những ngày đầu tháng 4 năm 1975, khi đài phát thanh cũng như báo chí loan tin VNCH rút bỏ Huế, rồi kế tiếp ở Đà Nẵng, toàn bộ Sư Đoàn TQLC mà thằng Tư con bà phục vụ chỉ hơn một nửa được tàu chở về Vũng Tàu, số còn lại thất tán, mất liên lạc. Bà bồn chồn, ăn mất ngon, giấc ngủ chập chờn suy nghĩ mông lung. Thỉnh thoảng con trai thứ Ba phục vụ đơn vị Không Quân ở Biên Hòa về nhà cho bà biết không có thêm tin gì nữa của các đơn vị TQLC tại Thuận An. Lần nào bà đến hậu cứ Tiểu Đoàn 5 TQLC, đơn vị sau cùng của thằng Tư trong căn cứ Sóng Thần mấy lần để dò hỏi tin tức, lần nào bà cũng gặp rất đông thân nhân của những người lính đang nôn nóng chờ tin tức, cùng tâm trạng với bà, sau khi nghe phát thanh trên radio, đọc bài viết trên báo chí về cuộc triệt thoái của Lữ Đoàn 147 TQLC tại Huế, mà chỉ có một số ít thuộc Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn cùng Thương Binh vào được Đà Nẵng. Hầu hết 4 tiểu đoàn (Tiểu Đoàn 3, 4, 5, và 7) còn lại vẫn bặt âm vô tín. Vị sĩ quan chỉ huy hậu cứ buồn bã trả lời với mọi người là tới giờ phút này ông cũng chưa xác định rõ tình trạng của đơn vị, chỉ biết ghi nhận và báo cáo là mất tích. Ông hứa cố gắng giúp thân nhân xin lãnh tiền tử tuất. Lần cuối cùng bà gặp ông thân của Trung Sĩ Danh Bu Di, người lính rất thân cận của thằng Tư lúc ở Tiểu Đoàn 3. Ông Danh Kia cũng lo lắng về số phận con của ông, tuy nhiên ông cho bà biết tất cả sa cơ vào tay giặc, một số còn sống có nhắn tin trên đài phát thanh MTGPMN vào buổi tối. Bà lắng nghe phần nhắn tin trên đài phát thanh của địch, 44 Đa Hiệu 111

46 tiếng nói các cấp chỉ huy và bạn trang lứa của con bà, đặc biệt bà chú ý đến 2 đơn vị là Tiểu Đoàn 3 và Tiểu Đoàn 5 mà thằng Tư phục vụ, nhưng tuyệt nhiên không nghe tên của nó. Cả 2 tuần lễ trôi qua không còn gì để cho bà hy vọng nữa. Suốt gần 8 năm trường, từ ngày nó chọn đơn vị TQLC và lên đường hành quân vào cuối năm 1967 thì bà bắt đầu âu lo cho nó, vì phần lớn các tin chiến sự luôn luôn đề cập tới các đơn vị như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, và Thủy Quân Lục Chiến. Tết Mậu Thân 1968 Việt Cộng tấn công một số thành phố, nơi đó có các con của bà đồn trú. Bà lo lắng đến nỗi người hâm hấp nóng, tâm hồn bất an. Sáng mùng 7, một người bạn, cùng lớp ở Pétrus Ký tên Huỳnh Thiện Tấn*, đến Một đơn vị TQLC đang chuẩn bị Trực nhà cho bà biết Thăng Vận. TĐ3/TQLC của thằng Tư đang tảo thanh địch quân ở quanh khu vực bệnh Viện Nhi Đồng. Ngày hôm sau bà đem bánh mứt, đến thăm con lúc nó bố trí quân ở Ngã Sáu Chợ Lớn. Mười ngày sau Tiểu Đoàn 3 chiến thắng lớn ở Cầu Bình Lợi, Cô Hai Nghĩa ghé nhà cho bà biết thằng Tư đến thăm cô và nhờ cô nhắn về gia đình. Thời gian đó bà lại được tin thằng Hai ở Giang Đoàn 32 Xung Phong tham dự chiến trường vùng kinh rạch đồng bằng sông Cửu Long, thằng Ba ở Phi Đoàn 215 yểm trợ và bảo vệ trên vùng cao nguyên. May mắn, tất cả con của bà được an lành. Năm 1962 để phụ chồng vừa nghỉ hưu, bà sang sạp bán phở Bắc trong chợ Phú Nhuận. Mấy tháng sau có người muốn Nỗi Lòng cuả Mẹ 45

47 hoán đổi nên bà ưng thuận về chợ Tân Định, bên cạnh trạm xe ô tô buýt Sài Gòn Gò Vấp. Tại đây bà chuyên bán Bún Suông, Lặt Xá, Gỏi Già, và Cháo Bồi. Hình ảnh, về tiệm bán bánh kẹo sang trọng đối diện qua đường Trần Văn Thạch, luôn ám ảnh tâm trí của bà. Bà chủ tiệm đó dáng người quý phái, gương mặt phúc hậu, có hai cậu con cao ráo trông rất bảnh trai. Cả hai người con vào quân đội, cùng tốt nghiệp trường Sĩ Quan Đà Lạt. Thỉnh thoảng bà thấy các cậu ra tiệm với mẹ mỗi khi về phép (năm 1964). Hai cậu đội mũ beret Nâu hay Đỏ gì đó. Khi ấy bà không biết, sau này thằng Tư đội mũ Xanh, được nó giải thích bà mới phân biệt rõ đơn vị. Bẵng đi một thời gian dài, bà nghe nói hai cậu trai đó lần lượt đền nợ nước. Nhà của bà Sáu ở tận cùng trong xóm, từ trong nhà có thể nhìn rõ người lối xóm qua lại khúc quanh nơi đầu hẻm. Hàng ngày vào lúc mờ sáng, bà gánh hai nồi nước lèo nóng ra chợ, bận rộn phục vụ bạn hàng tới giữa trưa, sau đó thu dọn gióng gánh, mua thực phẩm hàng hóa rồi trở về nhà. Buổi chiều, bà và chồng chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho buổi chợ sáng ngày hôm sau. Trong lúc làm việc, bà thỉnh thoảng đưa mắt nhìn đầu hẻm. Cứ mỗi lần thấy bóng dáng người lính là tim bà co thắt lại, chân tay bủn rủn, nên bà phải tựa người vào tường và từ từ ngồi bệt xuống. Mãi đến khi bà nghe tiếng reo đón ba về của cháu Cu Kiệt, con của Kiếm lính Không Quân giữ an ninh phi trường Tân Sơn Nhất, hay tiếng nói rộn ràng của thằng Nở, lính Biệt Động Quân vừa về phép, lúc đó bà mới bình tĩnh trở lại. Chiến trường càng ngày càng khốc liệt, thì sự âu lo càng đeo đuổi, bám chặt vào bà. Khi những trận chiến ở Kampuchea năm 1970, ngã 3 biên giới Việt Miên Lào ở vùng cao nguyên, và ở Hạ Lào năm 1971 xảy ra, bà lo sợ van vái vong linh tổ tiên phù trì, giúp đỡ cho các con của bà tai qua nạn khỏi. Thằng Năm tiếp tục nối bước lên đường nhập học khóa 1/72 Thủ Đức, trong khi thằng Sáu được thâu nhận vào khóa 72A không phi hành. Tháng Ba năm 1972, khi thằng Tư có 46 Đa Hiệu 111

48 mặt ở Đông Hà rồi Quảng Trị, một lần nó bị trúng đạn phải điều trị tại bệnh viện gần hai tháng. Thời gian này bà được dịp chăm sóc nó, nấu thức ăn ngon mà nó ưa thích, cho tới khi nó tiếp tục trở ra chiến trường Quảng Trị. Thằng Ba, ở Phi Đoàn 231 Biên Hòa, yểm trợ đổ quân bảo vệ Bình Long, nhiều hôm trở về với máy bay mang nhiều lỗ đạn. Cáo Phó, Phân Ưu trên các trang nhật báo làm bà lo sợ không dám đọc. Tuy là sống ở hậu phương, ngay giữa Thủ Đô Sài Gòn, nhưng tâm hồn bà như theo chân các con ở ngoài mặt trận. Khi bà nghe hoặc đọc trên nhật báo về một chiếc máy TQLC trên bãi biển Đà Nẵng, tháng 3/1975. bay trúng hỏa tiễn gãy cánh, bà cảm thấy buồn đau. Mỗi lần dõi mắt nhìn theo xe Hồng Thập Tự tản thương hụ còi chạy vội vã về hướng Tổng Y Viện Cộng Hòa, bà xót xa thẫn thờ thầm nghĩ đến con mình. Cứ mỗi lần có người thương binh đi ngang qua chợ là bà lập tức mời họ và đãi họ tô bún thật đặc biệt. Bà tâm sự nhiều với họ và biểu lộ lòng thương dành cho họ như cho các con của bà vậy. Bà thầm nghĩ chính những người lính này đã san sẻ vui buồn, nguy hiểm với con bà nơi chiến trường. Trước kia khi các con còn ở gia đình, bà lo cho chúng nó từng chút, giờ đây nơi chiến trường, những người lính, bạn đồng đội sẽ thay thế vị trí của bà. Nỗi Lòng cuả Mẹ 47

49 Bây giờ thằng Tư đã thực sự ra đi, không biết thân xác nằm ở chốn nào, trong rừng hay trên bãi biển? Bà không dám hình dung cảnh tượng đó, duy có điều bà biết chắc thằng Tư không đơn độc, luôn luôn bên cạnh nó có bạn bè, chiến hữu cùng sống chết với nhau trên khắp chiến trường, từ vùng đất bồi tận mũi Cà Mau đến sông Bến Hải. Trong niềm đau xót đó, bà chợt cảm thấy chớm lên chút hãnh diện vì con của bà đã đền nợ nước, làm xong nhiệm vụ người trai thời chiến. Sau ngày mất miền Nam tự do, thằng Hai con trai lớn của bà trình diện và khăn gói đi tù cải tạo, bị nhốt trên Trảng Lớn. Thằng Ba trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn, nó cho bà biết sẽ bay xuống Cần Thơ, hiện tại không có tin tức gì về nó. Thằng Năm vẫn được trưng dụng tiếp tục dạy học trò ở trường Trung Học Kỹ Thuật Nha Trang. Thằng Sáu trình diện ở Sài Gòn, thằng Bảy từ Đồng Đế chạy về, cả hai phải chịu Cộng Sản nhồi sọ một thời gian ngắn tại địa phương. Bà bị lên án gia đình Ngụy, trong khi sạp hàng của bà ở chợ bị tịch thu. Vì thế, bà cố gắng xoay trở, cùng các con mua đi, bán lại kiếm từng đồng để tồn tại. Vài tháng sau, bà nhận tin thằng Ba đoàn tụ được với vợ con trong trại tỵ nạn. Niềm vui chưa tan biến thì đầu tháng 10 một người xa lạ từ miền Trung tìm đến nhà. Cô gái, nói giọng Huế thật dễ thương, với chút ngỡ ngàng trên gương mặt, tươi cười cho bà biết thằng Tư còn sống, đang ở trong trại tù Cồn Thiên ngoài Quảng Trị. Cả gia đình bà reo vui trong làn nước mắt. Cô gái lắng nghe lời tâm sự, khi bà lấy khung ảnh thằng Tư xuống khỏi bàn thờ. Sau đó, cô hướng dẫn bà cách thức đi thăm con, và mời bà ghé nhà của cô ở Huế. Sau cuộc chiến các con của bà được sống sót bình an. Mặc dù VNCH đã mất, nhưng tinh thần của miền Nam tự do vẫn mãi tồn tại trong tâm hồn vợ chồng con cái của bà. Nhờ quà vợ chồng thằng Ba từ Mỹ gởi về, bà dành dụm, rồi cố công dò la, tìm nơi tổ chức, rồi chuẩn bị cho từng người con vượt biên. Thằng Tám ở Pulau Galang, Indonesia; thằng Sáu đến 48 Đa Hiệu 111

50 Songkhla, Thailand; thằng Tư vào Pulau Bidong, Malaysia; thằng Năm cập bến Terengganu, Malaysia. Ngày còn Miền Nam tự do, các con của bà thương yêu nhau, cùng hy sinh tuổi trẻ để chiến đấu chống cộng sản bảo vệ quê hương; ngày nay tuy nước mất, không còn Việt Nam Cộng Hòa, anh em sống nơi xứ người, bà mong sao các con đùm bọc trong tình thương gia đình, đừng giận hờn ghét bỏ nhau, vì thời gian dù có trôi qua nhưng hoàn cảnh nào chăng nữa, các con cũng vẫn còn là con của Mẹ. Đó là niềm ước muốn duy nhất của bà. Dù vật đổi, sao dời, nhưng tình Mẹ Việt Nam lúc nào cũng trọn vẹn dành hết cho các con, nét đẹp cao quý của một bà Mẹ Việt Nam. Trước khi bà nhắm mắt các con lần lượt về thăm Mẹ. Người mà bà lo âu nhiều nhất, bao lần bà vất vả, vượt đường xa, băng suối, xuyên rừng đến các trại tù, cuối cùng thằng Tư đem hai con nhỏ về thăm bà, may mắn vuốt mắt Mẹ, và ngậm ngùi đưa bà ra Nghĩa Trang. Hàng năm tới ngày giỗ Ba, rồi giỗ Mẹ, tuần tự các con luân phiên chia nhau tổ chức. Anh em tề tụ, con trai, con gái, các nàng dâu, trổ tài nội trợ, giờ đây có thêm cháu, thêm chắt nên tiếng nói cười càng rộn rã. Trong ánh đèn, hương nhang khói tỏa ra, lung linh di ảnh Ba Mẹ Việt Nam như đang nở nụ cười. *Huỳnh Thiện Tấn: học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho chuyển lên Sàigòn vào cùng lớp Đệ Tam B1 Pétrus Ký, bạn học cho đến Đệ Nhất B1. Tốt Nghiệp Quốc Gia Hành Chánh. Năm 1972 là Phó Quận Trưởng và đã hy sinh trong thị xã An Lộc. Nỗi Lòng cuả Mẹ 49

51 Giöõ Laïi Gì Sau Moät Chuyeán Ñi! Nhö Hoa AÁu Tím, K26/1 Shalom – chaverim, Shalom chaverim. Shalom, shalom; L hitra ot – L hitra ot. Shalom, shalom. Shalom, o my friends. Shalom, o my friends. Shalom, shalom; Till we meet again, till we meet again. Shalom, shalom. Au revoir mes amis. Au revoir mes amis, au revoir – au revoir. Nous nous revenons, nous nous revenons. Au revoir, au revoir. Farewell good friends. Farewell good friends, farewell, farewell. Till we meet again, till we meet again. Farewell, farewell. Rời tay giây chia ly. Bạn ơi vui lên đi, bạn hỡi! Vui đi. Gian khó ta không nề, ghi nhớ nhau muôn đời. Từ nay cách xa. Bài ca tạm biệt đã hát vang trước khách sạn Ibis gần phi trường Frankfurt. Cuộc du hành sau đại hội Châu Âu lần thứ 13 đã chấm dứt, hơn 120 cựu sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt và thân nhân chuẩn bị lên máy bay trở về nhà, với nỗi niềm nào còn vương lại trong tim sau hai tuần chia ngọt sẻ bùi, chia nóng lạnh mưa 50 Đa Hiệu 111

54 trên trang face book: videos/?ref=page_internal phút thứ Tôi hoàn toàn thông cảm và hiểu lý do tại sao em đưa ra lý do chính đáng: không cần định hướng mục tiêu quá to tát, hãy gầy dựng nhân lực bằng tình thân là điều chính yếu, để các em có thể đến cùng nhau và sau đó với sự hiểu biết và năng lực họ sẽ tự đặt ra điều cần làm để phù hợp với diễn biến chính trị trên toàn thế giới. Tôi đã về nhà sau khi dự đại hội Châu Âu lần thứ 13, sau khi chu du ngắm nghía các góc cạnh đẹp xấu của lịch sử. Kết quả của đại hội còn trong tôi là niềm tin vào thế hệ thứ hai. Những suy nghĩ ý kiến của các anh chị em khi tôi có dịp tiếp xúc là: Nối kết niềm tin giữa hai thế hệ, không bị áp đặt hay ép buộc, tự nguyện tìm tòi tiếp nối lý tưởng cha ông. Mai Ngọc Diệp – Mai Ngọc Sương – Mai Đức, hậu duệ của niên trưởng Mai Ngọc Sáng khóa 10, đã, đang, và vẫn gắp bó hết lòng trong tất cả mọi sinh hoạt của gia đình CSVSQ của TVBQG Đà Lạt. Lương Thanh Hồng Lĩnh, hậu duệ của niên trưởng Lương Thanh Lập K19, thời gian ít ỏi không nói chuyện được nhiều. Chỉ qua vài câu hỏi và trả lời tôi, đã biết tinh thần anh chị em dấn thân theo gương Cha đã truyền lại. Con của các anh chị Hoàng Tôn Long – K31, Nguyễn Hữu Xương – K26 và nhiều nữa tôi không biết rõ nên không dám ghi lại, đã để lại trong tôi lòng cảm mến không nguôi. Tôi biết TTNĐH đã làm những công tác không tên trong các đại hội như đưa đón tại phi trường, lau dọn bàn ăn phòng ngủ trong khu vực được thuê, phụ mẹ làm bánh nấu nướng cho các buổi hội thảo, khai mạc, bế mạc. Đưa các bác, các cô, các chú từ xa đến thăm các thắng cảnh chung quanh khu vực đại hội. Không ít TTNĐH mang theo con nhỏ. Thế hệ thứ ba này cũng vui vẻ lăng xăng theo cha mẹ ông bà và tìm bạn mới Giữ Lại Gì Sau Một Chuyến Đi! 53

55 dù chỉ có vỏn vẹn ba ngày. Tôi yêu những mầm sống mới có nguồn gốc Việt Nam đang vươn lên trên các miền đất nước tự do, các cháu có màu mắt xanh của cha, mái tóc dài đen nhánh của mẹ, tiếng chào ngọng ngịu pha trộn hai ngôn ngữ, nghe hát cùng hát dù không hiểu nghĩa vẫn đòi theo dự hội. Tôi hân hạnh được hát chung với các anh chị em bài Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Hành Khúc của niên trưởng Nguyễn Tiến Việt, K23. – Cô cũng biết hát bài này sao? Gia đình Võ Bị thế hệ thứ 2, 3 tham dự đại hội. – Ừ, cô là TTNĐH mà! Hồng Lĩnh, ngạc nhiên khi biết tác giả bài hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ là của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, ngạc nhiên hơn khi biết tôi hát được tất cả các bài hát các anh chị em đã tập chung với nhau mới và cũ. Nếu Hồng Lĩnh biết tôi đã sinh hoạt trong phong trào du ca thuở trước thì em đã không phải tròn mắt như thế. Đã lâu lắm rồi tôi không còn sinh hoạt gì trong các phong trào dành cho thanh thiếu niên, nhưng có dịp là dòng máu sôi nổi của tuổi thanh xuân sôi xục lại không sao kìm hãm được. 54 Đa Hiệu 111

56 Sau đại hội tôi có dịp tiếp xúc nhiều hơn với các TTNĐH, từ miền Đông Mỹ: hậu duệ của niên trưởng Nguyễn Văn Dục K17 Diễm Anh và Tiến Dũng, từ miền Tây Mỹ: cháu Nguyễn Hằng Michell, Đến với đại hội để gặp lại các bạn bên ấy! là câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao đi dự hội? Đặc biệt là hai cháu Bích Phượng và Tuấn Khoa, hậu duệ của anh chị Đặng Văn Khanh – Khóa 25. Khen hai cháu có lẽ không lời nào đủ để diễn tả tấm lòng riêng tôi mến phục, ngay cả các thành viên trong đoàn du ngoạn đều nhắc đến hai cháu với những mỹ từ quý yêu mong ước con mình được như thế. Các cháu nói tiếng Việt với các bác, các chú, các cô, hướng dẫn chi tiết, canh chừng từng chút để không bị bỏ rơi dù trên các tuyến đường xe buýt, xe lửa đông đảo. Thông cảm và hiểu biết nhu cầu của các bác, các cô, các chú, nhất là các cô thích chụp hình, Khi tôi muốn chụp thêm hình vẽ lạ trên bức tường Bá Linh đổ vỡ, Khoa nói: – Cô đưa máy cháu chụp hình cho còn 5 phút nữa không sao, muốn sang đến đây khó lắm! Khi viết bài này tôi vẫn nhớ giọng nói lơ lớ dễ thương của cháu. Bài hát Giã Từ Vũ Khí cháu hát hay vô cùng, dù cháu tập với chiếc điện thoại cầm tay. Bốn giờ sáng, Khoa đã lái xe đưa vài gia đình vào sân bay Frankfurt vì xe buýt của khách sạn chỉ bắt đầu lúc 5 giờ: – Các bác các cô các chú đừng lo, cháu không cần ngủ! Chúng tôi đi chuyến buýt thứ hai lúc 5.35 vào phi trường. Cháu Bích Phượng, ra tận xe chào từ giã các bác, các cô, các chú, vào trong xe và chỉ rời xe khi tài xế bắt đầu chuyển bánh. Trời mưa không nặng hạt nhưng trên mặt tôi vương bao nhiêu giọt yêu thương, tấm lòng của cháu dành cho bạn Võ Bị của ba mẹ trong veo như chiếc ly pha lê tinh khiết. Đi du lịch xa nhà, người đi chỉ biết ngắm những nơi mình đã được biết qua sách vở, nhất là những quốc gia đã tự phá bỏ chủ nghĩa giáo điều cộng sản để xây dựng lại đất nước tự do, Giữ Lại Gì Sau Một Chuyến Đi! 55

57 tôn trọng quyền làm người. Bức tường chia cắt Đông – Tây Bá Linh, những khu nhà bỏ trống cỏ mọc cao quá đầu người, bên cạnh những cần cẩu cao ngất trời và những tòa cao ốc mới xây, chúng tỏ một Đông Đức đang vươn mình sống dậy. Đâu đó, những tàn tích cũ còn để lại như tiếng thở dài của tôi buổi sáng sớm lang thang xuống phố, đặt tay lên bờ tường chia cắt Đông – Tây Bá Linh mà ước gì đất nước Việt Nam của tôi năm 1975 đạp lên chủ nghĩa cộng sản xóa vĩ tuyến 17, không giết người trong trại cải tạo, không đuổi người ra biển vùi thây. Tháng 8, tôi bước trên hè phố Ba Lan. Nhìn những đóa hoa, ngọn nến bên vệ đường tưởng niệm những nạn nhân xấu số thời Đệ Nhị Thế Chiến, cho dù ngày chính thức là 23 tháng 8, ai không khỏi ngậm ngùi và tự hỏi tại sao có thể như thế nhỉ? Đến Hungary, 60 đôi giày xếp dọc bờ sông, tấm bảng ghi rõ lý do tại sao có những đôi giày này: To the memory of victims shot into the Danube by the Arrow Cross militiamen in Erected 16 th April, 2005 Bao giờ nhỉ, Việt Nam tôi có những biểu tượng lưu lại việc làm thất nhân tâm của cộng sản: cải cách ruộng đất khiến 500 ngàn người bị giết cải tạo tư tưởng quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa khiến nửa triệu người bị cầm tù, vài trăm ngàn người mất thây, trong đó có Cha của tôi? Son Of Saul đoạt giải phim ngoại quốc hay nhất Oscar 2021 của nhà đạo diễn Hung Gia Lợi Laszlo Nemes, đưa những hình ảnh Đức Quốc Xã sống lại, lời bàn của Khải Đơn người xem phim tôi đọc được ý thế này: Chưa có cảnh tượng nào về các phim Phát xít Đức được mô tả kinh khủng đến vậy. Hoàn toàn không có máu me, cũng chẳng có gì bạo lực, thậm chí hầu hết cảnh có xác người trong lò thiêu đều được quay mờ nhạt và thoáng qua đến nỗi chẳng ai kịp thấy gì kinh tởm. Cái kinh tởm mà László Nemes đạo 56 Đa Hiệu 111

58 diễn bộ phim làm được, có lẽ là cho người xem có được cảm giác thực sự về cái kết nối của những hành vi bạo tàn này với sự tỉnh táo của con người. Nhiều lúc, giữa phim, nhận thức về lò thiêu phi lý đến mức tôi đã tự hỏi tại sao chừng ấy ngàn con người, cả kẻ mạnh lẫn kẻ yếu, phải khổ sở khốn cùng ở đây, cả kẻ khốn cùng lẫn người cầm súng tự đắc. Hành vi của họ đã vượt quá nhận thức thông thường của tôi về con người. Lò hơi ngạt là một biểu tượng không phải vì lợi ích, không vì thù địch. Nó không còn là sự sung sướng được trả đũa, mà chỉ giống một cái lò mổ thịt người. Vì một động cơ huyền bí nào đó, một cỗ máy bí mật đã lên cót, từng người như Saul, như đám sĩ quan phát xít, và như mấy chục ngàn người lê bước vào lò. Họ chậm rãi, như bị thôi miên và được thuyết phục bởi một ý chí siêu nhiên: bèn làm thịt nhau sau đó thiêu thành tro bụi. Đó có phải là cách mà nền văn minh của con người bị sụp đổ? Từng tế bào của loài người bị thôi miên để tiến tới huỷ diệt trong sự tự nguyện. Có kẻ kháng cự yếu ớt, kẻ im lặng chịu đựng, kẻ hăm hở thực hiện, kẻ nồng nhiệt nghĩ ra những kế hoạch hào nhoáng giết được nhiều đồng loại nhất. Có bao nhiêu lần nhân loại đạt tới sự đồng điệu đó để huỷ diệt lẫn nhau? (Trích nguồn: Thành quách lâu đài nguy nga, tượng đồng, tượng ngọc được trạm khắc khắp nơi trên các xứ Đông Âu không làm tôi say mê bằng những dấu tích ghi lại tính cách con người của từng thời đại. Khải hoàn môn, xa hoa phù phiếm phải xây dựng trên máu và nước mắt của dân chúng cùng đinh. Tôi chiêm ngưỡng nét đẹp, đồng thời thương cho bao sức con người đã bị ép buộc phải xây dựng nên chúng. Cuối cùng vua chúa nữ hoàng của các dinh thự cao sang cũng thành bụi tro bên trong hầm mộ tối. Những chiếc hòm kim loại đỏm đáng kia đươc gìn giữ hàng bao thế kỷ chẳng nói nên được ý nghĩa Giữ Lại Gì Sau Một Chuyến Đi! 57

60 trên màu da rám nắng mạnh khỏe. Nhìn thấyquốc gia chăm sóc, nâng đỡ tuổi trẻ, kính trọng người lớn tuổi, ta có thể biết quốc gia ấy văn minh tiến bộ mạnh mẽ trong tương lai. Tôi nhớ thuở nào Việt Nam Cộng Hòa đã đạt được điều ấy: Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau – Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao – Lúc khắp quốc dân tranh đấu hy sinh cho nền độc lập – Học sinh nề chi tuổi xanh chung sức phấn đấu – Ðem hết can tràng của người Việt Nam tiến lên! Học Sinh là mầm sống của ngày mai – Nung đúc tâm hồn để nối chí lớn – Theo các thanh niên sống vì giống nòi – Liều thân vì nước, vì dân mà thôi… Ngày nay đảng Cộng Sản VN đã phá bỏ công dân giáo dục, đã để mặc phần đông thanh niên giãy giụa trong hỏa mù tiền là trên hết, trong văn hóa nhược tiểu pha trộn Tàu – Hàn – Nhật. Một số ít người được cha mẹ hiểu biết giữ lề lối xưa dạy dỗ. Không biết họ có vực dậy và đủ nhân tố làm cách mạng xây dựng nền tự do, độc lập, dân chủ cho mảnh đất uốn cong hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương? Tôi đi, nhìn, ngắm, ước ao một ngày thanh niên Việt Nam của tôi có đời sống lành mạnh như thanh niên các nước hậu xã hội chủ nghĩa Châu Âu. Tôi thật sự biết ơn các anh chị trong gia đình Võ Bị khối Châu Âu đã tạo điều kiện cho chúng tôi được nhìn tận mắt những gì đã được học – đọc trong sách sử, ngắm những cảnh đẹp con người tạo ra tự thuở xa xưa, và được trầm mình trong nghĩa tình Cùi Võ Bị, không chỉ riêng Khóa 26, mà còn các chị K16, các niên trưởng K , các anh chị K Cám ơn quý niên trưởng đã ưu ái khuyến khích người viết, cám ơn các chị, các anh đã tìm gặp mặt để không cất câu: Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình! Chuyến đi dài và đông đảo không sao tránh được điều bất như ý, tất cả bất như ý tôi đã để lại phi trường Frankfurt. Bao Giữ Lại Gì Sau Một Chuyến Đi! 59

61 kỷ niệm đẹp của chuyến đi dài 4000km, cùng giọng nói, tiếng cười, câu hát trên xe, viên kẹo ngọt, ly nước thơm, các chị bảo bọc các em, ngay cả câu nói dễ thương: Lấy tiền của em xài nè. Khỏi cần trả! của Khóa 31, và cái bắt tay thân thiết chúc về bình an trong lúc trú mưa của niên trưởng Khóa 18, được tôi cất vào ngăn ký ức tình tự Võ Bị, mà chỉ gia đình Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt mới hiểu được khối tình này. Điểm son của chuyến đi hơn 120 người là ý thức kỷ luật và tình đồng đội cao, khiến những người tài xế Đức của ba chiếc xe buýt du lịch đã nói: Chưa có đoàn du lịch nào đúng giờ như đoàn này! Các anh chị thuộc Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu. 60 Đa Hiệu 111

63 Trong 2 năm , tình hình ở Lào được dư luận báo chí Mỹ nhắc đến nhiều hơn tình hình Việt Nam. Theo tác giả Christopher Robbins thì nội trong năm 1961, báo NewYork Times có 28 cột báo viết về Lào, trong khi đó chỉ có 8 cột viết về VN. Giống như VN, Lào là thuộc điạ của Pháp cho đến khi được trao trả độc lập theo Hiệp Định Genève vào năm Lúc bấy giờ, nước Lào có ba hoàng tử đang chi phối tình hình chính trị của quốc gia này. Đó là các ông hoàng Souphanouvong, Souvana Phouma, và Phoumi Nosavan. Mặc dù là anh em Pathet Lào, nhưng ba người này cùng cha khác mẹ, không có chung một ý thức hệ, cũng như đời sống xã hội không giống nhau. Souphanouvong có vợ người Việt và có xu hướng thân cộng. Souvana Phouma có vợ người Pháp, chống cộng, nhưng thích hô hào trung lập. Còn hoàng thái tử Phoumi Nosavan tuy tuyên bố muốn thấy Lào độc lập, nhưng trong thâm tâm muốn được thay thế cha lên làm vua. Như vậy, từ bên gia đình hoàng tộc Lào đã có sự phân hoá. Những phân hoá này là duyên cớ cho ngoại bang tranh dành ảnh hưởng ở Lào về sau này. Souphanouvong với khuynh hướng thiên cộng được sự 62 Đa Hiệu số 111

64 hỗ trợ của Cộng Sản Việt Nam (CSVN), vì thế chánh phủ CSVN công nhận Souphanouvong là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Vương Quốc Lào. Để đổi lại, Souphanouvong cho phép cố vấn quân sự CSVN hiện diện trên đất Lào. Liên hệ giữa Souphanouvong và Hà Nội đã gắn chặt từ đó. Ngay từ tháng 9 năm 1945, Việt Minh đã đẻ ra quân đội Pathet Lào kiểm soát một phần lãnh thổ để dễ bề thao túng. (Cũng giống như sau này Bắc Việt đẻ ra cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.) Nay CSVN có thêm đồng minh và chiến trường không còn bị giới hạn trong lãnh thổ VN. Đến giai đoạn này Lào có ba lực lượng tranh dành ảnh hưởng: phe Souphanouvong thân cộng sản, phe Souvana Phouma trung lập, và phe Phoumi Nosavan thân Mỹ. Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương đem một may mắn đến cho Pathet Lào, vì theo hiệp định này Pathet Lào được tạm thời tập trung về hai tỉnh miền Đông Bắc Lào là Phong Saly và Sầm Nứa, sát ngay biên giới Bắc Việt. Nhưng sau thời gian tạm thời đã hết hạn, quân Pahtet Lào đã chiếm luôn các cơ sở hành chánh và giáo dục nơi họ tạm trú, rồi nhập vào đời sống với dân điạ phương, xây dựng hạ tầng cơ sở, chờ cơ hội thuận lợi nổi dậy cướp chính quyền của Lào. Nhờ viện trợ và cố vấn của CSVN, lực lượng Pathet Lào mau chóng lớn mạnh về phương diện quân sự, khi so sánh với lực lượng quân sự của hai phe kia. Đầu thập niên 1960, áp lực của Pathet Lào và CSVN hầu như lấn áp lực lượng của Chính Phủ Hoàng Gia Lào, ở các tỉnh Sầm Nứa, Phong Sally, Muong Luong, Nam Tha,.. Từ cuối năm 1960 cho đến khi Hiệp Định Genève về Lào năm 1962, tình hình chính trị ở Lào thay đổi rệt với 2 phe thân cộng và chống cộng. Pathet Lào coi CSVN và Trung Cộng như hai đàn anh bảo trợ, Phoumi Nosavan thân Mỹ. Souvana Phouma trước đây trung lập, bây giờ lại nghiêng về phiá cộng sản. Ảnh Hưởng Vương Quốc Lào 63

66 tự do vùng ĐNA. Chính vì thế, giới quân sự Mỹ tìm mọi cách xâm nhập vào Lào dành chỗ đứng. Vì Hiệp Định Genève về Lào không cho phép có sự hiện diện của quân đội nước ngoài nên Mỹ phải đem quân lính vào Lào theo một cách khác. Họ tạo ra một cơ quan, gọi là Phòng Thẩm Định Kế Hoạch, PEO (Program Evaluation Office) ở toà Đại Sứ Mỹ tại Lào. Cơ quan này thuộc bộ Ngoại Giao Mỹ. Nghe tên có vẻ dân sự, nhưng thực chất tất cả các nhân viên Tổng Thống Hoa Kỳ Kennedy và Khrushchev của Nga đồng ý giải pháp trung lập ở Lào, đều là các quân nhân chuyên nghiệp. Họ mặc thường phục và được lệnh không có tác phong, hay thái độ quân sự khi đi ra đường. Sau đó, Phoumi lên tiếng tuyên bố: – Lào không nhất thiết phải tôn trọng những điều khoản trong Hiệp Định Genève 1954 về Lào. Nghĩa là Lào có quyền nhận cố vấn quân sự từ nước ngoài. Với sự đồng ý của Phoumi, Hoa Kỳ thành lập một phái bộ cố vấn quân sự ở Lào (Military Assistance Advisory Groups Laos), gọi tắt là MAAG-L. Kèm theo đoàn cố vấn là một toán Ảnh Hưởng Vương Quốc Lào 65

67 quân nhân thuộc Lực Lượng Đặc Biệt để huấn luyện quân đội Hoàng Gia Lào. Đến khi Hiệp Định Genève 1962 được ký kết công nhận Lào trung lập, Hoa Kỳ buộc phải giải tán phái bộ cố vấn và toán huấn luyện quân sự. Lúc đó, hai phe thân Mỹ và thân cộng liên tục tấn công nhau, cho đến khi các cường quốc quyết định can thiệp vào; đúng hơn là nhúng tay vào để chia chác quyền lợi chính trị của họ ở nước này. Họ thoả thuận mở lại Hội Nghị Genève. Trong lúc 3 phe của Lào đang bàn cãi ở Genenève -Thụy Sĩ thì ở Thượng Lào, CSVN và Pathet Lào, với sự hỗ trợ của Trung Cộng, tấn công căn cứ Nam Tha của quân đội Hoàng Gia. Vào khuya ngày 2 tháng 5 năm 1962, mười ngày sau cuộc tấn công, Nam Tha thất thủ. Việc thất bại này đã gây chấn động trong giới lãnh đạo Hoa Kỳ. Chỉ tám năm sau Hiệp Định Genève 1954, Lào bây giờ lại thành một gánh nặng cho Hoa Kỳ và các nước đồng minh. Hoa Kỳ to tiếng tuyên bố sẵn sàng dùng võ lực để bảo vệ Lào và ngăn chặn làn sóng đỏ đang tiến về ĐNA. Trong lúc cuộc thương thuyết đang diễn ra ở Genève, Tổng Thống Kennedy tuyên bố rằng nếu thương lượng không đem lại kết quả như ý muốn, Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng quân sự. Tuy nhiên, đường lối đối phó của Mỹ với tình hình của Lào trong vài tháng sau đó cho thấy kế hoạch ngoại giao và quân sự của Mỹ đã hoàn toàn trái ngược với những lời tuyên bố trước đó của Mỹ, vì vậy đã gây nghi ngờ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm về sách lược của Mỹ. Ông muốn tách dần ảnh hưởng của Mỹ từ lúc Hiệp Định Genève 1962 được ký kết. Ông Diệm luôn chống đối sự trung lập của Lào, vì sẽ bất lợi cho Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu chống Cộng Sản Bắc Việt (CSBV). Theo ông, chính phủ trung lập Lào sẽ làm ngơ, hoặc thiếu khả năng ngăn chặn CSBV chiếm cứ vùng lãnh thổ rừng rậm dọc biên giới Lào-Việt, rồi từ đó xâm 66 Đa Hiệu số 111

69 Kháng Chiến, tướng CS Võ Bẩm viết rằng, sau khi liên quân Pathet Lào và bộ đội CSBV chiếm được thị trấn Tchepone và phi trường Thà Khống hồi tháng , họ nhận được quân trang, quân dụng tiếp tế từ máy bay Nga, cất cánh từ Vinh và Đồng Hới. Cũng theo hồi ký trên, dụng cụ truyền tin, vật liệu xây dựng đài phát thanh đầu tiên cho cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam từ những chuyến bay tiếp tế này. Phiá Mỹ cũng chẳng kém gì. Từ khi Hiệp Định Genève 1962 về Lào có hiệu lực, Hoa Kỳ cũng đã xây dựng cơ sở để bố trí quân đội tác chiến, nhưng hoạt động bí mật và trá hình mà chính phủ Mỹ luôn luôn phủ nhận sự hiện diện của họ. Sự thật là Mỹ yểm trợ cho một lực lưọng hơn 30 ngàn người một cách bí mật, chưa kể những toán tình báo đặc biệt khác mà sự hiện diện của họ không có trên giấy tờ. Trước đó một năm, Tổng Thống Kennedy đã cho phép CIA và Bộ Quốc Phòng mướn Vang Pao để thành lập một quân đội không nằm dưới quyền kiểm soát của Vương Quốc Lào, mà nằm dưới quyền điều khiển của Phòng Thẩm Định Kế Hoạch PEO. Phòng này là một cơ quan trá hình, nằm dưới dạng một bộ phận thuộc Bộ Ngoại Giao, nhưng thực ra của Bộ Quốc Phòng. Dưới quyền điều khiển của PEO, những toán lực lượng đặc biệt huấn luyện lưu động cho những du kích H Mong, Mèo, Mường thuộc lực lượng của tướng Vang Pao, do ngân sách PEO đài thọ. Lực lượng của Vang Pao đã gây nhiều tổn thất nặng nề cho CSBV trong nhiều năm liền. Nhưng khi sách lược của Mỹ thay đổi thì quyết tâm của Tổng Thống Kennedy cũng phải thay đổi. Các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ không còn coi mặt trận Lào là mặt trận quyết định tình hình chiến sự của Đông Dương, nên lúc phải quyết định về quận sự, Tổng Thống Kennedy bỏ chiến trường Lào và chọn chiến trường Việt Nam, trong ý nghĩ dồn mọi nỗ lực vào VNCH như một phòng tuyến be bờ mới sau Lào. 68 Đa Hiệu số 111

71 giữa quân sự và ngoại giao, giữa lý tưởng và thực tế. Tổng Thống Diệm nói thêm: – Một nước Cambodge (sau này đổi tên là Kampuchia) trung lập, thiên tả đã gây khó khăn cho VNCH. Bây giờ thêm Lào trung lập thì chẳng khác nào người Mỹ muốn mở ngỏ cho CS lập thêm nhiều căn cứ sát biên giới chúng tôi, để dễ dàng tấn công chúng tôi. Đại Sứ Nolting trấn an Tổng Thống Diệm: – Thưa Tổng Thống, Ngài hãy an tâm. Khi chúng tôi chấp nhận cho Lào trung lập, chúng tôi cũng đã dự trù các kế hoạch hành động, để bảo vệ đất nước của ngài trong mọi hoàn cảnh. Ông nói thêm: – Mặc dù vẫn dựa theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nhưng quan hệ giữa các nước siêu cường vẫn là yếu tố then chốt cho sự ổn định của thế giới. Cho nên sau khi Lào trung lập và sau lần nói chuyện với Đại Sứ Nolting, Tổng Thống Diệm đã nghĩ tới một đường lối, chính sách riêng xa dần quỹ đạo của Mỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến cuộc chính biến ngày 1 tháng 11 năm 1963, dẫn đến cái chết bi thảm của hai anh em gia đình họ Ngô. Chính trị là thế đó! 70 Đa Hiệu số 111

72 Cho Em Hoûi??? Lê Kim Nga, K27/1 Cho em hỏi… Nếu thời gian quay lại Anh có còn chọn binh nghiệp nữa không? Có khát khao ấp ủ đến cháy lòng Miệt mài học quyết tâm vào Võ Bị Cho em hỏi… Tân khoá sinh thuở ấy Có bàng hoàng anh ngơ ngẩn hãi kinh Ôi! Chạy, nhảy, bò, lăn với nhúng sình Nhức buốt lạnh của khí trời Đà Lạt Cho em hỏi… Tám tuần liền hành xác Tiếng kèn vang hốt hoảng sáng tinh mơ Kinh khủng quá! Bao hình phạt đang chờ Anh có biết mình đang cần trui luyện? Cho em hỏi… Bao hình phạt tác chiến Hình phạt nào làm nhớ mãi không quên Từng hình dáng, lời nói, đến cái tên Vẫn theo anh một đời nghe thương quá! Cho em hỏi Trong giờ nơi Phạn Xá Anh có buồn, luyến tiếc đến tái tê Từ Giã Kinh Thành… nức nở não nề Hoà lẫn tiếng quát, hung thần gầm thét Cho em hỏi… Những điều em chưa biết Thơ từ đào, ớt, chuối, những khóc cười… Kể đi anh, bởi đó là cuộc đời Hành trang đẹp cho một thời tuổi trẻ Cho em hỏi… Hỏi một lời thật khẽ Có bùi ngùi khi nhắc chuyện ngày xưa Có bâng khuâng từng kỷ niệm vui đùa Để chợt nhớ những điều em muốn hỏi. Cho Em Hỏi??? 71

73 Phuïc Vuï Trong Quaân Chuûng Khoâng Quaân Hồ tấn Đạt, K21 Vào năm 71-72, Cộng Sản Bắc Việt tăng cường quân số và chiến cụ tối tân đưa từ Bắc vào tấn công khắp nơi trên lãnh thổ miền Nam, khiến những trận đánh khốc liệt, kinh hoàng giữa hai bên diễn ra khắp trên 4 vu ng chiến thuật. Khi Hoa Kỳ, chuẩn bị rút quân, giao lại căn cứ Sóc Trăng cho VNCH, Quân Chủng Không Quân đã thành lập 2 phi đoàn trực thăng (PĐTT) 225 và 227 để thay thế 2 phi đoàn của Mỹ. Vì thế, tôi và các phi công từ các Phi Đoàn 211, 213, 215, và 217 được thuyên chuyển về thành lập Phi Đoàn 225 do Th/Tá Lê văn Châu (K16) làm Phi Đoàn Trưởng(PĐT). Phi Đoàn 227 thành lập sau vài tháng do Th/Tá Trần Châu Rết (K16) làm PĐT. Phi Đoàn 225 được chia làm 4 phi đội (flight): 3 phi đội trực hành quân 5 ngày liên tục, phi đội còn lại đi phép 2 ngày. Trong thời gian này, tôi bay với tư cách là trưởng phi cơ của chiếc C&C khi hành quân đổ quân. Một hôm đi phép trên đường từ Sài Gòn về lại Sóc Trăng, tôi nghe báo cáo trên tần số, như sau: Trưa nay một chiếc L19 72 Đa Hiệu 111

74 bi SA7 bắn rớt gần biên giới Mộc Hoá và Kampuchia. Phi Đoàn 227 được điều động đưa 1 chiếc rescue và 2 gunship(s) đến tìm 3 chiếc TT bay được vài vòng trên mục tiêu thì chiếc rescue của Đại Uý Minh bị SA7 bắn rớt. Hai gunship(s) nhào xuống cứu Đ/U Minh nhưng không cứu được bị phòng không bắn lên như mưa Khi nghe xong, tôi đã biết tình hình ở đây quá hot (nóng bỏng), mà ngày mai PĐ 225 chúng tôi đang trở về ST để thượng phiên hành quân chánh. Chắc chắn chúng tôi sẽ được điều động lên đây. Điều đó khiến tôi nghĩ ngợi miên man suốt đường bay về lại Sóc Trăng. Về đến nơi, tôi vào phòng hành quân (PHQ) lo cắt bay cho ngày hôm sau và không quên dặn dò sĩ quan trực khi nào có phi vụ lệnh từ phòng hành quân chiến cuộc vào buổi tối thì gọi cho tôi, để tôi nhận lệnh. Khoảng 8:30 tối, tôi được tin một chiếc AC119 từ Tân Sơn Nhất xuống thả trái sáng cho quân bạn cũng bi SA7 bắn gãy cánh trái. Máy bay rớt khiến cho tất cả phi hành đoàn bị tử trận. Nếu ngày hôm sau, tôi phải bay vào khu vực hành quân này và bay bình thường như mọi khi, nghiã là bay vòng vòng trên mục tiêu với cao 2500 bộ, thì hoả tiễn của VC sẽ không tha. Đang miên man nghĩ cách bay như thế nào để đối phó với loại vũ khí quái ác nầy, thì điện thoại reo, tôi nhìn đồng hồ thì đã 10 giờ đêm. Tôi vội chạy lên PHQ nhận phi vụ, khi sĩ quan trực báo cho tôi biết đã có phi vụ lệnh. Đúng như tôi đoán trước, phi vụ lệnh cho biết ngày mai hợp đoàn đến sân bay Mộc Hoá trình diện Trung Đoàn 10, Sư Đoàn 7, với tần số, danh hiệu cụ thể vào lúc 7 giờ sáng, Tôi trở về phòng lấy bản đồ xem điạ thế và tiếp tục nghĩ cách phải bay như thế nào để tránh SA7 đuổi theo sức nóng của trực thăng (tầm nhiệt), cho đến khi tôi thiếp đi từ lúc nào không biết. Đến khi đồng hồ reo, tôi giựt mình thức dậy làm công tác vệ sinh cá nhân, chuẩn bị cho một ngày không biết sẽ ra sao? Phục Vụ Trong Quân Chủng Không Quân 73

76 Tình trạng anh như thế nào? – Trình 601, hiện tại tôi vẫn còn control được và đang chuẩn bị đáp xuống đồn của Điạ Phương Quân. Check máy bay xong, tôi sẽ báo cho 601 biết sau. Kiểm soát toàn bộ không thấy có gì hư hỏng cả, tôi tiếp tục tham dự đổ quân. Khi trở lên vu ng Tr/Úy Trần Văn Ri, bay chiếc gunship số 3, cho tôi biết là anh thấy SA7 bắn lên từ ngôi chu a Miên. Anh xin tôi cho vào bắn, nhưng tôi không đồng ý và khuyên anh Ri: – Thôi bỏ đi. Nếu anh vô đó, VC bắn thêm vài trái trúng anh thì phiền lắm. Bỏ đi, Ri ơi! May mắn, chúng tôi tiếp tục hoàn thành phi vụ trong bình an. Tin Đ/Úy Hồ Tấn Đạt bị SA7 bắn hụt đã loan truyền đến Tân Sơn Nhất. Một hôm TLP/KQ Chuẩn Tướng Võ Xuân Lành xuống Sóc Trăng mời tôi ra phố ăn cơm trưa và hỏi: – Nghe nói Đ/Úy có cách tránh được SA7. Anh có thể kể cho tôi nghe, để tôi nói với phòng Quân Huấn viết tài liệu để huấn luyện? Tôi trả lời: – Thưa Ch/Tướng, tôi có biết cách nào đâu. Chỉ bay lên xuống, quẹo trái quẹo phải tu m lum. May phước là vừa đúng vào lúc tôi quẹo là lúc SA7 trượt ngang qua. 1. Chuyện SA7 và Cái Huy Chương: Trong thời gian này, mỗi khi có phi tuần A 37 đánh ở đâu họ đều xin PĐ TT cung cấp toán rescue. Sau khi tôi đã đổi về PĐ mới đồn trú tại Cần Thơ, một hôm PĐ 255 được lịnh cung cấp 1 rescue và 2 gunships đến vu ng Châu Đốc, Thất Sơn yểm trợ cho PĐ A37 oanh kích. Hôm đó PĐ tôi thiếu người cho nên tôi phải bay chiếc rescue cu ng 2 chiếc gun, đến trình diện tại sân bay Chi Lăng nghe thuyết trình. Phục Vụ Trong Quân Chủng Không Quân 75

77 Tôi bay vòng vòng trên trời suốt buổi sáng. Các A37 đánh 3, 4 phi tuần nhưng chẳng có việc gì xẩy ra. Đến trưa, tôi đáp trực thăng xuống để ăn. Sau đó, đáng lẽ ra tôi phải lên lại ngay, nhưng nghĩ tình hình yên tĩnh nên tôi định nằm nghỉ một chút. Tôi nói với hợp đoàn nhìn về phiá các A7 đang bay, nếu thấy pilot nhảy du thì kêu tôi. Tôi vừa giăng cái võng nylon, chưa kịp nằm, thì chiếc TT chở ông Tỉnh Trưởng Châu Đốc bay thấp ngang qua ra hiệu cho tôi quay máy. Đ/Úy Lai cho tôi biết chiếc A37 số 2 vừa mới bi bắn rớt, pilot nhảy du cần rescue. Tôi nhờ anh Mevo cuốn giu m chiếc võng. (Cũng cần nói rõ, máy bay trực thăng khi bay hành quân bắt buộc phải có 4 người gọi là phi hành đoàn: một trưởng phi cơ(captain), 1 hoa tiêu phó (copilot), 1 cơ phi (mevo) hay gọi là cơ khí phi hành, sửa chửa những hư hỏng nhẹ; một xạ thủ (gunner) lo sửa chữa trở ngại của 2 cây súng và 2 bó rocket nếu là gunship.) Thế là tôi tăng ga cất cánh bay thấp, thẳng tới mục tiêu và tìm thấy anh thiếu úy phi công. Trong khi tôi đang đáp để đón anh phi công này thì trên tần số chiếc A37 số 1 và L19 đang la lối tìm rescue (trực thăng cấp cứu). Họ đang báo cáo về SĐ4/ KQ là họ không thấy chiếc rescue nào cả. Nghe vậy tôi mới lên tiếng vì tôi đã im lặng vô tuyến ngay từ giờ phút đầu. – A37 số 1, tôi đã pick up được số 2 rồi. Số 1 có muốn nói chuyện với số 2 không? Tôi bảo anh Mevo cho viên phi công đó đó mượn helmet (mũ sắt) để liên lạc. Trên đường trở về phi trường Chi Lăng, tôi được lệnh chờ ở đó để đón Đ/Tá Của. Khi đến nơi, ông mời PHĐ của tôi gồm 4 người và viên thiếu úy mà tôi vừa mới bốc lên xe đi vào dinh tỉnh trưởng. Ông đã khui chai Remy Martin mời chúng tôi. Trong lúc nói chuyện ông hỏi tôi: – Toa bay cách nào mà moa chưa tới vu ng thì toa đã bốc được chú này rồi? – Bay cowboy (như cao bồi) mà Đ/Tá. 76 Đa Hiệu 111

78 Ông bảo tôi đưa cho ông số quân của mọi người. Ông hứa sẽ ký giấy ban thưởng mỗi người một Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng. Chúng tôi từ giã Đ/Tá Tỉnh Trưởng Châu Đốc vào khoảng 7giờ 30 tối. Trên đường về Cần Thơ, tôi suy nghĩ nếu mà không có chiếc TT của Đ/Tá Tỉnh Trưởng báo tin và tôi vẫn nằm nghỉ trưa thì không biết chuyện gì xảy ra??? Cám ơn trời phật phu hộ. 2. Phi Vụ Tiếp Cứu PĐ Bạn: Thông thường một đơn vị BB bị tổn thất quá nặng thì một đơn vị khác vào tiếp cứu, hay tiếp viện, nhưng trường họp này ít xẩy ra trên các cuộc hành quân trực thăng vận. Đối với trực thăng thì chỉ có tăng phái, nghiã là gởi thêm vài ba phi hành đoàn hành quân chung với phi đoàn tại điạ phương. Một thí dụ, để tăng cường cho chiến dịch đánh qua biên giới Miên của Tr/Tướng Đỗ Cao Trí, phi đoàn 213 tại Đà Nẵng đã gởi 5, 6 PHĐ về nằm tại quận Hiếu Thiện, tỉnh Tây Ninh để hành quân chung với SĐ3/ KQ. Trường hợp mà tôi đề cập sau đây có phần khác. Cũng tại Sóc Trăng, hợp đoàn 9 chiếc thuộc PĐ 225 hành quân ở Cao Lãnh do tôi bay C&C, trong khi PĐ 227 gồm hợp đoàn 9 chiếc hành quân ở Vị Thanh do Đ/úy Nguyễn Chính Tâm bay C&C. Khoảng hơn 10 giờ trưa khi chúng tôi đang hành quân thì trên tần số tôi được lịnh đưa hợp đoàn về sân bay Vị Thanh trình diện trung đoàn 31 SĐ/21 BB. Tôi hơi thắc mắc, vì tôi biết ở đó có PĐ 227 đang hành quân mà… Cũng gần tới giờ cơm nên tôi bảo hợp đoàn nằm lại Cao Lãnh chờ Phục Vụ Trong Quân Chủng Không Quân 77

81 Th/Tá Rết đã phân tích cho tôi sự khác nhau giữa hai chức vụ PĐP và TPHQ. Nếu cho tôi làm PĐP thì tôi sẽ không làm việc đúng mức như là TPHQ. Ngoài ra tôi cũng được Th/Tá Châu và Th/Tá Hồ Vọng Đông phân tích ưu khuyết điểm của từng công việc, lợi và hại khi về làm việc tại Cần Thơ. Th/ Tá Đông, vốn là PĐP/ PĐ225 trước đó, đã về làm ở BTL/KQ thuộc khối Đặc Trách Trực Thăng. Cuối cu ng tôi đồng ý về Cần Thơ. Chắc có lẽ vì vậy mà tôi gặp được bà xã tôi bây giờ, vốn là em vợ của Th/Tá Huờn. Chúng tôi làm đám cưới tháng 12/ 74. Một hôm PĐT, đi họp bên sư đoàn về, gọi tôi lên văn phòng cho biết là phi đoàn phải đưa một trưởng phi cơ ra Đà Nẵng thay cho 1 trưởng phi cơ được thuyên chuyển về phi đoàn. Khi được lịnh nầy, tôi rất bối rối vì phi đoàn mới thành lập chưa có thời gian để huấn luyện thì lấy đâu ra trưởng phi cơ mà đưa đi. Coi lại hồ sơ, tôi thấy có Đ/Úy Quốc mà tôi đã đưa xuống phi đạo làm test pilot và Đ/Uý Hòa là trưởng phi cơ. Tôi đã tập họp phi đoàn lại tổ chức một buổi bắt thăm, rồi làm văn thư thuyên chuyển Đ/Úy Hòa ra Đà Nẵng. Phi đoàn trưởng liền kêu tôi và nói: – Mầy đưa nó đi là có chuyện đó. Nó là em vợ của Tướng Nguyễn Hữu Hạnh ở Cần Thơ mà Đ/Tá Ông Lợi Hồng, TLP/ SĐ4 của mình, quen nhau rất thân. Không được đâu. Tôi trả lời: – Anh cứ thuyên chuyển. Nếu bị trở ngại thì tôi sẽ trả lời. Độ vài tháng, sau khi Đ/úy Hòa ra Đà Nẳng, PĐT tôi nói: – Đó mày thấy chưa? Bây giờ ông kêu cho người khác, đưa thằng Hoà về. – Vậy thì anh đưa tôi lên gặp ông, tôi sẽ trình bày sự việc. Có gì đâu. Thế là anh Huờn và tôi lên văn phòng TLP. Anh vô trước tôi đứng ngoài chờ. Một lúc sau anh Huờn ra kêu tôi vào. 80 Đa Hiệu 111

82 – Đ/Úy Hồ Tấn Đạt trình diện Đ/Tá. Ông hỏi: – Chú là người đưa Đ/Úy Hoà ra Đà Nẵng đó hả? Tôi đã trình bày rất nhiều lý do là tại sao tôi phải làm như vậy, nhưng ông nhất định kêu tôi cho người khác thay thế. Đứng trước tình trạng này tôi rất bối rối, nhưng thoáng một cái trong chớp mắt tôi nghĩ ra lý do nên đã mạnh dạn trình bày: – Thưa Đ/Tá, tôi không tự động đưa Đ/Úy Hoà mà do anh ta bốc thăm trúng chữ đi, trước mặt các phi công của PĐ. Bây giờ Đ/Tá bảo tôi đưa người khác thế thì làm sao tôi còn tư cách để chỉ huy PĐ, kể cả chỉ huy những đơn vị khác sau này. Thôi thì Đ/Tá cho tôi ra Đà Nẵng thay cho anh Hoà về. Ông nhìn 2 chúng tôi cau mày suy nghĩ: – Thôi 2 chú về đi. Chúng tôi đứng lên chào tay rời văn phòng TLP/SĐ4/ KQ trở về Bình Thuỷ mà lòng thì không yên. Vài ngày sau, tôi nghe tin PĐ217 của Th/Tá Nguyễn Văn Vọng (K16) cho người thay thế anh Hoà. Tôi thở phào nhẹ nhõm. *Hình đầu bài: Quân kỳ của Không Quân Phục Vụ Trong Quân Chủng Không Quân 81

83 Vài nét tản mạn về TÌNH BAÏN Trần Kim Bảng E/20 Một văn hào người Pháp thuộc trường phái Hiệnsinh, cũng là một triết gia, ông Albert Camus ( ), người đoạt giải thưởng Nobel văn chương năm 1957, khi đề cập đến tình bạn đã nói rằng: Đừng đi trước tôi vì có thể tôi không theo bạn; đừng đi sau tôi vì có thể tôi không hướng dẫn bạn; mà hãy đi bên cạnh tôi để là bạn của tôi. Nếu không cần tìm hiểu lời phát biểu này xảy ra trong hoàn cảnh nào, và tâm trạng của tác giả lúc đó ra sao, thì cứ coi đây là một nhân sinh quan nói về tình bằng hữu của riêng ông. Hoặc nếu coi đây là một lời nhắn nhủ của ông đối với hậu thế, hoặc thế hệ đương thời trong cùng mối tương quan bình đẳng giữa những người bạn cầm bút như ông, thì có thể hiểu một cách đơn giản là: Đừng làm thầy của tôi, cũng đừng làm học trò của tôi, mà hãy coi tôi là một người bạn. Albert Camus đã từng có ba năm ( ) đứng trong hàng ngũ những người Cộng-Sản nhưng ông không ưa Mác- Xít và lên án Hồng Quân Liên-Xô tiến vào Hungari. Tuy cùng ở Trường Phái Hiện-Sinh nhưng ông không hoàn toàn cùng tư tưởng với Jean Paul Sartre và cho rằng, con người luôn tồn tại trong một chuỗi những phi lý. Dù sao thì nhân sinh quan của ông trong đó gói ghém tình bạn cũng đã… chỉ là quan điểm rất riêng tư của một nhà văn người Pháp nổi tiếng ở thế kỷ thứ 20. Ông không đại diện cho ai cả, ngoài chính ông. 82 Đa Hiệu 111

84 Tuy cũng nói về tình bạn, nhưng ở thế kỷ thứ 19, trên văn đàn Việt Nam cụ Nguyễn Khuyến ( ) lúc sinh thời đã sáng tác khá nhiều bài thơ nói về tình bằng hữu, chẳng hạn như bài Bác Đến Chơi Nhà: Đã bấy lâu nay bác tới nhà. Trẻ thì đi vắng chợ thì xa Hoặc bài Thăm Hỏi Bác Châu Cầu Bị Lâm Cảnh Lụt Lội: Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu. Lụt lội năm nay bác ở đâu?… Và có thể còn nhiều bài khác nữa, thế nhưng không có bài thơ nào được coi là não lòng, cảm động hơn bài thơ Khóc Bạn. Ngay câu đầu của bài thơ này, khi biết tin người bạn đồng khoa là cụ Dương Khuê qua đời, cụ Nguyễn Khuyến đã thốt lên lời ai oán: Bác Dương thôi đã thôi rồi! Nước mây man mác ngậm ngùi lòng tôi! Thay cho tiếng khóc, thương tiếc người bạn của mình — trong toàn bài thơ — cụ Nguyễn Khuyến đã dùng những ngôn từ hết sức mộc mạc để gửi đến người bạn quá cố, lời lẽ tuy bình dân nhưng thật sâu sắc thắm tình bằng hữu, vô cùng ý nhị, nhưng rất chân thành. Cụ đã kể lể cho người nghe nỗi lòng của cụ Từ thuở đăng khoa ngày trước cùng với người bạn Dương Khuê cho đến khi Tuổi già hạt lệ như sương. Nay người bạn của mình đã ra đi, mà mình thì tuổi già sức yếu, cho nên không còn ép ra nước mắt để khóc bạn được nữa; chỉ còn biết lấy nhớ làm thương mà thôi. Thế nhưng, sự thương nhớ sâu đậm đến nỗi Rượu ngon không có bạn hiền. Không mua không phải không tiền không mua. Không mua là vì bạn không còn đến với tôi để cùng nâng chén quỳnh tương được nữa. Và bạn không đến với tôi nữa, thì thơ tôi không viết nữa, đàn tôi không nghe nữa, và chiếc giường dành riêng cho bạn nằm nghỉ mỗi khi bạn đến nhà tôi chơi, tôi cũng treo nó lên: Câu thơ nghĩ đắn đo không viết. Viết đưa ai, ai biết mà đưa. Giường kia treo những hững hờ. Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn! Tình thương mến dành cho người bạn Dương Khuê sâu đậm đến thế là cùng! Có lẽ trong văn đàn Việt Nam thời ấy, khi nói đến tình bạn thắm thiết như thế, thì chỉ có một mình Nguyễn Khuyến. Tình Bạn 83

86 bè tố nhau, thì khó có thể tìm kiếm được một người bạn tâm giao trong hoàn cảnh ghê rợn đó. Và dĩ nhiên những tác phẩm và những con người sản xuất ra tác phẩm trước thời kỳ này, bây giờ bị coi là phản động, không đứng trên quan điểm lập trường của giai cấp vô sản thì cũng không thể tồn tại, vì thế họ bị bắt đi trại tập trung và có thể mất mạng trong tù. Và cho đến ngay bây giờ, ở thế kỷ thứ 21 vẫn vậy, nếu có khác chăng thì cũng chỉ khác về hình thức. Nhưng cũng phải nói thêm rằng, chính những lúc bi lụy, khó khăn nhất trong đời sống, người ta mới tìm được tình bạn chân thành đúng nghĩa. Một câu chuyện cảm động, khá nhiều người biết, xảy trong thời Đệ nhất thế chiến: Hai người bạn chí thân trong quân ngũ, một anh bị thương nặng ngoài chiến địa, đang phải nằm chịu đựng đau đớn dưới làn mưa đạn của địch; còn anh kia vẫn đang chiến đấu ở phòng tuyến được thiết lập sau khi rút lui khỏi vùng tử địa; anh biết người bạn của mình đang gặp nguy hiểm, anh đã tức tốc xin vị trung uý chỉ huy mặt trận, được phép ra ngoài để kéo anh bạn bị thương của mình về. Vị trung úy nói ngay với anh rằng, – Tôi nghĩ là anh ấy đã chết. Tôi không muốn mất thêm một người lính nữa. Việc anh tình nguyện tuỳ thuộc vào tâm tình của anh. Sau đó anh đã băng mình, vượt phòng tuyến đang chịu sức ép rất nặng nề dưới làn mưa đạn dầy đặc, đến được vùng tử địa, nơi người bạn đang nằm thoi thóp. Quả đúng như lời tiên đoán của vị chỉ huy, anh cũng đã bị thương nhưng vẫn cố hết sức mình, nâng đỡ người bạn của mình về, nhưng được nửa chừng thì người bạn đã vĩnh viễn từ biệt anh. Về đến nơi an toàn, vị trung uý nói: – Tôi đã biết trước như thế. Anh thưa lại với cấp chỉ huy: – Không đâu, thưa trung uý. Lúc tôi sờ vào người anh ấy, thì anh ấy còn nói với tôi: Tao biết thế nào mày cũng đến. Tình Bạn 85

87 Trong cùng thời kỳ nổ ra cuộc Cải cách ruộng Đất ở miền Bắc, thì ở miền Nam nền văn hóa cổ truyền đầy tính nhân bản của dân tộc vẫn được duy trì và đề cao. Vì thế mà trong kho tàng Truyện Cổ Tích có câu chuyện nói về tình bạn giữa Lưu Bình và Dương Lễ, đã được nhiều người biết đến. Câu chuyện này rất phổ thông, đến nỗi không chỉ ở trong học đường mà cả ở ngoài đời, có ý khuyên nhủ mọi người hãy tận tâm, tận lực với người bạn của mình; được kể lại như sau: Lưu Bình và Dương Lễ là hai người bạn chí thân từ khi còn bé. Lưu Bình là con nhà giàu, Dương Lễ là con nhà nghèo. Vì là con nhà giàu cho nên Lưu Bình lúc nào cũng rủng rỉnh tiền bạc, cha mẹ luôn cung cấp đầy đủ, thậm chí dư thừa để cho anh ăn học, tiêu xài thỏa thích. Và cũng vì thế mà Lưu Bình có dịp hào phóng, sẵn sàng chia xẻ túi tiền của mình với người bạn rất thân và rất nghèo, đó là Dương Lễ. Cũng vì sẵn tiền bạc, lại quen thói hào phóng cho nên Lưu Bình không quan tâm nhiều đến việc học hành; trong lúc Dương Lễ vì biết thân phận con nhà nghèo, cho nên quyết chí học, luôn dùi mài kinh sử để hy vọng sau này, khi thi đậu, ra làm quan sẽ thay đổi được hoàn cảnh khốn khó của mình. Đúng như mong mỏi, qua nhiều kỳ thi, Dương Lễ đã liên tục đạt được nhiều thành quả mỹ mãn. Anh đã được triều đình bổ nhiệm đi làm quan, có lính hầu cận đêm ngày. Và rồi, anh đã cưới được người vợ rất xinh đẹp, rất nết na, là nàng Châu Long. Lưu Bình, vì hào phóng, quen thói bốc trời, tuy không đến nỗi trăm nghìn đổ một trận cười như không theo kiểu Thúc Sinh trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, nhưng vì lười học cho nên anh đã không vượt qua được cửa ải thi cử, một đấu trường đầy cam go của các thí sinh trong thời phong-kiến. Có lẽ, vì anh đã phạm trường-quy quá nhiều lần, cho nên mỗi lần lều chõng lên kinh đô dự thí, là một lần thi không ăn ớt thế mà cay. Thế rồi ngày nọ qua ngày kia, năm nọ đến năm kia, cuối cùng thì Lưu Bình đã cạn hầu bao, bị rơi vào hoàn cảnh bi 86 Đa Hiệu 111

88 đát, quá túng thiếu, không lối thoát, nhưng vẫn cứ chứng nào tật nấy. Một hôm vì quá bí, cho nên anh mới nghĩ đến người bạn năm xưa, bây giờ đang làm quan; anh đành phải liều lĩnh vác mặt mo đến gõ cửa nhà ông quan Dương Lễ để xin giúp đỡ. Nhưng than ôi, quá bẽ bàng! Khi được lính gác vào tâu là có một người tên Lưu Bình đến chơi và có ý xin giúp đỡ, thì ông quan Dương Lễ đã không ra cửa đón tiếp, mà chỉ sai lính hầu ra nói đôi lời khuyên nhủ, an ủi, và cung cấp cho người bạn của mình một ít lương thực, rồi đuổi đi. Về đến nhà trọ, Lưu Bình suy nghĩ mới thấy thấm thía, và oán hận tình bạn sao mau đổi trắng thay đen. Nhưng sau đó anh liền nghĩ ngay đến quyết tâm, phải trở lại với đèn sách để còn có dịp cũng ra làm quan như ai, nhất là để báo thù người bạn chí thân năm xưa vừa mới đó mà sao đã chóng quên tình bằng hữu! Nhưng khốn nỗi, bây giờ biết lấy tiền bạc ở đâu mà ăn và học đây!? Giữa lúc đang quẫn trí, bí lối, thì một thiếu nữ xinh đẹp xuất hiện, tìm đến thuê nhà trọ gần nhà trọ của Lưu Bình. Theo đó, anh có dịp làm quen và biết được rằng, nàng có cha mẹ ở xa, và tạm chuyển đến đây để lo chuyện buôn bán, kiếm sống bằng nghề buôn tơ bán lụa. Vẫn bản chất hào hoa, phong nhã, cho nên Lưu Bình trước còn nấn ná sau ra đá vàng với người đẹp. Tuy đã phải lòng nhau, đã thề thốt, nhưng chàng và nàng không dám thoát ra ngoài phong cách con nhà gia giáo thời xa xưa. Mà nàng hứa là chỉ khi nào chàng ăn học thành tài, thi đỗ, ra làm quan thì mới tính đến chuyện ngựa chàng đi trước, võng nàng theo sau. Còn bây giờ, nếu anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng. Nàng cũng hứa là nàng sẽ tần tảo để nuôi chàng ăn học. Vững chí miệt mài đèn sách, lại có người đẹp lo yểm trợ về vật chất lẫn tinh thần, vì thế mà quyết tâm của Lưu Bình đã Tình Bạn 87

89 tăng lên. Sau thời gian lều chõng lên kinh đô ứng thí, cuối cùng thì sự cố gắng của anh đã được đền bù. Anh đã gặt hái được kết quả mỹ mãn, không khác gì người bạn Dương Lễ trước đây. Đã đến lúc phải rời kinh đô, thời gian thi thố tài năng đã qua, phải trở về quán trọ. Việc đầu tiên là anh hớn hở đi tìm và báo tin vui cho người đẹp, người mà anh đã mang ơn, đã giúp anh ăn học thành tài. Nhưng lạ chưa! Người đẹp của anh đã biến đi đâu mất, anh đi khắp vùng mà không tìm thấy. Người đẹp cũng không để lại cho anh một dấu hiệu hay di bút giã từ nào cả. Lưu Bình, một lần nữa lại cảm thấy ngao ngán, thất vọng về tình người. Tuy lần này có khác lần trước, nhưng lần này đã làm anh quá thẫn thờ, mong nhớ người đẹp không nguôi, tự đặt cho mình nhiều câu hỏi mà không sao trả lời được. Anh đem lời trách cứ Con Tạo, đã xoay vần một cách khó hiểu. Giữa lúc bối rối, thất vọng vì không tìm thấy Châu Long, thì Lưu Bình chợt nghĩ đến việc trả thù người bạn Dương Lễ và anh bèn thực hiện ngay ý định này. Nhưng mục đích và thái độ thăm bạn lần này không như lần trước, mà anh rất ung dung tự tại, đầy tự tin khi đến gõ cửa nhà bạn. Cũng lạ thật! Khi được biết là có Lưu Bình đến thăm, thì Dương Lễ đã áo mão chỉnh tề, ra tận cổng để nghênh đón người bạn chí thân năm xưa. Lưu Bình được mời vào phòng khách để hàn huyên tâm sự; khác hẳn với lần trước, chỉ được cung cấp lương thực và bị lính đuổi đi, chứ không được gặp mặt Dương Lễ như lần này. Giữa lúc hai người đang hàn huyên, chờ được thiết đãi đại tiệc, thì nàng Châu Long xuất hiện với khay nước trên tay, nhẹ nhàng vén màn, bước ra sảnh đường. Khi nhìn thấy Châu Long, thì Lưu Bình vừa hoảng hồn, vừa ngạc nhiên; và sau một vài giây bình tâm suy nghĩ, anh chợt hiểu ra thâm ý đầy tình, đầy nghĩa của người bạn Dương Lễ, mà lúc gần đây 88 Đa Hiệu 111

90 mình đã hiểu lầm; thật oan cho người bạn chí thân! Anh cảm thấy ân hận và nghĩ rằng Con Tạo xoay vần thật khó hiểu nhưng cũng thật thú vị! Anh cám ơn Trời và cám ơn Người. Từ đó tình bằng hữu liên kết giữa hai người bạn, càng trở nên đầm ấm và khắng khít hơn xưa. Dĩ nhiên, Lưu Bình – Dương Lễ chỉ là câu chuyện cổ tích nói về tình bạn, đã một thời được lan truyền trong dân gian Việt Nam. Nhưng không phải là không có thật trong đời sống văn hóa của dân tộc ta. Nhiều chuyện thật, tuy không hoàn toàn giống như thế, nhưng tương tự, đã xuất hiện ở ngoài đời, ở nhiều nơi, nhưng chỉ ở những vùng đất không bị ánh sáng Mác-Lênin lùa vào. * * * Cách đây không lâu, trong một dịp trà dư tửu hậu, bù khú với vài thằng bạn cùng khóa, tôi có nhắc lại câu chuyện cổ tích kể trên, thì một thằng bạn mắc zdịch rất tếu và dễ thương — mặc dù nó đã thừa biết câu chuyện Lưu Bình – Dương Lễ như thế nào rồi — nhưng nó cứ giả vờ như chưa biết, chú ý, mỉm cười có vẻ đểu, lắng nghe tôi kể. Đến khi kết thúc câu chuyện, mỗi thằng phải đưa ra một lời bình loạn, thì nó tức tốc phán một câu cũng hết sức mắc zdịch : Cũng may, thời đó Lưu Bình không phải là mày, chứ nếu là mày thì thế nào Châu Long cũng sẽ tan nát cuộc đời! Tôi chẳng học được gì từ lời phán có vẻ khẳng định này từ thằng bạn mắc zdịch cả, chỉ biết cùng cười với mấy thằng mắc zdịch khác đang ngồi trà đàm tán gẫu, chửi bới vung xích chó. Cứ mỗi lần tán gẫu ba hoa chích choè như thế là một lần cười no bụng. Lâu lâu không gặp nhau cũng thấy buồn. Thật ra, thì tuy không có may mắn được gặp nàng Châu Long để làm hại cuộc đời, mà nếu có gặp thì chắc cũng không đủ bản lãnh, hoặc không đủ hào hoa phong nhã như Lưu Bình để đưa nàng zdìa zdinh ; nhưng tôi đã làm hại cuộc đời ma femme. Vì gia cảnh của tôi cũng tương tự như Tình Bạn 89

91 Dương Lễ, nhưng tôi lại không chí thú như Dương Lễ, cho nên sự kết hợp giữa ma femmme và tôi chẳng qua là vì cái duyên cái nợ cả đấy thôi! Người đời thường nói như thế. Cách đây khá lâu rồi, cũng một thằng bạn đồng môn khác, nay đã đi tu — ngày miền Nam bị bể zdĩa vợ con nó zgiọt đi trước, nó cũng như tôi bị đi tù cải tạo nhưng nó ở tù lâu hơn tôi. Tôi vượt biển rồi mới bảo lãnh vợ con, còn nó đi HO và được vợ con bảo lãnh — ngày mới đến San Jose nó ở gần nhà tôi. Một lần nó đạp xe đạp đến thăm tôi; hàn huyên tâm sự, hỏi han nhau về gia đình, về cuộc sống. Chán rồi đến khi ra về, không biết nó coi tướng mạo bả và tôi ra sao, từ hồi nào mà nó phán: Thật ra thì mày nhờ bả nhiều hơn là bả nhờ mày. Tôi cám ơn và tin lời phán của nó là đúng, vì tôi thường nghe: nhân bảo như thần bảo. Hơn nữa, Albert Camus đã chẳng nói rằng con người luôn tồn tại trên một chuỗi những phi lý đó sao! Tôi nghĩ là ổng nói không sai. Và tôi cũng thiết nghĩ, tình bạn cũng như tình bạn đời, nếu muốn tồn tại thì phải chấp nhận những phi lý, ngay cả khi những phi lý không thể chấp nhận được. Trong mỗi cá nhân, hay rộng lớn hơn, trong mỗi gia đình, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia, nói một cách tổng quát là, bất kỳ ở đâu trong cuộc sống của loài người, đều có sự phi lý hiện diện, trong đó con người vẫn cứ phải dựa vào những phi lý đó để tồn tại. Nghĩ như thế, không biết có sai không và không biết là tôi có bị ảnh hưởng bởi Camus? Ngày 30 tháng 4 đã chẳng phải là một phi lý đó sao!? Cứ suy nghĩ đi! Ngày mà thằng nhà nghèo đi giải phóng thằng nhà giàu, ngày mà chế độ man rợ đi giải phóng chế độ văn minh, ngày mà cái ác đi giải phóng cái thiện… Một sự phi lý vĩ đại, phải không?! Thế mà đã hơn 42 năm qua và có thể còn lâu hơn nữa, hơn 90 triệu con người vẫn phải chịu đựng những phi lý, mà hình như mọi giải pháp — nhằm đem lại sự công bình cái gì của 90 Đa Hiệu 111

92 César thì phải trả lại cho César — đã từ lâu được nói đến, đều vô hiệu! Thậm chí còn bị phản ứng ngược! Thật là lạ! Thật là phi lý! Đi tìm hiểu nguyên nhân của sự phi lý này thì thấy rằng, nó bắt nguồn từ tình bạn giữa bác Hồ và bác Mao!!! Khốn nạn cho dân mình thật! Chỉ một chút tình bạn giữa hai bác mà cả dân tộc bị khốn đốn! Thật là phi lý! Nhưng lại càng phi lý hơn nữa, từ khi biết Hồ Chí Minh chỉ là một người Tàu gốc Hẹ, có tên là Hồ Quảng giả hình, thế mà nó đã và vẫn đang được trang trọng tôn thờ!? Thế có lạ không? Thật là phi lý! Đi tìm một giải pháp để vô hiệu hóa những phi lý trong cuộc đời này, thật là khó! Rất khó! Một tên cướp đã xông vào nhà mình với vũ khí trong tay. Trước hết, khi sự kiện này xảy ra thì phải nói ngay là lỗi tại mình, vì mình quá dở, quá kém cỏi, mình không bao giờ nghĩ là sự kiện như thế sẽ xảy ra, vì thế mình đã không dự trù kế hoạch đối phó, vì chẳng ai học được chữ ngờ! Nói một cách dễ hiểu là, mình Tổng Thống Hoa Kỳ Benjamin Franklin đã không có khả năng tự bảo vệ mình. Lại càng dở hơn nữa, một khi tên cướp đã vào nhà rồi, mà ( ) mình vẫn không có cách nào đẩy nó ra! Đã thế, những thân quyến trong nhà lại còn xào xáo lẫn nhau, đổ lỗi cho nhau, nghi kỵ lẫn nhau, chửi bới lẫn nhau trước mặt tên cướp. Tên cướp cười thầm, ung dung tiến vào những nơi bí mật, đi tới đi lui thành thạo như người trong nhà, vơ vét của cải, và bước ra khỏi nhà với chiến lợi phẩm đầy túi! Thật là phi lý! Phải chăng, sự phi lý đó xuất phát từ một tình bạn nào đó giữa một thân quyến trong nhà với tên cướp kia, nó đã có chủ đích từ lâu!? -Thật khó khăn và thật phi lý, nhưng dù sao thì cũng là Tình Bạn 91

93 lỗi tại mình. Ông Benjamin Franklin ( ), một trong những người nổi tiếng thành lập đất nước Hoa Kỳ, người đầu tiên thành lập bản Tuyên Ngôn Độc Lập, và bản Hiến Pháp Hoa Kỳ, một chính trị gia lỗi lạc, một nhà ngoại giao nổi tiếng. Ông cũng là nhà khoa học có nhiều phát minh rất giá trị và hữu ích cho đời sống, như: cột thu lôi, bếp lò, kính đeo mắt hai tròng và một vài thứ khác nữa. Khi đề cập đến tình bạn, ông khuyên mọi người là: Hãy chậm rãi khi chọn bạn và hãy chậm rãi hơn nữa khi thay bạn. Người Mỹ hay nói chung là cả nước Mỹ thật may mắn, trong những ngày đầu, khi thành lập đất nước Hoa kỳ, đã có được người thầy, người bạn như Franklin. Ngày nay, những người Mỹ gốc Việt cũng đang có Franklin, nhưng chúng ta đang nghĩ gì về tình bạn? 92 Đa Hiệu 111

94 Töôùng Laõm… vaø Toâi Hạ Bá Chung, K10 Cuối năm 1965, tôi đang giảng dạy Anh Ngữ tại trường Sinh Ngữ Quân Đội ở Sài Gòn thì nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuyên chuyển ra Vùng 1 Chiến Thuật, biệt phái làm Trưởng Toán Sĩ Quan Liên Lạc Đồng Minh và Thông Dịch Viên tại Sư Đoàn 3 Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (TQLC/ HK) đóng trên đồi 327 phía Tây thị xã Đà Nẵng. Sư Đoàn 3/ TQLC/ HK là đại đơn vị đầu tiên đổ bộ vào Việt Nam của Lực Lượng Đồng Minh, gồm 6 quốc gia: Hoa Kỳ, Đại Hàn (Nam Triều Tiên), Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Thái Lan, và Phi Luật Tân, tham gia chiến trận chống Cộng Sản xâm lược bảo vệ Thế Giới Tự Do. Sau này tôi được biết, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I lúc bấy giờ, bay về Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu đích danh ba sĩ quan là, Đại Úy Hạ Bá Chung, Phụ Tá Huấn Luyện/ Chỉ Huy Trưởng Trường Sinh Ngữ Quân Đội đặc trách các lớp Thông Dịch Viên và 2 Chuẩn Úy Tống Phước Đức và Nguyễn Văn Tuyến, đều là giảng viên Anh Ngữ đứng lớp Thông Dịch Viên. Tướng Lãm và Tôi 93

95 Nhiệm vụ của tôi là mỗi buổi sáng và lúc 5 giờ, tôi tới Trung Tâm Hành Quân Bộ Tư Lệnh Quân đoàn I gặp Trung Tá Cần, Trung Tâm Trưởng, trao đổi bản tin về các diễn biến quân sự của Sư Đoàn 3/ TQLC/ HK hoạt động trong ngày qua và các hành vi quấy phá của địch trong phạm vi doanh trại Mỹ, rồi lấy bản tin về hoạt động quân sự của ta và địch trong ngày hôm trước trên lãnh thổ Vùng 1 Chiến Thuật. Tôi trở lại Phòng 3 Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 3/ TQLC/ HK và thuyết trình trước vị Tướng Tư Lệnh cùng Bộ Tham Mưu trong buổi họp sáng lúc 8 giờ, ngay sau khi Trung Tá Trưởng Phòng 3 thuyết trình. Đầu tiên là Sĩ Quan Phòng 2 (Tình Báo) thuyết trình, rồi đến Phòng 3 (Hành Quân), và lần lượt tới các phòng khác. Sĩ quan thuyết trình viên đứng trên bục đối diện Ban Tham Mưu trong hội trường, trong tư thế cơ Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Cựu Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu 1, 1970 bản thao diễn nghỉ, tay trái đặt ở sau, lưng tay phải cầm cái pointer mà bạc sáng loáng, tròn như cây viết chì, kéo ra dài ra chừng một thước, chiã xuống dốc ở góc 45 độ. Mỗi khi chỉ tọa độ trên bản đồ xong mới xoay mình đi di chuyển. Thuyết trình viên không được cầm giấy đọc, vì vậy phải học thuộc lòng các biến cố xảy ra. Khi Thiếu Tướng Tư Lệnh, hay Đại Tá Tham Mưu Trưởng đặt câu hỏi, thuyết trình viên phải có câu trả lời ngay lập tức, vì vậy phải tìm hiểu các chi tiết xung quanh biến cố. Nói ra thật tức cười, đúng là con nhà giàu đi đánh giặc. Các sĩ quan khi ra thuyết trình trước vị Tư Lệnh Sư Đoàn và Ban Tham Mưu, quần áo tác chiến phải ủi thẳng băng cáu cạnh, giày bốt, khoá nịt, dây lưng phải bóng lộn, tóc phải cắt ngắn 94 Đa Hiệu 111

96 mỗi tuần một lần. Sau khi lên bản đồ các tọa độ về các biến cố, ai nấy đều tập dượt phần thuyết trình của mình chẳng khác gì học trò trả bài. Trước giờ họp chừng 15 phút, ai nấy đều thay bộ quân phục tác chiến mới giặt ủi treo sẵn trong phòng thay áo. (TQLC/ HK gởi đồ giặt ủi tận Okinawa, Nhật Bản.) Từ đó không ai ngồi xuống nữa, vì chẳng muốn quần áo nhàu nát. Bàn làm việc của tôi đặt ngay tại Phòng 3 Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Sau lưng tôi là tấm bản đồ lớn Vùng 1 Chiến Thuật với hàng chữ ARVN (Army of the Republic of VN), đầy những nét bút chì mỡ màu xanh đỏ, ghi sự phối trí các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa trú đóng trên lãnh thổ Vùng 1 Chiến Thuật và những đại đơn vị quân đội Bắc Việt ở vùng biên giới Việt-Lào, nhất là các địa danh chiến lược mà cộng quân thường xâm nhập. Nguyên tắc làm việc của tôi là, mình phải tỏ ra hữu dụng với người thì người sẽ hữu dụng lại với mình, nên tôi phải nằm lòng những hoạt động quân sự của ta trong ngày và các địa danh của những đồn bốt ở những nơi xa xôi hẻo lánh để mỗi khi Sĩ Quan Phòng 3 bạn cần tham khảo, tôi nhanh chóng chỉ trên bản đồ sau bàn làm việc. Đổi lại, họ cũng thông tri cho tôi biết các đơn vị hành quân của họ đã hoạt động trong ngày, mỗi khi Trung Tá Cần, Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn I, yêu cầu. Tôi luôn luôn chuẩn bị áo giáp, nón sắt tháp tùng Thiếu Tướng Tư Lệnh trong trực thăng, mỗi khi thị sát các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phối hợp hành quân với Quân Đội Mỹ. Đó là khoảng không gian chúng tôi thường có dịp chào kính Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân Đoàn I, trên các mặt trận trong vùng còn vương khói súng, mùi tử khí vẫn còn phảng phất trên đầu cây, ngọn cỏ. Một tháng đôi lần, tôi có nhiệm vụ xuống Trung Đoàn 1 TQLC/ HK ở tiền tuyến gặp Chuẩn Uý Đức để biết tinh thần phục vụ và tác phong kỷ luật của thông dịch viên. Nhiều khi các anh em phải biệt phái tới cấp trung đội tác chiến để kịp thời thông dịch lời khai của các tù binh Việt cộng. Hoặc tôi tới thăm Tướng Lãm và Tôi 95

97 Chuẩn Uý Tuyến ở Tiểu Đoàn Thám Sát/ TQLC/ HK, thường nhảy sâu vào vùng địch trú đóng để biết thêm tình hình di chuyển của các đại đơn vị chính quy Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh thuộc biên giới Việt-Lào. Nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và tinh thần kỷ luật của anh em chúng tôi đã được ân thưởng qua các văn thư của các đơn vị trưởng Quân Đội Mỹ gửi về tường trình với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I đề nghị thăng cấp cho chúng tôi. Qua văn thư đề nghị của Trung Tướng Robert Cushman, Tư Lệnh Lực Lượng III TQLC/ HK (III MAF= Marine Amphibius Forces), tôi được Trung Tướng Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn I gắn cấp bậc thiếu tá vào năm 1968, và qua văn thư đề nghị của Thiếu Tướng Robert C. Hixon, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV Lục Quân Hoa Kỳ. Một lần nữa, tôi được vinh dự Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I gắn cấp bậc trung tá và năm Đồng thời hai Chuẩn Úy Tống Phước Đức và Nguyễn Văn Tuyến được vinh thăng Đại Úy. Rất nhiều Thông Dịch Viên có công trạng hoặc phục vụ xuất sắc cũng được gởi về lớp Sĩ Quan Đồng Đế ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Vào năm 1975 tan hàng, nhiều thông dịch viên đã mang cấp bậc trung úy. Việc vinh thăng cấp bậc mang theo việc thăng tiến về chức vụ. Vào năm 1970, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I bổ nhiệm tôi giữ chức vụ Trưởng Khối Sĩ Quan Liên Lạc Đồng Minh/ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I/ Vùng 1 Chiến Thuật, chỉ đạo toàn thể sĩ quan Liên Lạc Đồng Minh và hơn 600 thông dịch viên trong vùng. Văn phòng của Khối Sĩ Quan Liên Lạc Đồng Minh/ Quân Đoàn I nằm trong khuôn viên của Phòng 3 Bộ Tư lệnh Quân Đoàn XXIV/ Lục Quân Hoa Kỳ, cạnh phòng của sĩ quan Liên Lạc Đại Hàn. Đại Úy Tống Phước Đức được thuyên chuyển về lại Quân Đoàn I làm sĩ quan tùy viên cho Trung Tướng Lãm, và Đại Úy Nguyễn Văn Tuyến được đề cử lên làm sĩ quan tùy viên cho Trung Tướng W.G Dolvin, Tư lệnh Quân đoàn XXIV Lục Quân Hoa Kỳ. Ba anh em giáo sư 96 Đa Hiệu 111

98 chúng tôi đã làm vinh danh Trường Sinh Ngữ Quân Đội bằng khả năng Anh Ngữ của mình và giữ được tác phong mô phạm trong cách xử thế với anh em thông dịch viên. Trước lễ Giáng Sinh năm 1970, sau buổi họp tham mưu buổi sáng, Thiếu Tướng Hixon, Tham Mưu Trưởng BTL/ QĐ XXIV/ LQHK, cho gọi tôi lên văn phòng. Sau vài ba câu chuyện thăm hỏi về gia cảnh, Thiếu Tướng đưa cho tôi xem văn thư của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV Lục Quân Hoa Kỳ gởi về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I đề nghị thăng cấp cho tôi. (Subject: Recommemdationfor Promotion of Major Ha Ba Chung) (1). Trong câu chuyện, Thiếu Tướng luôn bày tỏ sự kính trọng Tướng Lãm qua những cuộc hành quân phối hợp. Khi lâm trận, Tướng Lãm thường có những quyết định táo bạo có tính toán, tuy nhiên không bao giờ thí quân để tìm chiến thắng. Ông ta rất hãnh diện được sát cánh với Tướng Lãm trong các trận chiến tại Vùng 1 Chiến Thuật. Rồi ông ta cười thật tươi với lời nói tự hào rằng, Chưa có một trận đánh nào ở Vùng 1 Chiến Thuật mà quân đội Mỹ bị thất trận, từ ngày đổ bộ vào Đà Nẵng tới nay. Vào tháng 10/1971, dư âm của cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào vẫn còn ảm đoạn trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn. Biết bao nhiêu bút mực tuôn tràn trên hàng vạn trang sách báo, luận giải thắng bại của các cuộc hành quân, qua các nhà viết sử, các tướng lãnh, các chính trị gia. Vào một buổi trưa, khi tôi vừa rời câu lạc bộ ăn bữa trưa về, thì được mời lên văn phòng của Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV Lục Quân Hoa Kỳ. Uy nghiêm sau bàn làm việc với phía sau một dãy Quân Quốc Kỳ Mỹ, Trung tướng cho tôi biết là, đã hỏi ý kiến của Trung Tướng Lãm cho tôi được du học tại Hoa Kỳ, niên khóa tại Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu, Leavenworth, tiểu bang Kansas (Command and General Staff College). * Tướng Lãm và Tôi 97

99 Tôi thật sự xúc động và thật không ngờ có được vinh dự này. Tôi nói lời cảm ơn và sẽ cố gắng học hỏi. Trong câu chuyện, Trung Tướng Dolvin cũng gửi gắm ít nhiều tâm sự rằng, Tướng Lãm là một vị tướng tài ba (talented general), nhưng hệ thống chỉ huy của quân lực Việt Nam Cộng Hòa có nhiều chồng chéo (crisscross), khó vận dụng mệnh lệnh hành quân được nhất quán (consistent), và cần có nhiều sĩ quan tốt Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm tại Nam Lào, nghiệp các khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao cấp trong Bộ Tham Mưu cấp Quân Đoàn. Vì vậy ông đã tường trình lên Đại Tướng Tư Lệnh MAC-V (United States Military Assistance Command) ưu tiên cho tôi được vào danh sách du học niên khóa , tại Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu tại Hoa Kỳ, thông qua Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có nhiệm vụ lập danh sách các sĩ quan du học ngoại quốc. Trong chức vụ Trưởng Khối Sĩ Quan Liên Lạc Đồng Minh, tôi thường có dịp gần với Trung Tướng Lãm nhiều hơn trong các buổi đại lễ, tiếp tân, hoặc lễ trao huy chương cho các đơn vị trường hữu công trong chiến trận của quân đội Mỹ, hay Đại Hàn. Trước ngày lễ gắn huy chương, tôi về Bộ Tư lệnh 98 Đa Hiệu 111

100 Quân Đoàn I lấy bản tuyên dương, rồi dịch sang tiếng Anh. Sáng hôm sau, tôi đến địa điểm hành lễ để tham dự thao dợt từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc. Lễ nghi quân cách của quân đội Hoa Kỳ lừng danh thế giới về vẻ đẹp hùng tráng, trang nghiêm. Vào ngày lễ gắn huy chương, khi Tướng Lãm còn đang trò chuyện với các vị tướng lãnh Hoa Kỳ, Đại Hàn trong phòng tiếp tân, tôi đến tường trình lên Trung Tướng Tư Lệnh diễn tiến buổi lễ. Vậy mà tôi vẫn bị một ngày xui. Hôm đó là lễ gắn huy chương cho Đại Tá Phi Đoàn Trưởng, Phi Đoàn Phản Lực thuộc Không Quân/ TQLC/ HK, ở thị trấn Non Nước, Đà Nẵng. Mở đầu buổi lễ, bản nhạc quân hành của TQLC/ HK nổi lên như những đợt sóng thần gào thét, sóng sau xô sóng trước ào ào. Diễn tiến buổi lễ xảy ra đúng từng giây, từng phút. Tới khi Thiếu Tá Điều Hợp chương trình buổi lễ trân trọng mời Tướng Lãm ra gắn huy chương, ban nhạc TQLC/ HK nổi lên bản Thượng Cấp Võ, ầm ầm như sấm động. Rời khỏi khán đài, Tướng Lãm trong quân phục tác chiến, đội nón nỉ đèn binh chủng Thiết Giáp, tay cầm gậy chỉ huy, tiến ra đứng trước vị Đại Tá Phi Trưởng thuộc Không Quân TQLC/ HK. Tôi cất tiếng, đọc bản tuyên dương công trạng thì cái micro đột nhiên câm nín. Tôi đang loay hoay điều chỉnh thì viên Trung Sĩ Mỹ, phụ trách kỹ thuật, ào tới sửa chữa, nhưng micro vẫn không có tiếng nói. Cả đoàn quân danh dự và ban nhạc vẫn giữ tư thế nghiêm và trên khán đài danh dự các quan khách vẫn đứng nghiêm chỉnh. Một sự im lặng ngột ngạt làm bụng tôi đánh lô tô liên hồi… Thường thì micro của tôi ở phía trái khán đài và micro của Thiếu Tá MC ở bên phải. Ông ta nhanh trí chạy vòng phía sau khán đài kéo tôi tới micro của ông ta. Lúc ra về, Tướng Lãm giận lắm, nghiêm mặt nói, – Trung Tá về trình diễn tôi tại văn phòng. Trên đường về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, tôi thầm nghĩ Tướng Lãm và Tôi 99

101 phen nàychắc mấy ngày trọng cấm rồi. Gặp Trung tá Nguyễn Kim Tuấn, nhà văn Duy Lam trong Tự Lực Văn Đoàn, là Chánh văn phòng cho Tướng Lãm. Duy Lam cũng là bạn của tôi từ lâu. Sau khi nghe chuyện, Lam cười nói, – Không sao đâu ông! Ông không bao giờ phạt một ai, nếu không phải lỗi lầm do thiếu tinh thần trách nhiệm. Quả nhiên sau khi nghe tôi trình bày là, buổi sáng tôi đã đến sớm tham dự diễn tập từ đầu đến cuối. Lúc tôi đọc bản tuyên dương, micro không có trở ngại kỹ thuật. Tướng Lãm nghe xong dịu nét mặt cho tôi ra về Thời gian này Đại Úy Đức, Tuyển, và tôi thường gặp mặt nhau trong các buổi lễ là tiếp tân. Chúng tôi mặc sức hàn huyên, nhưng luôn giữ giọng nói vừa đủ nghe, thông tin cho nhau về những tập quán, cá tính của các vị tướng lãnh. Tôi nhớ lại một hôm Đức nói với tôi, mức sống sinh hoạt trong gia đình của Trung Tướng Tư Lệnh chỉ cao hơn mức trung bình một chút, chứ không xa hoa, hoang phí như người ta thường nghĩ. Hắn hiếm khi thấy các tỉnh, quận trưởng, hay các nhà mại bản ra vô thăm viếng kể cả ngày lễ Tết. Rồi hắn cười nói, Câu 4 tướng thanh liêm nhất trong quân đội là, nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng chỉ nghe đồn thôi, giới báo chí thổi phồng lên. Chứ chính hắn, hơn 2 năm trời luôn bên cạnh, làm ở văn phòng hay ở tư gia, mới đủ thẩm quyền nói là, Tướng Lãm không những là vị tướng thanh liêm, mà còn đạo đức nữa. Tôi cười bảo, Mi nói chuyện này với ta cũng chẳng ích gì. Lúc nào mi gặp phóng viên báo chí mà nói như vậy mới là tay chơi số một. Đại Uý Tuyến góp vào, Ông dám chơi các nhà báo như vậy, tôi sẽ gọi ông là sư phụ. Đại Úy Đức quay sang nói với tôi, Sir dám cá không? Thằng này vốn sẵn là tay chơi mà. Cảm hứng tôi viết bài này do tình cờ đọc thư của bà xã 100 Đa Hiệu 111

102 tôi, viết ngày 10 tháng 9 năm 2011, cảm ơn phu nhân Trung Tướng Lãm vừa gửi cho tấm hình của Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ Vùng 1 Chiến Thuật mà phu nhân Trung Tướng là hội trưởng và bà xã tôi là Trưởng Ban Giao Tế. Bà xã tôi bị thương tật ở ngón cái tay mặt nên chữ viết khó đọc, làm tôi phải chép lại cho vào bì thư gửi đi, còn lại bản chính. Bức ảnh khổ 18×24 cm thật đẹp, thâu hình các phu nhân trong Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ Vùng 1 Chiến Thuật đăng thăm viếng cơ sở trường học trong trại gia binh ở vùng thôn quê hẻo lánh. Nhìn tấm ảnh, tôi hồi tưởng lại thời vàng son xa xưa. Bà xã tôi trang nhã trong chiếc áo dài màu xanh, quần đen đồng phục cùng với các phu nhân trong hội tháp tùng phu nhân Trung Tướng thăm viếng các gia đình binh sĩ, trao tặng chút ít tặng vật như sữa, đường, dầu ăn, vải vóc, hay sách vở, bánh kẹo cho con em binh sĩ. Các gói quà này do Trưởng Phòng Xã Hội Quân Đoàn, Thiếu Tá Cao Mỹ Nhân, có nhiệm vụ cung cấp. Đó là khoảng thời gian an ninh trong 5 tỉnh địa đầu giới tuyến còn được bảo vệ, dân chúng trong vùng có được an cư lạc nghiệp, dưới thời Trung Tướng Lãm làm Tư Lệnh Quân Đoàn suốt thời gian 5 năm từ 1966 tới Tôi chợt tỉnh cơn mơ thả hồn về dĩ vãng và cầm thư lên đọc với tâm trạng còn đang xúc động. Phần cuối lá thư làm tôi thực sự ngạc nhiên về sự trùng hợp kỳ lạ. Sự suy nghĩ của bà xã tôi với ông bà Trung Tướng cũng giống như sự suy nghĩ của Đại Úy Đức hơn 40 năm trước đây. Tôi tâm đắc chép lại phần cuối thư này thay cho lời kết của bài viết và đó cũng là tâm nguyện của tôi. Trong thời gian dài sáu năm phục vụ ở Vùng 1 Chiến Thuật tới khi đi Mỹ du học năm 1972, nhà em may mắn được phục vụ dưới một vị tướng đức độ, thanh liêm nên lúc về già, tâm trí rất thanh thản. Xin cảm ơn Trời, Phật! Thuở nhỏ, em học ở trường Công Giáo, nên còn nhớ Tướng Lãm và Tôi 101

103 câu cầu nguyện, Bình an dưới thế cho người thiện tâm. Chủ thuyết của đạo Phật cũng là thiện tâm. Vì vậy, em xin mượn ý này để cầu chúc gia đình thiện tâm của ông bà Trung Tướng được bình an, vạn hạnh. Chú thích: Trong Tập San Đa Hiệu số 40, tôi có viết bài Nghệ Thuật Phiên Dịch, diễn giải ba phương pháp phiên dịch: – Dịch nguyên bản. – Dịch thoát nghĩa. – Dịch tóm tắt. *Đoạn này, tôi dịch theo phương pháp dịch thoát nghĩa, để hiểu được ý nghĩa trung thực của đoạn văn và giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Trích Đoạn 4 Văn Thư Đề Nghị. 4. Lieutenant General Lam, The I Corps Commander, considers Lieutenant Colonel Chung has the potential to rise to the highest levels of command and staff and I indorse that opinion. His attendance at the Command and General Staff College will ppare Lieutenant Colonel Chung for increased responsibilities and will allow the Army of the Republic of Viet Nam to gain full benefit from his potential. Chuyển ngữ tiếng Việt Đoạn 4: 4. Trung Tướng Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn I nhận thức là, Trung Tá Chung có nhiều tiềm năng, để hấp thụ tối đa kiến thức chỉ huy và tham mưu, và tôi (Trung Tướng Dolvin) bảo trợ ý kiến này. Sự thụ huấn của Trung Tá Chung tại Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu sẽ chuẩn bị cho Trung Tá Chung lãnh trách nhiệm cao hơn và sẽ giúp cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà có được sự phục vụ đắc lực từ nguồn tiềm năng đó. 102 Đa Hiệu 111

104 Chiến Sách Hải Đăng trong Sương Mù Cao Xuân Thanh Ngọc, K14/2 Từ lúc Tôn Tử tung hoành trên những cổ chiến xa của thời cổ đại cho đến khi người Anh trên những chiến thuyền xưng bá khắp các đại dương, bất cứ thời đại nào, bất cứ ở đâu, các danh tướng đều xác nhận rằng, Không có cuộc chiến nào nguy hiểm và khó thực hiện hơn cuộc chiến trong sương mù. Vậy thế nào là chiến tranh sương mù? Theo nghĩa đen thời cổ đại là khi thời tiết ngăn hết tầm nhìn khiến người ta bước vào trận địa như thầy bói mù sờ voi. Bởi vì không nhìn thấy gì hết nên không biết phải đánh làm sao cả. Nhưng nhìn rộng hơn theo nghĩa bóng thì đó là cuộc chiến tranh không biết đâu là kẻ thù, đâu là bạn, đâu là dân ta, đâu là thành viên địch, ai là đồng minh, và ai muốn giết mình. Thậm chí có đôi lúc kẻ đồng minh thân cận nhất, lâu năm nhất lại là kẻ thù nguy hiểm nhất. Đó là hoàn cảnh mà ngay cả bậc trí giả cũng khó mà phân biệt thật hư của thế sự. Hôm nay chúng ta chính là đang ở trong hoàn cảnh đó. Chúng ta đang chìm trong một đại dương sương mù bao la. Chiến Sách Hải Đăng trong Sương Mù 103

105 Có những lúc chung quanh toàn tiếng thác gầm, sóng đổ. Có những lúc chung quanh rì rào như tiếng sáo dịu êm, nhưng bất luận trong tiếng gầm thét chết chóc, hay trong tiếng ru dịu ngọt, ta đều không thể thật sự biết được tiếng đó thật sự là tiếng gì cả. Chúng ta sợ hãi, dò dẫm từng bước đi với hai tay sờ soạng chung quanh mà không biết mình sẽ nắm trúng thiên thần, hay tử thần nữa. Vì đâu có hoàn cảnh đó? Từ trước khi Trung Quốc gia nhập WTO thế giới này là một thế giới có chiến tuyến. Người ta phân biệt rỏ ràng là Tự Do, là Độc Tài, là Quân Phiệt, là Cộng Sản… Bất luận bạn là ai bạn cũng thật sự có một danh xưng, một đường lối, một chỗ đứng, một lý tưởng đại diện. Sau khi Liên Xô tử vong và Trung Quốc biến thành chế độ không cần phân biệt mèo đen, hay mèo trắng; chỉ cần đảng sống và hốt được tiền. Hoa Kỳ theo chân ông Bill Clinton biến thành, Chỉ có kinh tế chứ không có chính trị đâu, ngốc ạ. (lời của Bill Clinton) Kể từ thời khắc đó, người ta đặt vấn đề chiến tuyến, vấn đề lý tưởng sang một bên. Người ta tuyên bố rằng, Trước kia không phải là bạn thì là thù, ngày nay không phải là bạn cũng không phải là thù thì vẫn có thể là kẻ có thể hợp tác. Nghĩa là từ nay không còn có một tiêu chuẩn phân biệt nào nữa cả. Người tự do ôm hôn thắm thiết kẻ độc tài gian ác để cùng nhau thực hiện một canh bạc. Người đồng chí giết nhau thảm khốc vì canh bạc đã thay đổi. Người tự do liên minh với kẻ độc ác để hại người tự do. Con người không còn phân biệt nam và nữ, thiện và ác, chính và tà, tự do và độc tài. Tất cả người ta chỉ còn chìm trong những canh bạc lạnh lùng vô tình cảm, vô lý tưởng với nhau. Tại những quốc gia đã có văn minh, đã có dân chủ, đã có công lý, đã có tự do thì họ cống gắng gìn giữ những giá trị đó như bảo bối cho riêng công dân của họ, cho riêng dân tộc họ, cho riêng tổ quốc của họ. Còn lại tất cả những gì vượt ngoài giới hạn tổ quốc của họ thì chỉ là những vật dụng trên bàn đàm phán, những con cờ trên ván cờ, những món hàng giữa chợ trời đấu giá mà thôi. 104 Đa Hiệu 111

106 Người Tây Tạng đau khổ nhìn tổ quốc của họ bị cướp đi, bị nuốt chửng một cách trắng trợn mà gần như không ai sẵn sàng vì họ mà hành động. Người Cuba đau đớn nhìn bạc tỷ sẽ từ Hoa Kỳ đổ vào góp phần khiến chế độ độc tài ở Cuba tồn tại. Thậm chí cả những chính khách lớn lao như ông Ted Cruz cũng chỉ biết gạt nước mắt mà nhìn cục diện thương tâm đó. Người Pháp Luân Công Trung Hoa nhìn đồng đạo của họ bị mổ xẻ bán nội tạng trong khi các quốc gia tự do dân chủ vẫn chỉ phản ứng lấy lệ. Những hợp đồng trị giá hàng trăm tỷ với Trung Cộng có sức mạnh lớn hơn tiếng gọi của lương tri nhân loại. Và cuối cùng chúng ta, người Việt Nam thì sao? Người đại diện của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ái ngại khi đứng chụp hình bên lá cờ dân tộc, cờ vàng ba sọc đỏ của chúng ta. Đại diện bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho rằng cái nhìn của họ và chúng ta về Việt Nam ngày nay khác nhau. Đây là thời kỳ mà kẻ ác, kẻ độc tài đắc chí. Trong hoàn cảnh đó chúng ta phải làm gì đây? Nhiều người đã sa ngã và hợp tác với thế lực độc ác. Nhiều người bỏ cuộc đi tìm quên lãng trong việc gia đình. Nhiều người bơ vơ như những đứa trẻ lạc lõng giữa chợ đời. Tất cả chúng ta đang chìm trong một đại dương sương mù, chúng ta không thể làm gì hơn là làm một ngọn hải đăng. Ít nhất giữa mênh mông bất định đó, người dân có lương tâm sẽ còn nhìn thấy những ngọn đèn định hướng mà giữ lấy tấm lòng son chờ ngày thay đổi. Cục diện Hoa Kỳ – Trung Cộng: Cục diện chính tạo ra đám mù sương vô tận kia thật sự không thể kéo dài lâu nữa. Một khu rừng không thể có hai con hổ, một thế giới không thể tồn tại hai siêu cường. Người Nga cho rằng đến 2035 là chậm nhất quan hệ Mỹ – Trung sẽ chuyển đổi và cục diện thế giới thay đổi hoàn toàn. Người Mỹ như ông Bannon thì cho rằng sẽ không thể nào kéo dài hơn Hầu hết các nhà nghiên cứu chiến lược đều không đưa ra con số cụ thể nhưng đều cho rằng ngày ấy đã gần đến. Đó là sự vận động tất yếu của lịch sử. Vậy nên trước khi thế giới chìm trong một cuộc cách mạng Chiến Sách Hải Đăng trong Sương Mù 105

107 toàn diện thì chúng ta cần phải làm gì đó để gìn giữ lực lượng dân chúng còn nhìn về một hướng mà không chìm vào sa đọa cùng cộng sản. Cách đó là hãy làm những ngọn hải đăng cho mọi người. Vậy làm sao để làm ngọn hải đăng? Có ba yếu tố căn bản gìn giữ ngọn lửa thần tiên Đại Việt luôn vĩnh cửu. Đó là: 1- Lý tưởng Việt Nam Cộng Hoà: Đó là lý tưởng đề cao tổ quốc trên hết, nhân phẩm trên hết, và trách nhiệm với tổ quốc là trên hết. 2- Công Lý & Sự Thật: Khi chúng ta không biết phải làm gì đúng nhất thì Công Lý & Sự Thật là kim chỉ nam vì nó là chân lý, là nhu cầu vĩnh cửu. 3- Tự Do và Đa Đảng: Vì thiếu hai yếu tố đó thì chỉ có bất công và dối trá mà thôi. Khi mỗi một hậu duệ VNCH là một ngọn hải đăng rực sáng giữa phong ba thì bất luận dòng thời cuộc biến chuyển đến đâu thì VNCH vẫn rực sáng đến đó. Người dân sẽ có một điểm tựa tinh thần, một vùng trời cho hy vọng, mà chờ đợi đến ngày Đại Việt vùng lên đòi quyền sống. Xin hãy sống như những ngọn hải đăng Việt Nam Cộng Hoà rực cháy mãi không thôi. Ái Nữ của Trung Tá Cao Xuân Lê, Khoá Đa Hiệu 111

108 Maây Vaãn Coøn Bay VI VÂN, K20/1 Ngọc Tuyền bước dọc theo bờ biển Santa Monica* chầm chậm đi về hướng vắng người, để lại những dấu ấn rời rạc của bàn chân trên nền cát trắng. Những cơn sóng từ ngoài xa xô dạt vào bờ mang theo chút hơi mát lạnh của biển khơi. Những hàng Queen Palms quanh bờ biển cao thẳng tắp, ngất ngưỡng, ngã nghiêng theo chiều gió lộng. Bầu trời xanh thẳm với nhiều mây trắng đang lững lờ bay ngang. Nhìn sóng nước, biển khơi, mây trời Tuyền chợt thấy lòng bâng khuâng xúc cảm, vì nàng nhận thấy phong cảnh nơi đây gần giống như bờ biển Nha Trang ngày nào. Ôi, Nha Trang, Nha Trang! Cái tên nghe sao thân thiết quá! Nha Trang không phải là quê của Tuyền, là quê hương của chàng. Dù Tuyền chỉ đến đó vài lần nhưng nàng thương mến nó vô cùng vì đó là vùng trời ngọt ngào trong ký ức. Mới đó mà đã mấy mươi năm rồi, thời gian trôi nhanh quá. Kỷ niệm ngày xưa tưởng đã xóa mờ theo cơn sóng trùng dương trôi xa ngoài muôn trùng hải lý, tưởng đã nhạt phai như mái tóc xanh ngày nào giờ đã nhuốm màu sương bụi trắng, tưởng đã lịm tắt theo tuổi xuân tàn úa của Tuyền nhưng sao vẫn còn đây những trăn trở mãi không nguôi. Kỷ niệm ơi, sao nhớ nhung chất ngất, sao lưu luyến vô vàn, sao nỗi buồn cứ mãi dâng ngập trong hồn. Nha Trang ơi! Nơi ấy bây giờ ra sao? Có gì thay đổi không? Có còn những đôi tình nhân ngồi bên nhau trên bờ biển ngắm mây bay, ngắm ánh tà huy nhạt nhòa trong Mây Vẫn Còn Bay 107

109 chiều vắng? Hoặc ngắm trăng treo giữa đỉnh trời rộng mà mơ ước chuyện tương lai như tôi và chàng ngày ấy không? Lần đó là lần thứ hai Tuyền ra Nha Trang thăm Bác Năm. Lúc nhỏ Tuyền đã đi với ông Nội một lần nhưng cô không nhớ gì cả. Lần nầy Tuyền nhất định sẽ đi thăm hết các thắng cảnh của Nha Trang cho thỏa lòng mơ ước về một vùng biển xanh bát ngát. Chiều hôm ấy, Tuyền lang thang một mình ra bờ biển để ngắm hoàng hôn trên biển. Tuyền ngây ngất đê mê trong khung cảnh tuyệt vời đó. Ráng chiều đỏ rực phản chiếu trên mặt biển chập chờn, lung linh màu hổ phách, Những đợt sóng xô đuổi nhau làm nước văng tung tóe lấp lánh như những hạt kim cương đang khiêu vũ. Không khí trong lành, mát mẻ, biển mênh mông, ngút ngàn xa thẳm, bờ cát mịn thoai thoải chạy dài quyến rũ. Xa xa Cầu Xóm Bóng mờ mờ qua làn khói sóng, thấp thoáng những cánh buồm trắng của thuyền đánh cá, thuyền chài, thuyền câu lênh đênh ngoài khơi đang rủ nhau về bến. Tuyền cảm thấy mình ngập chìm trong tuyệt tác của thiên nhiên, không bút họa nào diễn tả hết nét đẹp của biển Nha Trang lúc hoàng hôn buông xuống. Tuyền đi dần xuống mé biển, một cơn gió mạnh chợt thổi qua làm chiếc khăn choàng cổ bằng tơ của Tuyền vụt tung bay ra mặt nước. Không kịp suy nghĩ Tuyền lao theo chiếc khăn định lấy lại vì sợ bị mất. Thình lình một bàn tay cứng rắn nắm cô lại và la lớn: – Cô làm gì thế? Coi chừng té xuống biển đó. Tuyền trả lời ngay mà không quay nhìn lại: – Tôi phải lấy lại cái khăn choàng. – Được rồi, cô đứng đây để tôi lấy giúp cô. Lúc bấy giờ Tuyền quay nhìn lại thì ra là một thanh niên, cô nói: – Vâng, nhờ ông giúp giùm tôi. 108 Đa Hiệu 111

110 Người thanh niên bước mấy bước tới mặt nước chộp được chiếc khăn đưa đến cho Tuyền, khiến cô vui mừng cảm tạ: – Cám ơn ông nhiều lắm. Đây là quà của anh họ tôi bên Pháp gửi về nên tôi rất quý nó. Người thanh niên đưa tay sờ lên cằm mình rồi khôi hài: – Tôi đâu có râu mà sao cô kêu tôi bằng ông? – Dạ, đó là phép lịch sự mà. Nhưng nếu ông không thích thì tôi sẽ gọi bằng anh vậy. Anh ta cười: – Như thế sẽ dễ nghe hơn và tôi cũng không buồn vì nghĩ mình đã thành ông lão rồi. Tuyền cũng cười theo anh và nhìn anh kỹ hơn. Đó là một thanh niên khoảng tuổi, da ngâm ngâm, cao gầy, tóc cắt ngắn, trán rộng. Anh có đôi mắt thật đẹp mang một nét buồn u ẩn, mênh mông xa vắng, dễ thu hút người đối diện. Anh hỏi Tuyền: – Cô làm gì ở đây một mình vậy? Nhà cô gần đây không? – Tôi thích một mình đi ngắm cảnh trời chiều trên biển. Tôi ra đây thăm bác tôi thôi. Quê tôi ở tận miền Tây, chắc anh là dân ở đây? Anh gật đầu: – Vâng! Cha mẹ tôi ở tại thành phố nầy, nhưng tôi đi lính hiện đang đóng quân ở Long Xuyên. Tôi tên Thuần Phong, xin được biết tên cô và cô ở tỉnh nào? – Dạ tôi tên Ngọc Tuyền, tôi ở tỉnh Phong Dinh. – Ồ! Phong Dinh là Cần Thơ mà. Tôi ở gần cô lắm, chúng ta cùng ở Vùng 4 đó. Mây Vẫn Còn Bay 109

112 – Ý, không được đâu, bác tôi không thích. Tôi cũng không muốn bị rầy. Phong nhìn chăm chăm vàotuyền rồi nói: – Cô đã bao nhiêu tuổi rồi mà bác ấy khó khăn với cô như thế? Tuyền phân trần: – Các cụ là vậy mà. Thôi anh về đi, dù sao tôi cũng rất cám ơn anh. – Vâng! Chào cô. Nói xong anh quay gót bước đi. Tuyền cũng lững thững theo lối cũ trở về. Đêm dần xuống, không gian nhạt nhòa, chập choạng, gió ngoài khơi thổi về mang chút nồng nàn của mùi biển mặn. Hàng lá bên đường trổi giọng rì rào, xào xạc hòa cùng tiếng sóng ru buồn của biển, âm vang như một cung nhạc tình cổ điển. Tuyền chợt thấy lòng lâng lâng cảm xúc, không biết có phải vì bãi biển chiều nay thơ mộng quá hay vì đôi mắt u ẩn buồn của chàng trai xa lạ lần đầu tiên gặp gỡ? Hôm sau Phong đến nhà Tuyền rất sớm. May mắn cho Tuyền vì cả nhà Bác Năm vừa đi vắng chỉ có bà vú ở nhà thôi. Phong khẩn khoản muốn được làm hướng dẫn viên đưa Tuyền đi xem phong cảnh của quê hương chàng. Sau một lúc đắn đo và vì nóng lòng muốn chiêm ngưỡng thắng cảnh của miền thùy dương cát trắng nầy nên cuối cùng Tuyền đã nhận lời Phong. Phong đưa Tuyền đi khắp nơi bằng xe Honda, qua từng con đường, từng khu phố và các thắng cảnh. Nào là cầu Xóm Bóng, cầu Hara, đồi Lasan, tháp bà Ponagar, bùng binh Quang Trung, cảng cá đặc biệt là pho tượng Phật trắng nổi bật trên một đỉnh cao. Phong cho biết ở đây còn có Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, và Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Anh luôn miệng giới thiệu, giải thích cho Mây Vẫn Còn Bay 111

114 bất cứ nơi nào chúng muốn, còn chúng ta nhiều lúc tôi cảm thấy như mình bị đóng trong một cái khung nhỏ hẹp, muốn vùng vẫy, muốn thoát ra những ràng buột đó nhưng đành bất lực. Tuy nhiên tôi vẫn biết tôi còn trách nhiệm, bổn phận của người trai thời loạn nên không thể làm gì hơn. Tuyền nhìn Phong thông cảm: – Tâm sự của anh mới nghe qua có vẻ phức tạp nhưng thật sự không có gì khó hiểu. Tôi cũng biết tuổi trẻ của chúng ta có nhiều hoài vọng, ước mơ, muốn bay nhảy trong thế giới mộng tưởng của mình. Nhưng hoàn cảnh của những người trai như anh, những người trai trót sinh ra trong cuộc chiến nầy chỉ có một con đường đi mà thôi, đó là – Là tiến lên phía trước, hô to xung phong và bóp cò súng phải không cô? – Anh nầy thật là – Thôi bỏ qua chuyện đó đi. Chúng ta nói chuyện khác vui hơn. Tuyền định học ngành nào khi vào Đại Học? Tuyền nhìn Phong nhỏ giọng: – Thật lòng Tuyền muốn học về Báo Chí. Nếu là con trai, Tuyền muốn làm Phóng Viên Chiến Trường, nhưng tiếc thay Tuyền chỉ là con gái. Có lẽ Tuyền sẽ thi vào Đại Học Sư Phạm cho an phận một đời thôi. – Sao Tuyền bi quan và chán nản như vậy? Phải phấn đấu để đạt được mộng tưởng chứ. Hoàn cảnh của cô khác hơn tôi mà. – Nhưng có nhiều lúc lực bất tòng tâm, anh ạ! Cả hai cùng cười, sau đó họ lặng yên không nói gì nữa. Phong nhìn mặt biển xanh đang nhấp nhô từng cơn sóng bạc ra ngoài xa bỗng dưng anh cao hứng cất tiếng hát nho nhỏ. Giọng trầm ấm, tha thiết lẫn nồng nàn, Tuyền nhắm mắt lại để tâm hồn hòa theo lời hát của Phong: Nha Trang ngày về. Mây Vẫn Còn Bay 113

116 – Chuyện đó tôi lo được, Tuyền yên tâm đi. Hai người chia tay trở về nhà. Trời vẫn đẹp, nắng chan hoà nhảy múa trên cỏ cây hoa lá, ngoài kia đàn chim hải âu xoãi cánh bay lượn là đà trên sóng nước. Tuyền thấy lòng hân hoan như nhìn thấy mùa Xuân vừa chợt đến. Hai hôm sau Tuyền từ giã gia đình bác Năm để trở về Sàigòn trên chuyến bay quân sự cùng Phong. Bắt đầu từ giây phút đó, Tuyền và Phong trở nên thân thiết như bạn bè lâu ngày. Phong chăm sóc, lo lắng cho Tuyền thật chu đáo khiến cô vô cùng cảm động. Đến Sàigòn Phong đưa Tuyền tới một tiệm ăn trước khi ra bến xe. Tuyền như đứa trẻ đi theo anh, không ý kiến, không phản kháng, riu ríu theo Phong ra Xa Cảng Miền Tây để mua hai vé xe: một về Cần Thơ cho Tuyền, một về An Giang cho Phong. Rồi họ từ giã nhau mỗi người đi mỗi ngã. Phong hứa sẽ đến thăm Tuyền khi có dịp. Tuyền về nhà hai hôm sau nàng nhận được một điện tín của Phong: Anh về đến nơi bình yên nhưng có lệnh đi hành quân. Khi nào trở về anh sẽ báo tin cho Tuyền rõ. Đừng lo cho anh, ráng học hành và giữ gìn sức khỏe. Anh Phong. Tuyền chợt nghe xao xuyến trong lòng. Bỗng dưng anh thành quen thuộc, gần gủi với nàng vậy sao? Không ai nói lời nào tha thiết mà hình như họ đã thiết tha với nhau rồi. Ôi! Chuyện đời khó đoán! Là tiếng sét ái tình chăng? Không đâu, sao lại nhanh như thế. Tuyền thắc mắc trong lòng, không tìm ra câu giải đáp. Rồi mùa nhập học đến, Tuyền không được vui vẻ như những năm trước vì bạn bè tản mác khắp các phân khoa, chỉ còn được ba đứa bạn thân cùng chung lớp. Bù đắp vào nỗi buồn tẻ đó, thỉnh thoảng Tuyền nhận được thư Phong với những lời thân ái, thiết tha, trìu mến. Tuyền chấp nhận Phong như một người bạn chân thành, một người bạn tri âm. Phong đi hành quân Mây Vẫn Còn Bay 115

118 cốt của Quân Đoàn IV, sẵn sàng yểm trợ bất cứ nơi nào trong lãnh thổ Quân Khu 4. Sư Đoàn được mệnh danh là Sư Đoàn Mũi Thép (huy hiệu của Sư Đoàn là số 9 với hai màu xanh, đỏ và hình mũi tên) và còn nhiều chiến công khác chú không nhớ hết. Đó, cháu có thấy hãnh diện vì bạn trai mình đang phục vụ cho Sư Đoàn 9 BB không? – Chú chọc cháu rồi. Cám ơn chú nhiều lắm. Từ hôm nay cháu có thể khoe với bạn bè là mình biết ít nhiều về Sư Đoàn 9 BB. Tuyền chào chú ra về lòng thấy hân hoan và hãnh diện vì Phong. Một buổi chiều cuối Đông, không gian u buồn hiu hắt, mây xám giăng giăng trên bầu trời, lá vàng rơi ngập lối đi, từng cơn gió nhẹ lướt qua làm môi khô se sắt, làm tâm hồn của cô gái đôi mươi thấy cô đơn giá lạnh. Tuyền chợt nhớ đến Phong, vậy mà đã hơn một năm quen nhau rồi. Nàng nhớ đến đôi mắt buồn mênh mông xa vắng của anh, nhớ đến giọng ca trầm trầm nồng ấm, nhớ đến nụ cười thân ái và cái nhìn dịu dàng anh dành cho Tuyền. Chợt có bóng người thấp thoáng ngoài cổng, Tuyền bước ra xem. Nàng bỗng giật mình kinh ngạc vì Phong đang đứng sừng sững trước mặt nàng. Không dấu được nỗi vui mừng Tuyền reo lên: – A, anh Phong. Sao anh tìm được nhà Tuyền? Sao anh về đây được vậy? Phong mỉm cười: – Cho anh vào nhà trước đã. Anh đang mỏi chân quá rồi đây. Vào nhà, Phong nhìn quanh và nói: – Anh về đây công tác vài ngày. Không có ai ở nhà sao em? – Dạ, mẹ em đi chùa tụng kinh tới khuya mới về. Hai em của em thì tới nhà bạn chơi, anh trai em đi lính ở xa. À, về Mây Vẫn Còn Bay 117

120 Vừa nói Phong vừa tiến đến nắm chặt tay Tuyền và hôn lên trán nàng khiến Tuyền bàng hoàng, ngỡ ngàng Tay nàng run lên trong tay Phong, mặt nàng nóng bừng bừng vì đây là lần đầu có người con trai tỏ tình đường đột với nàng như vậy. Qua phút giây xúc động Phong nói nhẹ như hơi thở: – Anh yêu em, Tuyền ạ! Chắc em cũng thừa biết điều đó rồi. Với hơn một năm quen biết, tìm hiểu nhau chắc không gọi là hấp tấp em nhỉ? Những cuộc tình thời chinh chiến là vậy, chúng ta không có nhiều thời gian gần gủi nhau nhưng chúng ta cảm biết được lòng chân thành của đối tượng của mình là đủ. Tuyền không biết nói gì, chỉ mở to mắt nhìn anh ngơ ngác. Phong ôm Tuyền vào lòng và cười nói: – Làm gì mà ngơ ngẩn vậy, cô bé? Tuyền nép đầu vào ngực Phong, lòng ngập tràn hạnh phúc. Từ giây phút nầy, Tuyền biết mình đã có một người trong tim và sẽ cùng chia xẻ vui, buồn với người đó trong suốt đoạn đường tương lai. Phong đưa Tuyền về Câu Lạc Bộ. Sau khi chàng cất hành lý họ cùng ra Hội Quán tìm nước uống và nghe ca nhạc. Ở đây lúc nào cũng đông khách, đó là những người lính chiến, những cặp tình nhân trẻ đến để tâm sự, để tìm khuây khỏa nỗi buồn, niềm đau khi chiến tranh đang bao trùm sông núi. Phong và Tuyền ngồi ở một bàn trong góc phòng mờ khuất. Tuyền nhìn khuôn mặt đậm màu sương gió của Phong mờ mờ, lung linh dưới ánh đèn, đôi mắt chàng buồn diệu vợi làm tê tái hồn cô. Phong đưa tay vuốt nhẹ những sợi tóc lòa xoà trên vầng trán ngây thơ, dễ thương của Tuyền và hỏi: – Nghĩ ngợi gì vậy, cô bé? Có muốn ra nhảy với anh một bản không? – Dạ cũng được. Phong dìu Tuyền ra sàn nhảy trong ánh sáng mờ nhạt của Mây Vẫn Còn Bay 119

121 đèn, trong điệu nhạc rưng rưng sầu hòa cùng giọng ca lê thê, buốt giá của người ca sĩ nghe buồn như cơn gió chiều lướt trên sông vắng: Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa. Cho tôi về đường cũ nên thơ, cho tôi gặp người xưa ước mơ Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau, ôi sao nghìn trùng mãi xa nhau. Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào? Em ở đâu? Anh ở đâu? Có nghe mưa sầu buồn đen mắt sâu ** Vòng tay Phong ôm chặt lấy Tuyền. Nghe hơi thở nhè nhẹ của chàng trên tóc mình, Tuyền ngước nhìn Phong, đôi mắt chàng như chất chứa một trời sầu muôn thuở, đôi mắt nầy sẽ làm nàng nhung nhớ mãi không vơi. Lời Phong nhẹ như gió: – Tại sao cuộc tình nào cũng lắm đau thương thế? Anh mơ ước một mối tình trọn vẹn bên người anh yêu mến. Nói xong Phong cúi xuống hôn nhẹ lên môi Tuyền. Nàng quay mặt thẹn thùng nhưng ứa lệ vì cảm động. Tuyền biết rằng từ nay những giọt nước mắt nầy sẽ còn tuôn chảy nữa. Phong đưa Tuyền về, đêm xuống lâu rồi đường khuya im lìm hiu hắt, sương giăng mờ trên thành phố. Đêm bao trùm vạn vật, đêm ru giấc bình yên cho muôn người trừ hai kẻ yêu nhau đang lang thang dưới trời Đông giá lạnh. Đêm nay Tuyền biết rằng mẹ đang lo lắng và giận dữ vì đứa con gái lần đầu ngỗ nghịch nhưng Tuyền đã chuẩn bị tâm tư và chờ đợi sự trừng phạt, dạy dỗ của mẹ. Tuyền biết rằng nếu nàng không đi với Phong đêm nay thì sẽ không có dịp nào đi cùng chàng được. Vì mai đây Phong sẽ trở về đơn vị, sẽ lao mình vào cuộc chiến, sẽ lăn vào những trận đánh kinh hồn và biết đâu Tuyền sẽ không còn cơ hội gặp lại chàng nữa. Nghĩ đến điều nầy Tuyền chợt muốn khóc, chợt thấy thương chàng thật nhiều và trân quý từng giây từng phút bên chàng. Phong choàng vai Tuyền bước chậm qua các ngã đường vắng lạnh nhưng lòng ấm áp, tim ngọt ngào hương vị tình yêu. Gió khuya vi vu vờn trên vai, trên áo, trên mái tóc còn vương 120 Đa Hiệu 111

122 mùi khói trận của Phong. Vầng trăng hạ tuần đã lên tự bao giờ, vầng trăng nằm bơ vơ cô độc cuối trời xa như báo hiệu giây phút bên nhau sắp hết, Tuyền nhìn Phong thầm nghĩ: Đêm nay anh đưa em về rồi mai đây đường đời mình em một bóng, ai sẽ đưa em về? Phong ơi! Em sợ lắm, sợ một ngày sẽ mất anh, xa anh vĩnh viễn. Hôm sau Tuyền đưa Phong ra bến xe để anh về Long Xuyên. Cả hai ngậm ngùi quyến luyến, những lời tha thiết tạ từ kể sao cho hết trong giờ phút chia tay. Trước khi đi Phong đưa tay chỉ vầng mây bay lờ lững trên bầu trời và hứa với Tuyền: – Mỗi khi nhớ anh em hãy nhìn những đám mây kia. Ngày nào nếu mây vẫn còn bay là anh vẫn còn yêu em, hãy tin tưởng ở anh. * * * Thời gian thầm lặng trôi qua, tình yêu của Phong-Tuyền vẫn nồng đậm qua những trang thư trao gửi. Đến năm 1972 chiến trường trở nên sôi động, Phong đi hành quân đánh trận liên miên. Miền Trung ngập tràn khói lửa, tình thế cấp bách, nguy hiểm. Quê hương, sông núi đang oằn oại, tang thương bởi đạn pháo kích, bởi xe tăng, bởi biển người từ Bắc phương tràn xuống. Tuyền nghe tin Trung Đoàn của Phong được tăng phái cho lực lượng giải tỏa An Lộc và đơn vị của chàng là một trong những đơn vị phối hợp với đoàn quân tử thủ An Lộc của Tướng Lê Văn Hưng. Đó là những ngày tháng kinh hoàng, chấn động trong lịch sử, một mùa Hè ngập trời rực đỏ bởi lửa, máu, xác bạn, xác thù, xác đồng bào cùng chủng tộc Tuyền hoảng hốt, bàng hoàng, lo lắng vì trên các đài phát thanh, báo chí luôn đưa tin về những trận đánh ngoài đó thật kinh hồn, khốc liệt. Bao nhiêu người gục ngã, bao nhiêu chiến sĩ hy sinh. Các đơn vị của QLVNCH vẫn tiếp tục chiến đấu, kẻ đứng lên, người ngã xuống nhưng họ vẫn oai phong, kiên cường không khuất phục. Cuối cùng An Mây Vẫn Còn Bay 121

123 Lộc được giải toả, cổ thành Quãng Trị cờ vàng bay phất phới trong nắng chói chang của mùa Hè. Nhưng rồi Tuyền không được tin tức gì của Phong cả. Nàng tự trách mình quá sơ sót khi không hỏi Phong về địa chỉ nhà chàng ở Nha Trang, không quen biết một người bạn thân nào của chàng trong đơn vị. Giờ đây, nàng không thể dò thăm tin của Phong được, nàng chỉ biết chàng thuộc Sư Đoàn 9BB, Trung Đoàn 15, đóng quân ở Long Xuyên, thế thôi. Tuyền đau đớn, xót xa ân hận. Nàng chạy đi khắp nơi, hỏi thăm nhiều chỗ nhưng vẫn không có ai biết gì về Phong cả. Tuyền chỉ còn biết ngồi nhà cầu nguyện bình an cho chàng và chờ đợi. Hơn một tháng trôi qua, Phong vẫn bặt vô âm tín. Một lần nữa, Tuyền lấy cớ ra Nha Trang thăm Bác Năm nhưng mục đích chính là tìm gia đình Phong để biết tin của chàng. Tuyền nhớ có lần Phong nói nhà chàng trên đường Độc Lập nhưng nàng không biết số nhà. Sau hơn nửa ngày cố gắng dò hỏi, Tuyền không tìm được gia đình chàng, không ai biết gì về họ cả. Buồn bã, tuyệt vọng Tuyền lang thang ra bờ biển, nơi ngày xưa Phong và nàng ngồi bên nhau tâm sự. Cảnh vật vẫn như cũ không có gì thay đổi mà người xưa đã trôi dạt phương nào? Vẫn còn đó hàng dừa xanh nghiêng mình theo chiều gió, bờ cát mịn thoai thoải chạy dài, những mỏm đá cheo leo đợi chờ con sóng và trên cao mây vẫn còn bay và sẽ còn bay mãi đến ngàn năm. Nhưng anh đã về đâu? Ở đâu? Anh đã quên lời hứa ngày nào rồi sao? Anh nỡ bỏ em lại một mình với bao nhung nhớ, đắng cay, đau khổ sao anh? Tuyền nhắm mắt lại Trước mắt nàng là cả một vùng trời đen tối. Nàng ngồi bơ vơ trên gộp đá và có cảm giác như Phong đang ngồi bên nàng, đang vuốt tóc nàng và đâu đây mơ hồ trong hơi gió, âm thanh bài hát ngày nào như còn vang 122 Đa Hiệu 111

124 vọng lại: Đêm xưa biển nầy. Người yêu trong cánh tay. Đêm nay còn cát trắng. Đêm nay còn tiếng sóng. Đêm nay còn trăng soi. Nhưng rồi chỉ còn tôi trên bãi khuya khóc người tình ** Tuyền tuyệt vọng, tan nát cõi lòng khi nghĩ đến Phong, chàng đã tham gia trận đánh oai hùng nhưng bi thương đẫm máu đó chắc khó có hy vọng còn sống sót. Không biết xác thân chàng đã bị vùi chôn dưới những đống gạch điêu tàn đổ nát, hoặc trôi dạt trên dòng sông nào, hay bị vùi lấp nơi ven rừng hóc núi hoang vu? Tuyền thù ghét chiến tranh, oán hận những người xâm lăng gây tang tóc, chia rẻ những mối tình đôi mươi nồng thắm như Tuyền-Phong và không biết bao nhiêu cặp tình nhân trẻ khác. Thượng Đế ơi! Chúng tôi có tội tình gì? Chúng tôi đã làm gì mà cả một thế hệ phải nhận lãnh hết phần đau thương thua thiệt nầy chứ? Tuyền thờ thẫn ra về, bước đi như người mộng du, như loài ốc vô hồn, đôi chân tê buốt nặng nề, chếnh choáng, xiêu vẹo, nước mắt rơi lả tả. Sau lưng nàng gió vẫn vi vu thổi buồn qua mấy hàng cây, sóng biển vẫn rầm rì vỗ về ghềnh đá, mặt biển vẫn xanh màu mơ ước, và trên cao mây trắng vẫn bồng bềnh bay về một phương nào xa xôi vô định Tuyền biết rằng nàng sẽ không bao giờ còn gặp lại người tình yêu dấu của mình nữa. *Biển Santa Monica, một thắng cảnh ở Nam California. **Nửa Hồn Thương Đau – Phạm Đình Chương. ***Nha Trang Ngày Về – Phạm Duy. Mây Vẫn Còn Bay 123

125 ÑAÏI HOÄI VOÕ BÒ AÂU CHAÂU KYØ 13, 2021 Hoàng Tôn Long, K31 Sau những lần bàn thảo và cuộc họp mặt của Liên Hội Âu Châu vào trung tuần tháng , Đại Hội Võ Bị lần thứ 13 đã được quyết định tổ chức tại Cộng Hòa Liên Bang Đức. Sau khi nhận được hợp đồng của Câu Lạc Bộ Thanh Niên, Ban Tổ Chức Đại Hội thành hình vào tháng 11 tại nhà NT Nguyễn Vĩnh Giám K19 và mọi việc chuẩn bị bắt đầu tiến hành. Ngày Sáng sớm tinh sương, quý NT phụ giúp đón người tại phi trường phải lên đường vì đoạn đường trên 200 Km. Hai TTNĐH cũng tất bật ra phi trường để đón các NT đến sớm đưa về hai địa điểm Hotel IBIS Messe và Câu Lạc Bộ Thanh Niên. 13h30: Hai chiếc xe bus của BTC mướn đã đưa tất cả quý NT về Hotel và CLB/TN. Hôm nay tại CLB/TN Bad Homburg, bầu trời quang đãng hứa hẹn những ngày nắng ấm như chia sẻ niềm vui hội ngộ của các CSVSQ Võ Bị đến từ Canada, Hoa Kỳ, và Úc Châu. Tuy phải chia làm hai nơi trú ngụ, nhưng mọi 152 Đa Hiệu 111

126 sinh hoạt hàng ngày đều về CLB/TN để trải bầy tâm sự. Nơi đây, những tiếng mày tao rộn ràng thăm hỏi như thời trai trẻ của những CSVSQ vang lên mừng lần tao phùng hiếm có, dù bây giờ tóc đã bạc màu. Bữa ăn chiều đầu tiên cho ngày hội ngộ, không có thế ngồi gập cằm như thời TKS mà tà tà dân chính như Cán bộ TKS ngày nào, những khuôn mặt chưa từng quen biết nhưng cùng chung mẫu số thân thiện một nhà. Lễ Khai Mạc Đại Hội Âu Châu kỳ 13: vào lúc 20h00 tại phòng họp lớn với nghi thức thường lệ và trang nghiêm. Sau phần khai mạc là chương trình hát Karaoke thu hút đông đảo các chị, còn các NT các khóa có dịp họp bên men bia. Đến hơn 1h00 sáng mà tiếng cụng ly vẫn còn vang lên ở các phòng họp nhỏ. Sinh hoạt của TTNĐH cũng chiếm lấy một phòng để hàn huyên và làm quen với anh chị em đến từ Hoa Kỳ. Ngày Để hưởng một ngày không khí trong lành trên một vùng cao 600m, mọi người tham dự cuộc du ngoạn thăm vài di tích theo từng nhóm 25 người. Qua giải thích bằng Anh ngữ của người hướng dẫn có nhiều kinh nghiệm, mọi người có cơ hội tìm hiểu học hỏi thêm. Buổi tối sau giờ ăn, mọi người cùng nhau chia sẽ những khó khăn trong công việc đôn đốc con em tham gia đoàn TTNĐH, về công ăn việc làm sau khi học xong, rồi tới gia đình v.v Ngày Là một buổi sinh hoạt tự do xuất phố cho quý NT và gia đình ngoài Âu Châu. Riêng LHAC tham dự buổi họp để bầu lại BCH hai khối Đông Bắc và Tây Nam, tiếp theo sẽ bầu Liên Hội Trưởng Liên Hội Âu Châu cho nhiệm kỳ Sau khi chủ tọa đoàn thông qua các điều lệ bầu cử, thời gian cho ứng cử dần trôi qua vì thông thường không ai ứng cử, sau đến phần đề cử thì có hai người được đề nghị là CSVSQ Đại Hội Võ Bị Châu Âu,

127 Hoàng Tôn Long K31 và CSVSQ Đặng Văn Khanh K25 cựu LHT chấp nhận sự đề cử. Sau cuộc bỏ phiếu kín người đắc cử chức vụ LHT/LHAC là CSVSQ Hoàng Tôn Long, K31 Lễ Bế Mạc Đại Hội Võ Bị Âu Châu: Tối ngày 29.7 là buổi lễ Bế Mạc Đại Hội Âu Châu với chương trình văn nghệ của gia đình Võ Bị do cháu Mai Ngọc Sương K10/2 làm trưởng ban văn nghệ. Lễ bàn giao giữa cựu và tân Liên Hội Trưởng dưới sự chứng nhận của Tổng Hội Trưởng THTVBQGVN, thành phần Ban Chấp Hành cũng được tân LHT trình diện như sau: Liên Hội Trưởng: CSVSQ Hoàng Tôn Long, K31 Liên Hội Phó Nội Vụ: CSVSQ Cao Hữu Hiển, K30 Liên Hội Phó Ngoại Vụ: CSVSQ Đặng Văn Khanh, K25 Thủ Quỹ: CSVSQ Hồ Để, K29 Ủy Viên Xã Hội: Chị Đặng Văn Khanh, K25/1 Liên Đoàn Trưởng TTNĐH/AC: Mai Ngọc Sương, K10/2 Liên Đoàn Phó: Hoàng Tuấn Hữu, K31/2 Các chức vụ khác sẽ được LHT bổ túc sau. Ngày Chia tay sau khi ăn sáng cùng nhau, tụ họp lần cuối với những tiếc nuối khi những ngày vui qua mau. BTC đã cám ơn quý NT và gia đình tham dự ĐHAC kỳ 13, đã góp bàn tay cho BTC hoàn thành nhiệm vụ. Kế tiếp, một lời nhận khuyết điểm nếu có điều gì không hoàn chỉnh xảy ra trong lúc điều hành, xin mọi người hoan hỉ bỏ qua. Cuối cùng chúc quý NT cùng gia đình đi du ngoạn được vui vẻ. Và nhất là… Hẹn Ngày Tái Ngộ. Vào đây để lấy hình: zfpuuy4lv9wvms 154 Đa Hiệu 111

128 ÑAÏI HOÄI VOÕ BÒ CHAÂU AÂU, 2021 VAØI HÌNH AÛNH ÑAÙNG NHÔÙ Nghiêm chỉnh chào Quốc Kỳ VNCH trong lễ khai mạc. CSVSQ Hoàng Như Long – K31, CSVSQ Đặng Văn Khanh – K25, CSVSQ Lại Đình Đán – K18 (từ phải). Đại Hội Võ Bị Châu Âu,

129 Một phút mặc niệm để tưởng nhớ những anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do và độc lập cho VNVCH. Hàng thứ hai, từ trái: các CSVSQ Nguyễn Viết Ấn – K24, Đinh Tiến Đạo – K24 Toàn cảnh hội trường 156 Đa Hiệu 111

130 Lễ bàn giao giữa Tân Liên Hội Trưởng (CSVSQ Hoàng Như Long – K31, bên trái) và Cựu Liên Hội Trưởng (CSVSQ Đặng Văn Khanh – K25), với sự chứng kiến của CSVSQ Tsu A Cầu, Tổng Hội Trưởng Buổi hội thảo của Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu. Đại Hội Võ Bị Châu Âu,

131 Lễ rước Quốc Quân Kỳ trong buổi lễ bế mạc. (Từ trái: Các CSVSQ Lâm Văn Rớt – K19, Đinh Văn Thành – K30, Nguyễn Bạch Châu – K30, Phạm Xuân Thiếp – K22.) Ban Chấp Hành mới của Liên Hội Võ Bị Châu Âu: Cô Mai Ngọc Sương -K10/2, Liên đoàn Trưởng Liên Đoàn TTNĐH/AC; các CSVSQ Hoàng Tôn Long -K31, LHT/LHAC; Đặng V. Khanh -K25, LHP/ Ngoại Vụ; Cao Hữu Hiển -K30, LHP/ Nội Vụ; Hồ Đễ -K29, Thủ Quỹ; chị Đặng V. Khanh, Ủy Viên Xã Hội (từ trái). 158 Đa Hiệu 111

132 TIEÅU ÑOAØN 5 NHAÅY DUØ TAÏI TRI BÖU (MUØA HEØ ÑOÛ LÖÛA) Tố Quyên, K16 Chân Thành Cảm Tạ: – Giáo sư Jay Veith đã cung cấp bản đồ khu vực trận địa. – Giáo sư Lê Đình Cai đã cung cấp tài liệu thị xã Quảng Trị. – Các chiến hữu đơn vị trưởng vào lúc đó đã qua điện thoại hoặc điện thư hay bài viết tường thuật thêm nhiều chi tiết quý báu để tôi có thể kể lại diễn biến trận chiến tại Quảng Trị và tại khu vực Trí Bưu năm 1972: Trung Tá Bùi Quyển tại hậu cứ TĐ5 ND vào tháng Đại Tá Trần Quốc Lịch (LĐT/LĐ2ND), Tr.Tá Ngô Như Khuê (TĐT/ TĐ mm), Tr.Tá Nguyễn Phú Thọ (TĐT/ TĐ1/54/ SĐ1BB), Tr.Tá Nguyễn Kim Đễ (TĐT/ TĐ9/ TQLC), Tr.Tá Nguyễn Văn Hiển (Tr. Phòng 3 SĐ/ TQLC), Tr. Tá La Trịnh Tường (TĐT/ TĐ1 ND), Tr.Tá Nguyễn Văn Phán (TĐT/ TĐ8/ TQLC), Tr.Tá Lê Văn Mễ (TĐT/ TĐ11 ND), Tr.Tá Trần Đăng Khôi (TĐT /TĐ7 ND), Th.Tá Nguyễn Lô (TĐP/ TĐ7 ND), Th.Tá Bùi Đức Lạc (TĐT/ TĐ1/PB ND), Th.Tá Phạm Châu Tài (Chiến Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 ND

134 và Tây Bắc tỉnh Quảng Trị. Thị xã Quảng Trị rơi vào tay địch chiều ngày 1/5/1972. Dưới áp lực nặng nề của địch đến chiều ngày 2/5/1972 lực lượng VNCH phải lui về lập tuyến phòng thủ tại bờ Nam sông Mỹ Chánh. Hai Lữ Đoàn TQLC trấn giữ mặt Bắc của Huế ở tuyến sông này. LĐ 258/TQLC của Tr.Tá Ngô Văn Định với 3TĐ (3, 6, 7) TQLC chịu trách nhiệm từ QL1 về hướng Tây, LĐ369/TQLC của Tr.Tá Phạm Văn Chung với 3TĐ (2, 5, 9) TQLC trấn giữ từ QL1 ra tới biển. Tình Hình Chiến Sự Giai Đoạn Tái Phối Trí Và Chuẩn Bị: Ngày 4/5/1972, Tr.Tướng Ngô Quang Trưởng TL/QĐIV được bổ nhậm làm TL/QĐI thay Tr.Tướng Hoàng Xuân Lãm. Cũng trong ngày, Tr.Tướng Lê Nguyên Khang bàn giao chức vụ Tư Lệnh SĐ/TQLC cho Đại Tá Tư Lệnh Phó Bùi Thế Lân. Nhẩy Dù Nhập Trận: Ngày 8/5/1972: Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (LĐ2 ND) gồm các TĐ 7, 9, 11ND, và TĐ1/ PBND, vừa từ mặt trận Kontum rút về Sài Gòn ngày 20/4/72 để nghỉ chỉnh bị và bổ sung quân số, được lệnh ra Huế. Toàn bộ LĐ2 ND bố trí tạm tại khu vực An Hòa ở phía Tây Nam thành nội Huế. Tình hình thị xã rất lộn xộn. Các cư dân Huế hoặc đã bỏ đi Đà Nẵng hoặc đóng cửa nằm yên trong nhà. Trên các con đường chỉ thấy các quân nhân thất lạc đơn vị từ Quảng Trị chạy về. Những người lính này mặc đủ loại sắc phục, quần áo tóc tai bù xù, tác phong bê bối đi lại trên các con đường trong thị xã. Đã có mấy vụ bọn lưu manh mặc quân phục giả làm lính đi cướp bóc. Chợ Đông Ba bị đốt. Để chấn chỉnh tình trạng này, Tướng Trưởng một mặt ra quân lệnh cho phép bắn tại chỗ những quân nhân vô kỷ luật, một mặt chỉ thị cho Đại Tá Trần Quốc Lịch, LĐT/LĐ2ND, sử dụng quân cảnh ND phối hợp với quân cảnh SĐ1 tái lập lại trật tự. Cuối ngày tình hình thị xã Huế ổn định trở lại. Sau Tiểu Đoàn 5 ND

135 đó, Quân Đoàn I biệt phái LĐ2 ND cho SĐ/ TQLC. LĐ2 ND được giao trách nhiệm phòng thủ khu vực từ phía Tây QLI vào vùng cận sơn, trên tuyến dọc theo bờ Nam sông Mỹ Chánh. Ngày 9/5/72: BCH/LĐ2 ND đóng tại trại An Dương Vương ở cây số 17 với ĐĐ111 của TĐ11ND lo bảo vệ BCH/ LĐ. Các TĐND thống thuộc LĐ2 ND đóng tại các ấp Cổ Bi ( ), Lai Thành ( ) nằm khoảng 2km phía Tây Bắc căn cứ Hiệp Khánh, và làng Vân Xá ( ). Ngày 12/5/72: LĐ2ND di chuyển lên phía Nam sông Mỹ Chánh và chịu trách nhiệm khu vực của LĐ258/ TQLC. BCH/LĐ2 ND và TĐ1/ PB ND đóng tại căn cứ Hòa Mỹ (Evans) ( ). (Evans, là căn cứ cũ của SĐ Đệ Nhất Không Kỵ Hoa Kỳ, tọa lạc trên một ngọn đồi có độ cao ước chừng khoảng hơn 30m và cách lộ 601 khoảng 300m). Ngay phía Đông căn cứ là một phi đạo trải nhựa đường, dài hơn 1km theo hướng Nam-Bắc. Từ phi đạo theo lộ 601 đi chừng 1,5km là gập QL1. Từ đây theo hướng Tây Bắc (hướng Quảng Trị) đi chừng 4km là tới cầu Phong Điền, bắc ngang trên con sông Ô Lâu. Các TĐND thuộc hành quân LĐ2ND trấn đóng ở khoảng giữa sông Ô Lâu (nằm ở phía Nam) và sông Mỹ Chánh (nằm ở phía Bắc) và cách QL1 ở phía Tây khoảng 4km. – BCH/TĐ7 ND của Th.Tá Trần Đăng Khôi đóng tại khu vực núi Yên Bầu ( ) phía Tây Bắc khe An Thôn và chịu trách nhiệm về 2 hướng Tây và Nam. – BCH/TĐ9 ND của Tr.Tá Trần Hữu Phú đóng tại khu vực dẫy đồi phía Bắc 1 nhánh của sông Ô Giang ( ) và 162 Đa Hiệu 111

136 chịu trách nhiệm hướng núi Hổ Lầy. – BCH và TĐ11 ND (-) của Th.Tá Lê Văn Mễ đóng tại 1 khu đồi ở hướng Đông Bắc đồi Trần Văn Lý khoảng 1.5km ( ), 2 ĐĐ111 và ĐĐ112 đóng dọc bờ Nam sông Mỹ Chánh. Khoảng giờ, từ QL1 phía Nam sông Mỹ Chánh, Th.Tá Mễ dẫn quân xuất phát từ vị trí bên trái của TĐ2/ TQLC của Tr.Tá Nguyễn Xuân Phúc, tiến quân hướng vào khu vực cận sơn. TĐ tiến quân trên hai trục, TĐT đi bên cánh trái, Th.Tá TĐP Nguyễn Văn Thành dẫn 2 ĐĐ của TĐ đi cánh phải tiến dọc theo con sông. Trên đường tiến quân, TĐ11 ND bị địch dùng các loại súng cối 82mm, cùng hỏa tiễn 107, 122, đại bác 130mm và hỏa lực cơ hữu của bộ binh từ bờ Bắc sông Mỹ Chánh bắn sang. Chấm dứt pháo kích, bộ binh địch ào ạt tấn công cánh quân của Th.Tá Thành tại phía Nam thôn Tân Lương ( ). Pháo Binh ND phản pháo đồng thời dập ngay trên đám VC đang lao vào tấn công ĐĐ111 của Tr.U y Đinh Viết Trinh và ĐĐ112 của Đ.U y Hoàng Ngọc Hùng. Hai ĐĐ này lập tức xung phong phản công. Đám VC trước khí thế mãnh liệt của ND, chúng rút chạy, bỏ lại một số xác trong đó có xác của một cán binh có lẽ cấp TĐ cùng một số vũ khí và 1 máy truyền tin còn đang liên lạc. Sau đó VC lại pháo kích vào BCH/TĐ khiến Th.Tá Mễ bị thương, Th.Tá Thành tạm xử lý thường vụ chức vụ TĐT. Ngày 12/5/1972 một toán viễn thám của LĐ369/TQLC vượt sông Mỹ Chánh mở đầu cuộc hành quân Sóng Thần 5/72 để thăm dò phản ứng địch và lập một đầu cầu cho cuộc hành quân mở ra ngày hôm sau. Ngày 13/5/1972 TĐ3/ TQLC của Tr.Tá Lê Bá Bình và TĐ8/ TQLC của Th.Tá Nguyễn Văn Phán được trực thăng vận xuống khu vực quận Hải Lăng trong khi đó TĐ9/TQLC của Th.Tá Nguyễn Kim Đễ vượt sông Mỹ Chánh đánh lên. Các đơn vị của Tr.Đoàn 66/SĐ304 bị kẹp vào thế gọng kìm Tiểu Đoàn 5 ND

137 của 3TĐ này nên bị thiêt hại nặng nề. Ngày 14/5/72. Từ lúc tạm thời chỉ huy TĐ thay Thiếu Tá Mễ, hằng ngày Th.Tá Thành chỉ giữ ĐĐ114 của Đ.U y Phan Cảnh Cho bảo vệ BCH/TĐ, còn tung cả 3 ĐĐ hành quân lục soát khu vực. ĐĐ111 của Tr.U y Đinh Viết Trinh và ĐĐ113 của Đ.U y Điền Minh Xuyến chịu trách nhiệm lục soát thật sâu vào khu cận sơn. ĐĐ112 của Đ.U y Hoàng Ngọc Hùng được lệnh lục soát kỹ khu vực sát bờ Nam sông Mỹ Chánh. Các ĐĐT đều báo về BCH/TĐ là có nhiều dấu hiệu chứng tỏ VC đang chuẩn bị phục thù. (Chẳng hạn như chúng cắm những lá cờ nhỏ mầu vàng ở một số điểm ven bờ Bắc sông Mỹ Chánh để đánh dấu các trục tiến quân của chiến xa và các đơn vị tăng cường phối thuộc đơn vị chủ lực). Ngoài việc xin các hỏa lực pháo binh cận phòng và ngăn chận các lộ trình địch có thể dùng để tiến quân, Th. Tá Thành lệnh các ĐĐ phải thay đổi vị trí đóng quân mỗi đêm để tránh tai mắt của trinh sát địch luôn bám sát. Khoảng 23:00g, trong khi pháo kích quấy rối các vị trí khác, một đơn vị của Trung Đoàn 66/ SĐ324 tấn công thẳng vào vị trí ĐĐ111 lúc đó đang nằm án ngữ phía Tây. Toán đặc công, thuộc TĐ15 thuộc SĐ304 tăng cường cho Tr.Đ 66 mở đường, lọt được vào khu vực tuyến phòng thủ nhưng đã bị các quân nhân của ĐĐ111 tiêu diệt toàn bộ bằng lựu đạn và cận chiến. SĐ1BB Trong ngày, SĐ1BB của Th.Tướng Phạm Văn Phú nhận lệnh chuẩn bị tái chiếm căn cứ Bastogne. Từ lúc 00:00g cho đến 06:00g, 12 phi vụ B52 bắt đầu liên tục trải thảm bom trên các mục tiêu quanh căn cứ này để dọn đường cho các mũi tiến quân của Tr.Đ3 của Tr.Tá Nguyễn Bùi Quang và Tr.Đ1 của Tr.Tá Võ Toàn. Hỏa lực pháo binh của 18 pháo đội gồm các khẩu 105mm, 155mm, và 175mm từ các căn cứ trong khu vực gần vùng hành quân cũng liên tục rót đạn xuống các mục tiêu chính và phụ trên các trục tiến quân 164 Đa Hiệu 111

140 cánh từ Bastogne đánh xuống, một cánh từ dưới chân cao điểm 100m đánh lên đã dọn sạch các chốt trong khu vực và đã bắt tay nhau. Tr.Đ 3 đã hoàn toàn làm chủ căn cứ Bastogne. Ngày 20/5/72: TĐ3 ND của Th.Tá Trần Văn Sơn, sau khi ở mặt trận An Lộc ra, được tái trang bị và được C130 chở ra Huế. TĐ (-) đóng tại căn cứ Hòa Mỹ với BCH/LĐ2 ND còn ĐĐ32 của Đ.U y Nguyễn Văn Khoái và ĐĐ33 của Tr.U y Nguyễn Hữu Viên được tăng phái cho TĐ11ND. ĐĐ32 trấn đóng về phía Bắc của BCH/TĐ11 ND khoảng 800m ( ), còn ĐĐ33 nằm tại một ngọn đồi cạnh một con lạch nhỏ để chế ngự khúc sông hơi cạn của sông Mỹ Chánh nơi địch có thể lội qua được, cách BCH/TĐ 11ND khoảng gần 1km ( ). Ngày 21/5/72: VC dùng bộ binh cùng chiến xa theo tỉnh lộ 555 từ hướng ấp Vân Trình ( ) tiến thẳng về hướng QL1. ĐĐ/ĐPQ tại Vân Trình chịu không nổi đã phải lui về sau phòng tuyến hơn 2km. Do đó VC đã thọc sâu vào tuyến phòng thủ của TQLC và tấn công bọc phía sau của 2 TĐ3 và 9/TQLC. Hai TĐ này phải tái phối trí lực lượng để trám lại lỗ hổng và ngăn chặn địch. Tuy nhiên, có một nhóm VC đã xâm nhập được vào khu vực phía Nam sông Mỹ Chánh, gây gián đoạn trục lộ tiếp tế cho TQLC từ quận Phong Điền đến phía Đông Bắc phòng tuyến trong mấy tiếng đồng hồ. TĐ39/BĐQ tăng phái cho TQLC được điều động lên tăng cường cho TĐ8/TQLC. TĐ này đang nằm với 2 pháo đội của TĐ 2PB/TQLC tại 3km phía Nam tuyến Mỹ Chánh. Hai đơn vị này đã dọn sạch đám chốt VC tại các khu vực trên QL1 trong buổi chiều. TĐ3/TQLC tối hôm đó đã gửi 1 ĐĐ vượt sông Ô Lâu trấn giữ phía Bắc ấp Vân Trình ( ). Khoảng 23:00g, trong khi địch pháo kích dữ dội trên tuyến của TĐ9/ TQLC, khoảng 30 chiến xa vừa T54, vừa PT76 và BTR50 cùng bộ binh địch từ mặt Bắc và Đông Bắc chia 2 mũi tấn công TĐ3/ TQLC. Tiểu Đoàn 5 ND

141 Phi cơ được gọi tới để thả hỏa châu soi sáng trận địa. Mũi thứ nhất bị TĐ3/ TQLC đẩy lui vào khoảng 03:00g sáng ngày 22/5/72. Địch bỏ lại trước phòng tuyến một số xác và 7 PT76 bị bắn cháy. Một ĐĐ của TĐ3/ TQLC nằm ở phía Bắc làng Vân Trình sau 3 giờ giao tranh với mũi dùi thứ hai của địch đã phải lui về phía Nam sông Ô Lâu khoảng 1km. Ngày 22/5/72 khoảng 04:00g, cánh quân VC thuộc mũi dùi thứ hai tưởng cánh quân kia đã chọc thủng được phòng tuyến của TĐ3/ TQLC nên thọc sâu hơn về phía Nam nhằm tiến đánh vị trí BCH/ LĐ369/ TQLC trong căn cứ hỏa lực của TĐ3PB/ TQLC do TĐ 8/ TQLC, cùng một số chiến xa của LĐ1 Kỵ Binh bảo vệ. Khoảng 06:00g, thì cánh quân này bắt đầu tấn công vào tuyến của TĐ8 và PB/TQLC. Các khẩu 105mm bắt đầu hạ nòng trực xạ còn binh sĩ thì dùng M72 bắn chiến xa. Toán sử dụng hỏa tiễn T.O.W trong căn cứ cũng phóng các trái hỏa tiễn diệt chiến xa. Hai chiếc phi cơ phản lực vào vùng không yểm cũng nhào xuống thả bom và bắn yểm trợ. Địch tháo chạy bỏ lại trên trận tuyến 9 xác T54 và PT76 cùng một số lớn xác địch. Cũng trong ngày này, Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù, vừa từ mặt trận Nam An Lộc rút về Sài Gòn ngày 18/5/72 để chỉnh bị, cũng tức tốc được không vận bằng C130 thẳng ra Huế cùng với các TĐ1 ND, TĐ2 ND, và TĐ2/PB ND. Ngay khi Tr.Tướng TL/SĐ ND Dư Quốc Đống và BTL/SĐ ND ra tới Huế, SĐND được tăng phái Tr.Đ4 của SĐ2 và được giao trấn giữ khu vực giữa SĐ1/BB và SĐ/TQLC. BTL/SĐ ND (-) cùng BCH/LĐ3 ND đóng tại căn cứ Hiệp Khánh ( ). Đây là căn cứ Sally cũ của SĐ Không Kỵ Hoa Kỳ. Các TĐND mới ra trấn giữ khu vực các ấp Vân Xá, Lai Thành và Cổ Bi nằm quanh căn cứ Hiệp Khánh. Ngày 23/5/1972: LĐ147/ TQLC mở cuộc hành quân Sóng Thần 6/72 với TĐ4/ TQLC của Th.Tá Trần Xuân Quang và 168 Đa Hiệu 111

142 TĐ6/TQLC của Th.Tá Đỗ Hữu Tùng được trực thăng vận xuống khu vực thôn Hội Yến ( ) (giao điểm của tỉnh lộ 555 và hương lộ 602), sau đó lục soát dọc lên thôn Cổ Lũy ( ). Trong khi đó TĐ7/ TQLC của Th.Tá Nguyễn Văn Kim được tầu đổ bộ của Đệ Thất Hạm Đội đổ xuống bãi biển Mỹ Thủy ( ), khoảng 10km Đông Bắc quận Hải Lăng. Các đơn vị TQLC hành quân lục soát khu vực này trong 4 ngày rồi sau đó rút về tuyến Mỹ Chánh. Để trả đũa cuộc phản công của TQLC ở hai hướng Bắc và Đông, VC với chiến xa tăng cường đã sử dụng 1 TĐ tấn công TĐ9/ TQLC của Th.Tá Nguyễn Kim Đễ và cùng lúc, dùng 1 TĐ tấn công TĐ1/ TQLC của Th.Tá Nguyễn Đăng Hòa. Hai TĐ9 và TĐ1 nằm tại tuyến Mỹ Chánh trong hệ thống phòng thủ của LĐ258/ TQLC. Trong 3 ngày liên tiếp, cuộc tấn công thí mạng này của VC đã bị đẩy lui và số thương vong của Cộng quân lên đến hàng trăm cán binh CS. Ngày 25/5/72: Các đơn vị của SĐND nhận lệnh gửi người lên học cách sử dụng Hỏa Tiễn T.O.W chống chiến xa (Mỹ mới đưa đến Đà Nẵng ngày 21/5/72 để trang bị cho Quân đội VNCH) và sau đó nhận lãnh một khẩu T.O.W cùng một số đạn mang về cho mỗi TĐND. Ngày 28/5/1972: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm các đơn vị TQLC đang hành quân tại Quảng Trị và gắn cấp bậc Chuẩn Tướng cho Đ.Tá Bùi Thế Lân. Tổng Thống cũng gắn cấp Đại Tá cho Tr.Tá Ngô Văn Định và Phạm Văn Chung. Hai ông Định và Chung là LĐT/LĐ258 và LĐT/LĐ369/ TQLC. Tổng Thống cũng gắn cấp Trung Tá cho Th.Tá Đỗ Hữu Tùng, TĐT/TĐ6/TQLC, và Th.Tá Nguyễn Kim Đễ TĐT/ TĐ9/ TQLC. Đây là 2 TĐ diệt nhiều chiến xa của VC trong mấy trận chiến trước đó. TT cũng gắn một số các cấp bậc khác cho những quân nhân TQLC hữu công còn lại. Ngày 1/6/72: Trong ngày toán viễn thám của ĐĐ2 Trinh Sát của LĐ2ND liên tục báo về địch tập trung khá đông ở Tiểu Đoàn 5 ND

143 phía Tây Bắc tuyến Mỹ Chánh và có 1 đoàn chiến xa địch đang di chuyển nhằm hướng Mỹ Chánh. LĐ2 ND xin phi cơ oanh tạc mấy điểm nói trên vì chúng ở ngoài tầm của 105mm và 155mm. Đ.Tá Trần Quốc Lịch, LĐT/LĐ2 ND dự đoán VC có thể tấn công TĐ11/ ND trong đêm nên đã cho lệnh Th.Tá Bùi Đức Lạc, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1/PB ND, sử dụng toàn bộ hỏa lực PB của TĐ cũng như của pháo đội 155mm tăng phái, tăng cường hỏa lực PB tối đa cho tuyến Mỹ Chánh. Ngày 2/6/72: Khoảng 02:00g, toán viễn thám của ĐĐ Trinh sát 2 ND báo về là chiến xa địch còn cách tuyến Mỹ Chánh khoảng 6km. Pháo binh được lệnh bắn chận song không ghi nhận kết quả. Khoảng 04:00g, ĐĐ32/TĐ3ND của Đ.U y Ng. Văn Khoái nằm bên cánh trái sát tuyến của TĐ11ND báo nghe rõ tiếng chiến xa địch bên kia sông, các pháo đội lại khai hỏa lập tức. Vì trời còn tối nên không rõ kết quả song phía địch hoàn toàn yên lặng. Đến 0430g, ĐĐ33/TĐ3 ND của Tr.U y Ng. Hữu Viên lại báo về BCH/TĐ11 ND là họ đã nghe được tiếng chiến xa địch ngay sát bờ sông. Các pháo đội lại thi nhau tác xạ. Lần này, từ phía bên kia sông địch bắn trả dữ dội. Pháo binh địch bắt đầu rót trên tuyến của Nhẩy Dù. Tiền sát viên PB nằm với ĐĐ111 báo về là 1 chiến xa trước tuyến phía trái của TĐ11 ND bốc cháy. Khoảng 05:50g địch tràn qua bờ Nam Mỹ Chánh và tấn công trên toàn tuyến do 5 ĐĐ ND trấn giữ. Các chiến sĩ Nhẩy Dù chống trả mãnh liệt. Địch ngã rụng hàng loạt trước hỏa lực của các chiến sĩ ND và dưới hỏa lực cận phòng của PB cùng mìn Claymore tại tuyến. Tuy nhiên tại vài khu vực, ta và địch cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn. Vì có mấy đoạn của sông Mỹ Chánh ở khu vực này nước chỉ ngang bụng nên một số chiến xa địch đã lội qua và tràn lên tuyến. Toán cố vấn Mỹ của TĐ11ND đã dùng hỏa tiễn T.O.W bắn cháy 1 T54 ngay khi nó vừa sang đến bờ Nam. Một số chiến 170 Đa Hiệu 111

145 đã triệt thoái về Sài Gòn. Ngày 20/6/1972 toàn bộ LĐI ND được không vận thẳng ra Huế, để chuẩn bị cùng các đơn vị khác tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 72 tái chiếm Quảng Trị. Giai Đoạn Tái Chiếm Thị Xã Quảng Trị. Lam Sơn 72. Cổ thành Đinh Công Tráng và và khu vực Tri Bưu Cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị chính thức khai diễn với hai SĐ tổng trừ bị của Quân lực VNCH là SĐND và SĐ/ TQLC vào lúc 0030g ngày N: 28/6/1972. Chiến dịch Lôi Phong khởi động bằng hỏa tập sấm sét của B52, hải pháo của Đệ Thất Hạm Đội ngoài biển Đông và các loại phi pháo và pháo binh diện địa liên tục trong 2 ngày N-1 và N-2. Mục tiêu gồm những vị trí địch tập trung quân, các kho tàng cơ giới và tiếp liệu cùng những vị trí pháo binh và hỏa tiễn của địch. Vào ngày N, lực lượng VNCH bắt đầu mở cuộc tấn công. Lấy quốc lộ 1 làm trục tiến quân, SĐND chịu trách nhiệm càn quét các vị trí địch tại phía Tây quốc lộ này vào tới vùng cận sơn, còn SĐ/TQLC tiến song song bên cánh phải lực lượng Nhẩy Dù và tấn công các cánh quân của địch ở khu vực phía 172 Đa Hiệu 111

146 Đông quốc lộ 1 ra tới sát bờ biển. SĐND: Sử dụng LĐ3ND với 3TĐ 1, 2, và 3 ND vượt sông Mỹ Chánh tiến chiếm khu vực phía tây QL1 giữa 2 sông Mỹ Chánh và sông Nhung. Ngay sau đó LĐ2ND với 3 TĐ 7, 9, và 11 ND tiến chiếm khu vực Bắc sông Nhung cho đến bờ Nam sông Thạch Hãn. Ngày 27/6/72 : Lực lượng tham chiến hoàn tất việc chuẩn bị. Từ 19:00g từng phi xuất 3 chiếc B52, mỗi chiếc mang theo một số lượng bom hạng trung và nặng, tổng cộng khoảng cân Anh, trải thảm khoảng 5 ô hình chữ nhật, mỗi ô có chiều dài 2km và chiều ngang 1km, để dọn khu vực hành quân của ND và TQLC trên khu vực phía Bắc sông Mỹ Chánh. Trong ngày, TĐ102/Công Binh Chiến Đấu của Th.Tá Ng. Văn Vạn cùng Công Binh ND bí mật làm cầu phao tại 1 khu khuất kín tại bờ Nam sông Mỹ Chánh. Cầu phao phải hoàn tất và được bắc ngang sông Mỹ Chánh trước 01:00g sáng ngày 28/6/72. Ngày 28/6/72: LĐ3ND: Tr.Tá Lữ Đoàn Trưởng Trương Hữu Phước sử dụng TĐ1ND và TĐ2ND, lần lượt vượt tuyến Mỹ Chánh tiến về phía Bắc, dự trù tới bờ Nam sông Nhung, ngang quận lỵ Hải Lăng. TĐ3ND trừ bị cho LĐ trong giai đoạn đầu. Ngay sau khi 2 TĐ1 và 2ND qua sông và bắt đầu tiến quân thì TĐ3ND vượt sông tiến dọc theo QL1 để tiến chiếm cầu Bến Đá trên sông Ô Khê. – TĐ1ND của Th.Tá Lê Hồng vào lúc 01:30g vượt sông và 2 ĐĐ nhanh chóng chiếm căn cứ Nancy ( ). TĐP đi cánh trái di chuyển nhanh chóng trên các dẫy đồi chạy dài theo hướng Tây Bắc của thôn Tân Điền ( ) và bất ngờ tiến vào một vị trí phòng không của VC ( ). Tại đây TĐ tịch thu được 14 khẩu phòng không 37mm và bắt được 5 tù binh là các thương binh đơn vị phòng không của địch. Họ Tiểu Đoàn 5 ND

147 có lẽ bị đơn vị bỏ lại trong đêm tối lúc rút chạy, khi vị trí bị trúng B52 đêm hôm trước. – TĐ2ND lúc 00:30g theo cầu phao vượt sông và nhanh chóng chia làm 2 cánh quân. Tr.Tá Ngô Lê Tĩnh, TĐT, chỉ huy cánh A gồm 3 ĐĐ 20, 21, và 23 tiến qua các triền đồi phía Tây thôn Tân Điền rồi trực chỉ hướng núi Trường Phước. Th.Tá Ng. Đình Ngọc, TĐP, chỉ huy cánh B gồm 2ĐĐ 22 của Đ.U y Ng. Văn Giới và 24 của Tr.U y Lê Tất Bản tiến song song bên cánh trái. Địch tại khu này có lẽ đã bỏ chạy hoặc bị tiêu diệt sau mấy đợt B52 dọn bãi đêm hôm trước. TĐ di chuyển trong đêm nên tránh được tiền sát viên của pháo binh địch đặt tại các đài quan sát trên hai cao điểm Barbara và Động Ông Đô, do đó tránh được địch pháo kích. Khoảng 02:30g, TĐ cho dừng quân và tạm thời bố trí tại 1 ngọn đồi nhỏ ( ). Cánh quân của Th.Tá Ngọc cũng dừng quân tại một đồi nhỏ khác ( ). Khoảng 02:45g, cánh quân của TĐP nghe tiếng động cơ xe tăng từ hướng Tây của vị trí dừng quân. Được lệnh, Tr.U y Lê Tất Bản, ĐĐT/ĐĐ 24 liền cho 1 trung đội tổ chức phục kích trên con đường đất chạy từ phía núi Trường Phước ra. Đúng 03:00g, toán phục kích thấy 3 chiếc T54 lừng lững bò tới. Sau mấy tiếng nổ của M72, Tr. đội phục kích bắn xối xả và xung phong. Một T54 bốc cháy, còn 2 chiếc kia quay xe chạy. Pháo binh đã chuẩn bị bắt đầu tác xạ truy cản. Khoảng 05:00g, toán thám sát của ĐĐ24 báo cáo về là ngoài chiếc T54 bị cháy tại tọa độ ( ) còn thấy 2 chiếc T54 mới nguyên bỏ lại trên đường cách chiếc bị cháy chừng hơn trăm thước, còn đám VC lái xe và tùng thiết đã bỏ xe chạy. Kết quả sơ khởi, TĐ bắn cháy 1 T54 và bắt sống 2 T54 khác. TĐ tiếp tục tiến quân song cũng là lúc pháo địch từ các hướng rót lên đầu 2 cánh quân. Cánh quân của Tr.Tá Tĩnh không tiến thêm được bao xa, trong khi cánh quân của Th.Tá Ngọc lo giữ an ninh cho chi đoàn chiến xa M48 tăng phái cho TĐ vào khu 174 Đa Hiệu 111

148 vực chạm súng lúc mờ sáng để kéo chiến xa. Mấy chiếc M113 của chi đoàn này đã sử dụng dây xích để kéo 2 chiếc T54 còn mới nguyên về trưng bầy tại căn cứ Hiệp Khánh. Khoảng 10:00g, cánh quân của Th.Tá Ngọc tiếp tục bọc sang hướng Tây Nam để tiến về mặt Nam núi Trường Phước. Ngay khi vừa tới gần con suối nhỏ ( ) ở phía Đông Bắc thôn Khe Mương và chẩy vào con sông Thác Ma (dân địa phương quen gọi là sông Mỹ Chánh), đoạn sông nằm ở gần đồi Trần Văn Lý, thì địch bắt đầu pháo kích và từ bên phía Nam con suối bắn sang. Khoảng 11:00g, Tr.U y Lê Tất Bản, ĐĐT/ĐĐ24 tử thương. Tr.U y Trần Hữu Minh, ĐĐP của ĐĐ23 được chỉ định lên thay thế. Khoảng 12:00g, BCH/TĐ2ND được lệnh Lữ Đoàn rút về căn cứ Nancy để thay cho TĐ1ND nhận nhiệm vụ mới. BCH/ TĐ cùng 2 ĐĐ20 và ĐĐ21 rút về căn cứ Nancy trong khi ĐĐ23 của Đ.U y Lê Thơm tiếp tục tiến quân và chuyển sang bên cánh trái, song song với cánh quân của TĐP. – TĐ3ND của Th. Tá Trần Văn Sơn vượt sông Mỹ Chánh lúc 0100g, sau đó toàn bộ TĐ dừng quân đêm ở thôn Lương Điền (1) ( ) trừ bị cho LĐ3. LĐ2 ND: Sử dụng TĐ7ND vượt sông Mỹ Chánh tiến chiếm cây cầu Ngắn trên sông Ô Khê trước 0600g ngày 29/6/72 để làm trừ bị ngay tại mặt Nam cho 2 TĐ9 và 11ND trực thăng vận xuống chiếm khu vực phía Bắc sông Nhung vào sáng ngày 29/6/72. TĐ7ND: Lúc 19:00g, Th.Tá Trần Đăng Khôi, TĐTTĐ7ND, cho lệnh TĐ di chuyển từng người trên chiếc cầu sắt đã gẫy đổ bắc ngang sông Mỹ Chánh để qua sông và nhường chiếc cầu phao cho các đơn vị thiết giáp sử dụng đưa chiến xa M 41 và thiết vận xa M113 sang bờ Bắc.TĐ7 mất gần 4 giờ qua sông. Chỉnh bị xong đội hình TĐ bắt đầu tiến quân vào khu vực phía Nam thôn Lương Điền 1( ) ven QLI đúng nửa đêm. Tiểu Đoàn 5 ND

150 TĐ7ND: Từ 00:01g TĐ tiếp tục tiến quân qua thôn Tân Trường ( ) sau đó vào thôn Trường Vinh ( ). Khi cánh quân đầu của TĐ tiến chiếm và trấn giữ cầu Ngắn trên sông Ô Khê thì trời vừa sáng. TĐ sau đó tiến quân lục soát thôn Trường Sanh. – Khoảng 09:00g, Đại Tá Trần Quốc Lịch, LĐT/LĐ2ND, cùng BCH và ĐĐ/Trinh Sát 2 di chuyển lên thôn Trường Sanh nằm ngay phía Bắc cầu Ngắn. Hai TĐ9 và 11ND nhận lệnh BCH/LĐ chuẩn bị hành quân trực thăng vận vào vùng đã ấn định. Ngày 30/6/72 LĐ3 ND: BCH/LĐ và TĐ2/PBND di chuyển lên đóng tại Nancy. – TĐ1 ND đưa 1ĐĐ lên trấn giữ khu vực thôn Trường Xuân và lục soát vùng phía Nam sông Ô Khê. – TĐ2 ND: Tiếp tục nhiệm vụ ngày hôm trước, tiến chiếm thôn Trường Thọ ( ) Tại khu vực này, TĐ tìm thêm được một số vũ khí gẫy và cháy chắc do bị pháo binh và bom hủy hoại mấy ngày trước. – TĐ3 ND tiếp tục vào lục soát dọc QL1 cũ qua các thôn Giáp Hậu để tiến lên khu vực thôn Diên Sanh của quận lỵ Hải Lăng. Ngày 1/7/72 LĐ3 ND: Hai TĐ1 và 2ND lo củng cố vị trí và mở rộng khu vực kiểm soát. TĐ3 ND tiếp tục hành quân tảo thanh dọc QL1 cũ để tiến chiếm mục tiêu cuối giai đoạn I là quận đường Hải Lăng. Ngày 2/7/72 LĐ3 ND toàn bộ 3 TĐ ứng chiến tại chỗ cho 2 TĐ9 và 11ND trực thăng vận xuống phía Bắc sông Nhung. LĐ2 ND chỉ huy 3 TĐ thống thuộc hành quân tiến chiếm Tiểu Đoàn 5 ND

151 khu vực Bắc sông Nhung theo kế hoạch sau: – TĐ7 theo đường bộ vượt qua Hải Lăng và tiến về thôn Thượng Xá ( ) – TĐ9 trực thăng vận xuống phía Bắc sông Nhung để tiến chiếm thôn Trường Phước ( ). – TĐ11 trực thăng vận xuống khu vực phía Đông thôn Mai Đẳng (2)( ) để tiến chiếm khu vực đường rầy xe lửa phía Bắc sông Nhung. – TĐ7 ND được Th.Tá Trần Đăng Khôi điều động theo hai bên QL1 tiến ngang khu vực thôn Diên Sanh ( ), qua thôn Mai Đẳng (2) ( ) rồi tiến chiếm khu vực thôn xóm hai bên QL1 thuộc thôn Thượng Xá ( ) rồi qua thôn An Thái ( ). Dọc đường tiến quân chạm địch nhẹ. – TĐ9 ND: Sau khi pháo binh bắn dọn bãi ở bờ Bắc con sông Nhung, đoàn trực thăng chở Th.Tá Ng. Văn Nhỏ, TĐP, cùng 2 ĐĐ92 và 93 xuống bãi thì một loạt đạn PB rơi trên bãi khiến đoàn trực thăng sắp đổ quân phải rời LZ (bãi đổ quân) ngay. Khoảng hơn một tiểu đội của hai chiếc trực thăng đầu mới nhẩy xuống đã bị thương mấy người. Đoàn trực thăng được lệnh thả đơn vị xuống 1 bãi khác ở phía Nam sông Nhung và cách mục tiêu (làng Trường Phước) khoảng hơn 500m về hướng Nam sông Nhung. Khi cánh quân này vừa tiến tới bờ lũy tre của một con suối nhỏ thì bị một toán VC bắn vào đội hình rồi bỏ chạy. Tại bờ lũy tre này một trung đội của ĐĐ92 đã tìm được 3 khẩu phòng không 37mm và nhiều thùng đạn. Súng bị bom phá hư hỏng chắc của VC bỏ lại sau mấy đợt B52 từ ngày 28/6/72 và những ngày sau. Hai ĐĐ tiếp tục tiến chiếm được bờ Nam sông Nhung. Trong khi đó Tr.Tá Trần Hữu Phú, TĐT, được trực thăng vận xuống giữa khu vực 2 thôn Xuân Lâm và Trường Phước ( ) và bị địch pháo trực xạ khiến Tr.U y Lê Ngưu ĐĐT/ĐĐ94 bị mảnh đạn trúng cằm tử thương, Tr. U y Tạ Duy 178 Đa Hiệu 111

153 – TĐ7 ND: Từ thôn Đại Nại, TĐ tiến bọc lên phía Bắc thôn Long Hưng rồi tiến vào khu vực chi khu Mai Lĩnh. Bắt đầu vào thôn Thạch Hãn là chạm mạnh. TĐ phải lui về bố trí tại phía Đông con lộ từ Ngã ba Long Hưng ( ) chạy lên chi khu Mai Lĩnh để phi cơ và pháo binh oanh pháo kích vị trí địch. – TĐ9 ND: ĐĐ92 và 93 tiếp tục tiến chiếm thôn Thượng Nguyên rồi tiến xuống phía Nam lục soát những xóm nằm rải rác của thôn này chạy dài tới bờ Bắc sông Nhung. Chạm địch nhẹ, mấy toán VC ở đây có lẽ của địa phương nên chỉ sau một đợt hỏa tập PB và ND xung phong là bỏ chạy. Địch từ hướng đồi 90 pháo kích dữ dội trên đội hình tiến quân song không gây nhiều thương vong cho TĐ. Cổ thành Quảng Trị cuối cùng đã được chiếm lại vào giữa tháng 9/ TĐ11ND TĐ tiến quân dọc theo đường rầy xe lửa về hướng Bắc. ĐĐ111 tiến chiếm thôn La Vang Thượng ( ) và La Vang Tả ( ) trong khi ĐĐ112 của Trung U y Hoàng Ngọc Hùng tiến chiếm La Vang Hữu ( ) và La Vang Chánh ( ). ĐĐ111 hạ 2 T54 giữa La Vang Thượng và La Vang Tả còn ĐĐ112 bắn cháy 1 T 54 ngay gần cổng nhà thờ chính La Vang. Địch bỏ chạy về hướng nhà ga Quảng Trị bỏ lại một số xác tại khu vực giao tranh và mấy xác chết cháy trong chiến xa. Thơ từ tìm thấy trong mấy tử thi cho biết toán VC trấn đóng đây thuộc TĐ3 Tỉnh đội Quảng Trị. TĐ đóng quân đêm tại La Vang. Trong đêm, địch quân pháo kích vào La Vang. 180 Đa Hiệu 111

154 Ngày 4/7/72 LĐ3 ND: Ba TĐ1, 2, và 3 nhiệm vụ như ngày hôm trước. LĐ2 ND: – TĐ7 ND: TĐ vẫn giằng co với địch tại khu vực thôn Thạch Hãn mặc dù được không pháo yểm. Có lẽ đây là cửa ngõ vào thị xã QT nên VC luân phiên tăng viện từ trong Cổ Thành ra để cố thủ. – TĐ9 ND: ĐĐ91 của Đ.Uý Trần Ngọc Chỉ được tăng cường 1 chi đoàn chiến xa M 48 tiến đánh vùng núi Tân Téo ( ), ĐĐ92 của chúng tôi Tường đánh chiếm các ngọn đồi nằm trên dẫy cao địa chạy dài về hướng Tây. Tuy chốt của địch trên các hướng tiến quân của đơn vị không nhiều nhưng đủ loại pháo của cối 61mm, 82mm, và đại bác 130mm cùng đủ loại hỏa tiễn 107mm và 122mm từ trên các cao điểm phía Tây QL1 và bên kia sông Thạch Hãn rót sang nên đà tiến quân của đơn vị rất chậm. – TĐ11 ND: Dù được phi cơ và PB yểm trợ tối đa song 2 ĐĐ111 và 112 vẫn không tiến chiếm được làng Tích Tường và nhà ga. VC luôn tăng viện, và pháo 130mm cùng hỏa tiễn 107 và 122m gây khó khăn cho 2 ĐĐ này rất nhiều. Trong thời gian 1 tuần lễ, 6 TĐND đã đội pháo từ tuyến sông Mỹ Chánh mà đi, đã diệt và đẩy lui không biết bao lần địch phản công được T54 tăng cường cùng với mọi loại pháo nặng, chỉ để tiến đến gần sát sông Thạch Hãn và chuẩn bị chiếm lại khu thành cổ trong thị xã. Với độ dài chặng đường khoảng hơn 18 km đường chim bay và với bề ngang dàn quân khoảng từ 4 km đến 5km, người lính ND (mang trên người đủ thứ, trọng lượng gần 30kg) đã lướt đi trên một diện tích 45km vuông thì cũng kể ra là nhanh. Ngày 7/7/1972 TĐ3 ND: Sau 5 ngày vừa tiến quân lục soát vừa bứng chốt địch dọc QL1 cũ, sau khi Đ.U y Khoái, ĐĐT/ĐĐ32 bị thương Tiểu Đoàn 5 ND

156 được trực thăng đổ xuống tại khu này. ĐĐ/2TS lo bảo vệ BCH/LĐ và BCH/TĐ1/PB ND tại khu ngã ba hương lộ 602 và QL1 gần nhà thờ Hải Thọ ( ). Ba pháo đội lập vị trí dã chiến tại các rìa cánh đồng ven các xóm ở phía bắc và nam QL 1 và sẵn sàng tác xạ yểm trợ cho các TĐ thống thuộc hành quân LĐ. LĐ3 ND – TĐ3 ND: Sử dụng 1 ĐĐ phòng vệ cho 3 Pháo đội của TĐ1/PBND. 2 ĐĐ lục soát về hướng đông bắc hương lộ 602. TĐ5 ND NHẬP TRẬN. Ngày 20/6/1972 TĐ5 ND được không vận bằng C130 từ Sài Gòn ra Huế và về đóng quân tại làng Vân Xá, quận Phong Điền. Tại đây, TĐ huấn luyện những tân binh mới được bổ sung sau trận An Lộc để chuẩn bị cho trận chiến sắp tới. Ngày 27/6 72 TĐ5 ND di chuyển lên đóng tại khu vực căn cứ Nancy ( ) ở ngay phía Bắc sông Mỹ Chánh. TĐ5 ND cùng TĐ6 và TĐ8 ND thống thuộc LĐ1 ND trừ bị trong giai đoạn đầu của chiến dịch Lam Sơn 72. Tình Hình: 1/Khu Vực Hành Quân Thị xã Quảng Trị: Với dân số gần 3 vạn người, thị trấn nhỏ bé của tỉnh địa đầu giới tuyến chỉ rộng độ hơn 2km vuông. Phía Tây thị xã là con sông Thạch Hãn đổ ra Cửa Việt. Hương lộ 560 từ hướng Cửa Việt chạy về ngang thôn Bích Khê thuộc quận Triệu Phong rồi qua cây cầu ngang chợ Sãi, bắc ngang qua sông Vĩnh Định qua xóm Hà, kế cặp theo sông Thạch Hãn chạy xuống nối vào con đường Gia Long của thị xã, rồi tiếp tục xuôi Nam cắt QL1 gần cầu Ga rồi chạy xuống 2 thôn Tích Tường và Như Lệ. Phía Nam thị xã là QL1. Đường xe lửa xuyên Việt nhập cùng QL1 tại cây cầu Quảng Trị (dân quen gọi là cầu Ga) bắc ngang sông Thạch Hãn rồi cả hai con đường cùng theo hướng Tây Bắc qua Nhan Biều, Ái Tử để đi Tiểu Đoàn 5 ND

158 từ khu vực núi Trường Phước qua cao điểm 367m đến Động Chiên Giong. Hai Trung đoàn 24 (tên cũ là 57) và 66 trấn giữ khu vực phía nam Động Ông Đô, cao điểm 105m và khu vực Động Tiên. – SĐ308 của Nguyễn Hữu An: BCH/SĐ tại núi Chùa Nga, Trung Đoàn 36 trách nhiệm thôn Tích Tường, Như Lệ và khu núi Tân Téo. Trung Đoàn 88 từ Thôn Đá Đứng đến Khe Trai. Trung Đoàn 102 trừ bị nằm giữa Động Ông Đô và Núi Chùa Nga. – SĐ312 của Lã Thái Hòa: được đưa vào tăng cường chịu trách nhiệm khu vực hữu ngạn sông Thạch Hãn. Trung Đoàn 141 nằm từ thôn Ngô Xá tới Nại Cửu. Trung Đoàn 209 khu Phước Môn, Tánh Lê. Trung Đoàn 165 trừ bị tại Phượng Hoàng (cc Pedro cũ). – SĐ320B của Sùng Lãm được đưa vào tăng cường, chịu trách nhiệm khu vực quận Triệu Phong (từ Tây Bắc Vĩnh Định tới Cửa Việt). Trung Đoàn 27 vùng Đông Hà, Động Lôn, Quai Vạc. Trung Đoàn 48 (Quang Sơn) của Trung Tá Lê Quang Thúy trong Cổ Thành Đinh Công Tráng. Trung Đoàn 64 tại Cam Lộ, Định Xá, Bái Sơn. Trung đoàn này tăng phái Tiểu Đoàn 9/64 cho Trung Đoàn SĐ325 của Thượng Tá VC Lê Kích: đặt BCH tại thị xã Đông Hà. Trung Đoàn 101(Thép Thô) của Trung Tá VC Bùi Đức Ngoan lúc đầu ở quanh Đông Hà và Cam Lộ, sau rời vào thôn Đầu Kênh, xã Triệu Lâm, quận Triệu Phong. Trung Đoàn 95 chịu trách nhiệm vùng Rào Vịnh, thôn Nhan Biều và Ái Tử, Trung Đoàn 18(-) tại thôn Trung Kiên và Minh Hương tại tả ngạn sông Thạch Hãn. – Trung Đoàn 164 Pháo (100mm và 85mm) tại Phú Hậu, Thượng Nghĩa, và Trúc Lâm tại khu vực phía Bắc Đông Hà, yểm trợ trực tiếp cho SĐ 320B và SĐ Trung Đoàn 45 Pháo (130mm) vào thay Trung đoàn 38 ngày 12/7/1972 tại khu vực cao điểm 235m, trực tiếp yểm trợ Tiểu Đoàn 5 ND

159 cho SĐ 304 và SĐ Trung Đoàn 243 Phòng Không tại khu vực Bến Than. – Trung Đoàn 250 Phòng Không tại Phương Thủy, Kim Tát, Tân Vĩnh, Động Lớn. – Trung Đoàn 280 Phòng Không tại Mai Lộc và Làng Nút. – Trung Đoàn 203 Chiến Xa (-) tăng cường cho SĐ325 nằm tại Bắc sông Thạch Hãn, còn 1 TĐ tăng cường cho SĐ Trung Đoàn 202 chiến xa (-) trừ bị nằm tại khu vực Thái Thủy, còn 1 TĐ tăng cường cho SĐ 320B. Khu Vực Thị Xã Quảng Trị. Trung Đoàn 95/325 đảm nhiệm. Trung đoàn này được tăng cường TĐ 7/18/325 và TĐ 8/64/320B lo khu vực thị xã. Khu Vực Cổ thành – Trung đoàn 48/ 320B và TĐ 3 cùng TĐ 8 địa phương của B4 trách nhiệm. BA N. I/ SƯ ĐOA N NHÂ Y DU : BTL đặt tại căn cứ Hiệp Khánh (Sally) gần cây số 17. BCH/PB ND tại căn cứ Sally. TĐ1PB ND tăng phái cho LĐ2 ND. TĐ2PB ND tăng phái cho LĐ3 ND. TĐ3PB ND tăng phái cho LĐ1 ND. BCH/LĐ3 ND tại căn cứ Nancy ( ) với các tiểu đoàn: TĐ1 ND đang trấn giữ khu vực phía tây QL 1 từ sông Mỹ Chánh tới sông Ô Khê. TĐ2 ND đang trấn giữ khu vực tây QL 1 từ sông Ô Khê tới sông Nhung. TĐ3 ND đang trấn giữ khu vực quận lỵ Hải Lăng. 186 Đa Hiệu 111

160 BCH/LĐ2 ND tại quận lỵ Hải Lăng với các tiểu đoàn: TĐ7 ND của Th.Tá Trần Đăng Khôi hành quân tại khu vực thôn Thạch Hãn. TĐ9 ND của Tr.Tá Trần Hữu Phú hành quân khu vực giữa núi Tân Téo ( ) và thôn Phú Long ( ). TĐ11 ND đang trấn giữ khu La Vang và hành quân khu vực gần khu nhà Ga QT BCH/LĐ1 ND trừ bị tại căn cứ Hòa Mỹ [Evans ( )] với các TĐ: TĐ6 ND trấn giữ khu vực Bắc sông Ô Lâu và Tây QL1. TĐ8 ND trấn giữ khu vực Nam Mỹ Chánh gần đồi Trần Văn Lý. TĂNG PHA I – Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù tại trại An Dương Vương. Các biệt đoàn tăng phái cho LĐ3 ND và LĐ2 ND. – Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh và Thiết Đoàn Chiến Xa (-) tăng phái cho LĐ1 ND và LĐ2 ND. – TĐ pháo binh 155mm. – TĐ102/Liên Đoàn 10 Công Binh. – Liên Đoàn 1 ĐPQ Quảng Trị tăng phái cho LĐ3 ND và LĐ2 ND. II/ SƯ ĐOA N TQLC: BTL tại Hương Điền với 3 LĐ/ TQLC trực thuộc, tiến song song với SĐND, chịu trách nhiệm khu vực từ phía Đông QL1 ra tới biển. III/ KHÔNG PHA O YÊ M. – Pháo Yểm: Tiểu Đoàn 101 Pháo binh cơ động 175mm (12 khẩu) của Quân Đoàn I: BCH/TĐ và 1 PĐ tại trại An Dương Vương ( ) và 1 PĐ tại căn cứ Hòa Mỹ (Evans) yểm trợ SĐ/ND. Tiểu Đoàn 5 ND

161 Sau khi các đơn vị ND vượt sông Mỹ Chánh và chiếm quận lỵ Hải Lăng thì 1 pháo đội lên nằm tại căn cứ Mỹ Chánh (Nancy) yểm trợ SĐND và 1PĐ lên nằm tại quận Hải Lăng, yểm trợ SĐ/ TQLC. Một PĐ tại căn cứ Bình Điền (Birmingham) gần khu lăng Minh Mạng, yểm trợ SĐ1 BB. – Không Yểm : SĐ1 KQ tại Đà Nẵng. – Không Pháo Yểm: Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. (còn tiếp) Một đơn vị Dù tại Quảng Trị, Đa Hiệu 111

162 Mai Veà Ñaø Laït Tặng một người ở Đà Lạt – nđg Nguyễn Đông Giang, K19 Cho dù đời đã hoàng hôn Mai về Đà lạt, biết còn em không? Mai về, nhặt chữ tang bồng Đánh rơi, nên mới non sông đỏ màu Mai về, Đà Lạt còn đau Ghé thăm trường Mẹ, bù ngày nhớ thương Mắt em, đâu phải hồ trường Mà làm xã tắc, tang thương đổi dời! Mai về Đà Lạt, em ơi! Thăm hồ Than Thở, còn lời em xưa Lâm Viên cuối Chạp, trời mưa Anh lên đỉnh núi, đúng mùa Noêl Hòa Bình, còn đó hở em? Xưa ta dạo phố anh quên đường về Bây giờ, anh đã sơn khê Xa bao sông biển, chưa về cố hương! Anh đi, Đà Lạt mù sương Bao mùa gió chướng, vô thường thổi qua Mai nầy, về lại quê nhà Có nhìn ra được, quê Cha của mình? Nước non nghìn nỗi điêu linh Mai về dù đã, đời mình hoàng hôn Đà Lạt, còn ở trong hồn Đã theo anh suốt, cuộc bôn tẩu nầy. Mai Về Đà Lạt 189

163 Khoùa 17 vaø Khoâng Quaân Bắc Đẩu Võ Ý, K17 Vào trung tuần tháng 11 năm 1960, hơn hai trăm thanh niên khắp các tỉnh thành miền Nam đã hội tụ về thành phố sương mù Đà Lạt để tình nguyện gia nhập Khóa 17 (K17) Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (VBQGVN). Ngày 30 tháng 3 năm 1963, 180 tân sĩ quan của K17 tốt nghiệp Thiếu Úy Hiện Dịch, trong đó có 30 sĩ quan đã được tuyển qua Không Quân (KQ) từ năm học thứ 2, vào năm Mùa xuân năm 1962, Bộ Tư Lệnh KQ (BTLKQ), đề cử một số sĩ quan Không Quân lên Trường Võ Bị Đà Lạt thuyết trình về tổ chức, hoạt động của KQ Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tự vệ, để chiêu mộ một số Sinh Viên Sĩ Quan K17 (SVSQ) chọn quân chủng nầy. Hơn một trăm SVSQ K17 ghi danh chọn KQ. Thời gian ngắn sau, BTLKQ đưa máy móc, thiết bị lên Quân trường để kiểm tra (TEST) về khả năng phản ứng tay chân của 100 SVSQ đã ghi danh. Hình như khoảng 70 SVSQ qua (pass) được TEST nầy. Không lâu sau, 70 vị được mời về Trung Tâm Giám Định Y Khoa trong căn cứ KQ Tân Sơn Nhứt để khám nghiệm sức khỏe tổng quát, tai mắt mũi họng, và tim gan phèo phổi. Mọi 190 Đa Hiệu 111

165 tác động của gió (khí động học), sức nâng, sức cản, công dụng của bình ổn ngang, bình ổn đứng, cánh cản, cánh phụ, v.v Mỗi khóa sinh phải học bay với huấn luyện viên (instructor pilot) trung bình từ 10 đến 15 giờ bay. Các cựu HLV hoa tiêu phi cơ T41, Nguyễn Duy, K17 (Houston) và Nguyễn Văn Phúc, (Quận Cam) cho rằng, phải mất từ 25 giờ đến 30 giờ mới được thả bay một mình, còn gọi là bay solo. Khi thả học trò solo, coi như thầy tin tưởng vào khả năng bay bổng an toàn (safety first) của học trò của mình. (3) Buổi lễ mãn khoá 17, vào ngày 20 tháng 3 năm Các tân sĩ quan đang nhận lãnh cấp bậc thiếu uý từ các sỉ quan của TVBQGVN. Ngày thả bay solo là một ngày khởi đầu vô cùng trọng đại của một phi công. Ngày đó, học trò (một mình một tàu) cất cánh và đáp liên tục 3 lần. Sau lần đáp thứ 3 (full stop) coi như xong và học trò taxi phi cơ (di chuyển) về bến đậu. Nếu phi vụ solo diễn ra tốt đẹp, nghĩa là safety, học trò sẽ nhận nghi lễ truyền thống là được thầy của mình dội một xô nước lạnh lên đầu! Những tháng sau, khóa sinh học bay hoàn bị như điều khiển phi cơ quẹo gắt bên trái bên phải, bay lượn thành hình số 8 (lazy eight), lấy lại thăng bằng khi phi cơ bị triệt nâng (stall 192 Đa Hiệu 111

166 recovery). Thêm vào đó là học kỹ thuật đáp sân ngắn gió ngang, cất cánh trên sân ngắn, tập bay đêm, bay phi cụ (instrument flight) để có thể bay trong mây, trong mưa, ban đêm hay khi trời mù. Bài học quan trọng nhất vẫn là thực tập đáp khẩn cấp (emergency landing) trong trường hợp phi cơ gặp trục trặc kỹ thuật. Sau cùng học cách lập một phi trình để bay du hành (cross country) từ điểm A đến điểm B, điểm C Sau 5 tháng học bay (từ tháng 8 đến tháng 01/1964), 30 Thiếu úy Khóa 17 Lê Lai Trường Võ Bị Quốc Gia tốt nghiệp thành 30 hoa tiêu quan sát trên phi cơ U17 hay còn gọi là Cessna 185. Sau ngày tốt nghiệp, 30 tân phi công được chuyển về căn cứ Không Quân Biên Hòa để tiếp tục học bay hành quân trên phi cơ bird dog Mỹ (phi cơ O1- hay còn gọi phi cơ L19 hay máy bay bà già) trong vòng 1 tuần với các hoa tiêu của Lục Quân Mỹ (Army Aviation). Sau một tuần học bay hành quân trên O1 (L19), 30 phi công Khóa L1 KQ Nha Trang sẵn sàng tung cánh. Họ được phân phối về 03 Phi Đoàn Quan Sát bấy giờ (1964), là: Phi Đoàn 110 (Đà Nẵng): Lê Hoành Anh, Nguyễn Duy Diệm, Lê Sĩ Thắng, Hoàng Đức Thịnh, Bùi Văn Lợi, Trần Minh Vũ, Võ Ý. Phi Đoàn 112 (Biên Hòa): Nguyễn Hữu Xuân, Lê Hữu Trí, Cao Ngọc Quang, Nguyễn Văn Hoàng, Võ Phi Hổ, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Quang Kim, Huỳnh Văn Tòng, Trần Bạch Thanh. Phi Đoàn 114 (Pleiku): Nguyễn Duy, Nguyễn Xuân Tám, Nguyễn Văn Xuân, Hà Thuyên, Vũ Khắc Huy, Dương Thanh Long, Nguyễn Phụng. Khoảng đầu năm 1965, Phi Đoàn 114 chuyển về Nha Trang, đồng thời Phi Đoàn 116 được thành lập và đặt tại căn cứ KQ Trà Nóc, Cần Thơ. Khoá 17 và Không Quân 193

168 Khi các KQ gốc Đà Lạt được bổ nhiệm về đơn vị, các staff (tham mưu) của phi đoàn (phi đoàn trưởng, phi đoàn phó, trưởng phòng hành quân, sĩ quan an phi, sĩ quan huấn luyện) không mấy chiếu cố. Bởi vì, trên thực tế, các vị staff đó có khi mang cấp chuẩn úy, hoặc thiếu úy giả định, trong khi các KQ gốc Đà Lạt mang thiếu úy thực thụ, hai năm sau tự động thăng cấp trung úy! Trên lãnh vực chuyên môn (bay bổng) và kinh nghiệm chiến trường thì các vị staff coi như dày dạn hơn các ông thiếu úy Đà Lạt, nhưng trên lãnh vực lãnh đạo chỉ huy thì mấy KQ gốc Đà Lạt được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp hơn. TTHLKQ Nha Trang tuyển mộ hằng năm để đào tạo thành hoa tiêu, quan sát viên hay chuyên viên kỹ thuật Khi các SVSQ/KQ nầy tốt nghiệp dù ở Mỹ hay tại Nha Trang, họ tự cho mình là Không Quân truyền thống, nghĩa là từ dân sự vào không quân, được không quân đào tạo thành Không Quân truyền thống! Như vậy có nghĩa là, khi các sĩ quan tốt nghiệp tại các trường bộ binh (như Võ Bị Đà Lạt hay Bộ Binh Thủ Đức) mà chuyển qua Không Quân, được Không Quân đào tạo thành hoa tiêu hoặc quan sát viên, họ được xem là Không Quân lai giống! Chắc hẳn thượng cấp đã có kế hoạch trẻ trung hóa các Quân Binh chủng của Quân Lực VNCH nên mới tuyển các SVSQ Trường Võ Bị Đà Lạt qua Hải Quân và Không Quân sau khi tốt nghiệp, kể từ Khóa 16. Một điều khẳng định là, khi một thanh niên dân sự được đào tạo 4 năm để trở thành cấp chỉ huy trung đội trưởng bộ binh trên cả hai lãnh vực về quân sự lẫn lãnh đạo chỉ huy, vẫn tốn kém hơn đào tạo một phi công. Rất tiếc, kế hoạch chưa thành vì vận nước suy vong. Tự hào về màu cờ sắc áo của quân binh chủng mình là điều đáng trân trọng. Nhưng nếu tự hào thái quá sẽ thành tự kiêu. Giữa tự kiêu và kiêu binh nhiều khi không có ranh Khoá 17 và Không Quân 195

169 giới. Người xưa bảo, ăn cây nào rào cây ấy. Những K17, gốc Đà Lạt được tuyển qua Không Quân, phục vụ quân chủng thân yêu với tất cả nhiệt tình và trách nhiệm của một Sĩ Quan Không Quân gốc Võ Bị Quốc Gia. Trái tim của họ là Tổ Quốc Không Gian. Khối óc của họ là Tự Thắng Để Chi Huy! Họ tự hào là Không Quân của đất nước. Họ hãnh diện là phi công từ nguồn gốc Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Cho đến cuối cuộc chiến, các KQ K17 đảm nhiệm những chức vụ sau: – Nguyễn Duy Diệm: Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Không Quân Phú Bài, Huế. – Hà Thuyên: Liên Đoàn Trưởng/ Liên Đoàn Trợ Lực/ Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku. – Huỳnh Cao Khải: Liên Đoàn phó/ Liên Đoàn Phòng Thủ/ Không Đoàn Yểm Cứ Cần Thơ. – Dương Thanh Long: Trưởng Phòng Hành Quân Chiến Cuộc/ Sư Đoàn 6 Không Quân, Pleiku. – Huỳnh Công Đặng: Trưởng Phòng Hành Quân Chiến Cuộc/ Sư Đoàn 4 Không Quân, Cần Thơ. – Huỳnh Văn Tòng và Trần Bạch Thanh: Phi Đoàn Trưởng và Phi Đoàn Phó Phi Đoàn Hỏa Long 817, Tân Sơn Nhứt. – Lê Sĩ Thắng: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 110 Thiên Phong, Đà Nẵng. – Nguyễn Xuân Tám: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 114 Sơn Ca, Nha Trang – Nguyễn Đức Gia: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 116 Thần Ưng, Cần Thơ. – Võ Ý: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu, Pleiku. Trong biến cố đau thương ngày 30 tháng 4/1975, có vị bay thoát Việt Nam, có vị bị kẹt lại và phải chịu cảnh tù đày như 196 Đa Hiệu 111

170 bao Quân Cán Chính VNCH khác. Hiện nay, hầu hết các KQ gốc K17 đều định cư tại Hoa kỳ. Tuổi trung bình là 77 tuổi đời. Một cụ còn đi cày (Cụ Trần Bạch Thanh, khỏe thật!), còn hầu hết đã ăn tiền hưu, có người ăn tiền già, sống trong nỗi hoài niệm về khung trời cũ núi sông xưa! Những cánh chim K17 sau đây đã bay vào hư vô, trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975: Nguyễn Văn Xuân, Lê Hoành Anh, Hoàng Đức Thịnh, Bùi Văn Lợi, Lê Hữu Trí, Cao Ngọc Quang, Huỳnh Văn Tòng, Hà Thuyên, Trần Minh Vũ, Huỳnh Cao Khải. Phi công Nguyễn Văn Xuân, tự là Xuân Mẫm, người hy sinh đầu tiên trên L19 (cuối năm 64 hoặc đầu năm 65) tại vùng biển Vũng Rô, Nha Trang. Phi công Hoàng Đức Thịnh, trên đường bay chiếc Cessna U17 6 chỗ ngồi từ Saigon về lại Đà Nẵng, gặp thời tiết xấu nên bị crash gần Quảng Ngãi, bị Việt Cộng bắt làm tù binh và tử vong sau đó. Phi công Trung tá Hà Thuyên, sau khi ra tù (vào khoảng năm 1985), tổ chức vượt biển, gặp trời gió bão, vỡ thuyền đành vùi thân biển cả. v.v Hiện nay, duy nhất Khóa 17 trong 31 khóa, đã thiết lập được Bia Tưởng Niệm K17 đã nằm xuống tại Victor Memorial Veterans Park, thành phố Greer thuộc Tiểu bang South Carolina, USA. Mời vào link để xem: ( Xin cầu nguyện cho hương linh của quý đồng môn hòa nhập vào hồn thiêng sông núi, phù hộ cho đồng bào, đồng đội và đàn chim tiếp nối, nuôi chí quật cường, để có một ngày mai, đàn chim Việt Tự Do tung cánh, bay rợp trời quê hương, Khoá 17 và Không Quân 197

171 từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mâu và các hải đảo xa xôi Mong thay! Ngày Father Day Bia Tưởng Niệm các CSVSQ của Khoá 17 đã Vị Quốc Vong Thân đặt tại công viên Victoria thành phố Greer South Carolina, ngày 18 tháng Danh sách những bạn đồng khoá của chúng tôi đã chiến đấu và hy sinh vì tự do cho đất nước của chúng tôi. 198 Đa Hiệu 111

172 Ông Steve Dille Ông Steve Dille Người Bảo Trợ Chính Nghị Quyết Của Thượng Viện Quốc Hội Minnesota v/v Công Nhận Cờ VNCH Nguyễn Quốc Đống, K Vài nét về các nghị quyết vinh danh cờ Việt Nam Cộng Hòa: Năm 2003 là năm khởi đầu chiến dịch vinh danh cờ Việt Nam Cộng Hòa, bắt đầu từ California, là tiểu bang có đông người Việt tỵ nạn cộng sản tại Hoa Kỳ nhất; sau đó được tiếp tục tại nhiều tiểu bang khác; và cho đến nay, 14 năm đã trôi qua, cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn nỗ lực để chính quyền địa phương ban hành các nghị quyết công nhận, vinh danh lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa. Các nghị quyết vinh danh cờ Việt Nam Cộng Hòa, lá cờ di sản của tự do, dân chủ, là niềm tự hào của người Việt hải ngoại, mà phần lớn là các nạn nhân của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam, sau biến cố ngày Các nghị quyết cờ VNCH được ban hành bởi nhiều cấp chính quyền địa phương: hội đồng thành phố, quận, hạt, đảng Cộng Hòa địa phương, và cao nhất là thống đốc tiểu bang, hay quốc hội tiểu bang. 2- Các nghị quyết vinh danh cờ VNCH tại Minnesota: 199

173 Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Minnesota do cố Trung Tá Nguyễn Ngọc Đa làm chủ tịch ( ), đã cộng tác cùng các cộng đồng, các hội đoàn quân đội cũng như dân sự, và đông đảo đồng bào người Việt TNCS, vận động các hội đồng thành phố, và Quốc Hội Tiểu Bang MN thông qua các nghị quyết công nhận và vinh danh cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa như sau: Nghị quyết của hội đồng thành phố Saint Paul (số , ngày 28 tháng 5, 2003) Người bảo trợ: Nghị Viên John Blackey. Nghị quyết của hội đồng thành phố Minneapolis (số , ngày 16 tháng 4, 2004). Người bảo trợ: Nghị Viên Don Samuels, và Nghị Viên Robert Lilligren. Nghị quyết của hội đồng thành phố Saint Cloud (số , ngày 19 tháng 7, 2004). Nghị quyết của Thượng Viện Minnesota (số SR 0097, ngày 10 tháng 5, 2005) Người bảo trợ chính: Thượng Nghị Sĩ Steve Dille, các thượng nghị sĩ đồng bảo trợ: TNS David Hann, TNS Don Betzold, TNS Dennis Frederickson, và TNS Mee Moua. Nghị quyết của Hạ Viện Minnesota (số HR 0017, ngày 8 tháng 6, 2005). Người bảo trợ chính: Dân Biểu Dean Urdahl. Các dân biểu đồng bảo trợ: DB Cy Thao, và DB Lynn Wardlow. Việc vận động cho các nghị quyết vinh danh cờ Việt Nam Cộng Hòa chứng tỏ quyết tâm của người Việt TNCS tại Minnesota trong việc khẳng định lý lịch của mình: họ không phải là người tỵ nạn kinh tế, mà là người tỵ nạn chính trị. Tại quê hương Việt Nam, họ đã bị chế độ cộng sản trù dập, truy bức, kỳ thị; mất hết tự do, mất quyền công dân và các quyền căn bản của con người; nên phải bỏ nước ra đi. Lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của tự do, dân chủ, được coi là lá cờ di sản, đại diện cho cộng đồng mới của họ tại quê hương Hoa Kỳ. Họ là những công dân Mỹ gốc 200 Đa Hiệu 111

174 Việt, không phải là công dân Việt Nam của nước Việt Nam cộng sản. Các vị nghị viên các hội đồng thành phố, các vị dân biểu, các vị thượng nghị sĩ quốc hội Tiểu Bang Minnesota, đứng ra bảo trợ cho các nghị quyết vinh danh cờ Việt Nam Cộng Hòa, là những ân nhân của người Việt TNCS tại MN. Họ ghi nhận chúng ta là những công dân Hoa Kỳ nhập tịch, đến từ Việt Nam, một vùng đất xa xôi, cách Hoa Kỳ đến nửa vòng trái đất, đã từng trải qua thời gian rất khó khăn ban đầu của cuộc đời tỵ nạn, nhưng phấn đấu không ngừng để xây dựng cuộc sống mới, và đóng góp xây dựng cho quê hương thứ hai. Họ cũng hiểu được nguyện vọng của chúng ta là muốn vinh danh lá cờ của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia tuy không còn hiện hữu, nhưng biểu tượng của quốc gia này luôn sống mãi trong lòng những công dân cũ của VNCH, những người vẫn quyết tâm theo đuổi những lý tưởng cao đẹp của VNCH. Vì vậy, các vị bảo trợ cho các nghị quyết cờ VNCH tại Tiểu Bang Minnesota đã hết lòng giúp đỡ cho người Việt MN trong việc vận động các nghị viên hội đồng thành phố, các dân biểu, và thượng nghị sĩ đồng viện, trong việc soạn thảo và thông qua các nghị quyết quan trọng nói trên. Chính nhờ các nghị quyết công nhận và vinh danh cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, nhất là các nghị quyết của quốc hội tiểu bang MN, mà người Việt tại Minnesota đã nhiều lần thành công trong việc hạ cờ đỏ của Việt cộng, và thay thế bằng cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa tại nhiều nơi thuộc nhiều thành phố ở MN (các trường học, siêu thị, bệnh viện, công ty…) 3- Tri Ân Cựu Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Minnesota Steve Dille, Người Bảo Trợ Chính Cho Nghị Quyết Của Thượng Viện Quốc Hội Minnesota Công Nhận Cờ Việt Nam Cộng Hoà, Số SR 0097, Thông Qua Ngày Ông Steve Dille 201

175 Thượng Nghị Sĩ Stephen Dille (còn được gọi là Steve Dille), cư ngụ tại thành phố Dassel, quận Meeker, MN (cách Minneapolis 50 miles về phía Tây), tốt nghiệp trường đại học MN, ngành thú y, vào tháng 6, Cũng năm đó, ông là một trong 4 bác sĩ thú y được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tuyển chọn sang Việt Nam làm cố vấn trong lãnh vực thú y, trong chương Lễ nhận nghị quyết công nhận cờ vàng VNCH của lưỡng viện Quốc Hội Minnesota, trình tái thiết xây dựng lại vùng nông thôn Việt Nam từng bị chiến tranh phá hủy (Pacification Program for a war- ravaged country), mục đích là giúp những nông dân Việt Nam tại các trang trại chăn nuôi gia súc biết cách chăm sóc, phòng bệnh và trị bệnh cho gia súc (heo, bò, gà, vịt ). Địa bàn làm việc của ông là vùng châu thổ sông Cửu Long, vựa lúa trù phú của miền Nam gồm 16 tỉnh miền Tây. Năm đó ông còn rất trẻ, mới 24 tuổi, và đây chính là công việc đầu tiên của ông sau khi tốt nghiệp đại học. Với kinh nghiệm của một chàng trai trưởng thành nơi nông trại, ông đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng cách tình nguyện phục vụ tại vùng nông thôn Việt Nam đầy bất trắc trong thời chiến, với tấm lòng can đảm, và tận tụy. Ông phục vụ tại nhiều thành phố như Cần Thơ, Sóc Trăng, 202 Đa Hiệu 111

176 Bạc Liêu… Tuy chỉ làm công việc chuyên môn của một bác sĩ thú y dân sự, ông gặp không ít nguy hiểm vì chiến tranh du kích của Việt cộng nhằm mục tiêu chính là các vùng nông thôn của VNCH. Nhiều lần ông bị kẹt trong lửa đạn của giặc Cộng, có lần suýt bị một du kích VC sát hại bằng lựu đạn ném tay. Trong thời gian công tác tại vùng nông thôn Nam Việt Nam, bác sĩ Dille làm việc sát cánh cùng hai cộng sự người Việt, phụ tá ông trong công việc chuyên môn (thú y), và giúp ông trong việc thông dịch. Đó là ông Dương Quang Ngự (trung úy trừ bị khóa 6 trường Võ Khoa Thủ Đức, đã giải ngũ năm 1966, là chuyên viên về phát triển khu vực cho cơ quan USAID Vùng IV cùng TNS Steve Dille, thông dịch viên của quân đội Mỹ, cũng là chủ một trang trại nuôi gà tại Bình Thủy, Cần Thơ), và ông Dương Quang Thừa (anh ông Ngự, nhân viên Phòng Canh Nông (Agriculture Department) USAID Vùng 4, cũng là chủ trại gà Huynh-Đệ Cần Thơ). Bác sĩ Dille và gia đình hai cộng sự người Việt này nhanh chóng trở thành những người bạn rất thân. Tại Việt Nam, họ đã coi nhau như người thân một nhà, giúp đỡ nhau tận tình. Và rồi họ lại có cơ duyên gặp lại nhau nhiều năm sau này trên đất Hoa Kỳ. Tháng 11, 1974, bác sĩ Steve Dille rời Việt Nam trở về quê nhà ở Minnesota. Thời gian ông phục vụ tại Việt Nam là 3 năm rưỡi. Bốn tháng sau ngày ông rời Việt Nam, tháng 3, 1975, bắc quân CS mở cuộc tổng tấn công vào các thành phố lớn ở Nam Việt Nam, và thủ đô Sài Gòn của VNCH thất thủ ngày CSVN thiết lập chế độ cai trị mới, tước đoạt mọi quyền tự do của người dân, hủy bỏ nền kinh tế tư doanh, khiến đời sống của người dân Nam VN lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn. Những người đã từng cộng tác, làm việc với người Mỹ bị kỳ thị nhiều hơn nữa. Bác sĩ Steve Dille lo lắng cho gia đình những người bạn đã từng làm việc với ông tại Nam VN, nên ông đã viết thư cho họ, đề nghị bảo trợ cho họ định cư tại Hoa Kỳ nếu họ ra khỏi được Việt Nam. Ông Steve Dille 203

177 Khi hay tin các con của ông Dương Quang Ngự, và ông Dương Quang Thừa, sau nhiều chuyến vượt biển, đã đến được các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á (Thái Lan, Nam Dương, Phi Luật Tân ), ông Steve Dille đã nhanh chóng làm giấy bảo trợ, và đưa họ về định cư tại Minnesota. Sự giúp đỡ tận tình của gia đình bác sĩ Steve Dille (ông và vợ là bà Pamela Dille) đối với các người Việt tỵ nạn CS trẻ tuổi tại MN (từ tháng 9, 1983) đã giúp họ vượt qua khó khăn buổi đầu, xây dựng được cuộc sống mới tốt đẹp nơi vùng đất mới, được học hành đến nơi đến chốn, có công việc làm ổn định, và sau này có điều kiện bảo lãnh cha mẹ (ông bà Ngự, và ông bà Thừa) sang định cư tại Mỹ năm Như vậy bác sĩ Dille đã có dịp gặp lại, và giúp đỡ gia đình những người bạn cũ của ông tại Việt Nam. Bác sĩ Dille phục vụ tại các vùng nông thôn Nam Việt Nam khiến ông hiểu rất rõ cuộc chiến tự vệ của quân, dân miền Nam chống bắc quân CS xâm lược. Ông cũng hiểu rõ tâm tình của những nạn nhân CS phải liều chết bỏ quê hương ra đi tìm tự do. Ông hiểu được ước vọng của họ là nêu cao lý tưởng của quốc gia mà họ từng đổ mồ hôi và đổ máu để phục vụ. Đó chính là lý do ông đã đứng ra làm người bảo trợ chính cho nghị quyết vinh danh cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, do Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn MN và một số đoàn thể tại MN khởi xướng vận động. Ông Dương Quang Ngự, một người bạn thân của bác sĩ Dille từ những ngày làm việc chung tại Việt Nam (1968), suốt thời gian khi con cháu ông Ngự định cư tại MN (1983), cho đến khi hai ông bà Ngự được định cư tại MN (1995), đã giúp đỡ cộng đồng trong vai trò người vận động (lobbyist) và người liên hệ (liaison) trong công tác vận động lưỡng viện quốc hội MN thông qua mau chóng các nghị quyết cờ VNCH tại MN. Ngoài công việc chuyên môn của một bác sĩ thú y, ông Steve Dille còn quan tâm đến việc phục vụ cộng đồng Dassel, MN. Khởi sự là một kiểm soát viên của thành phố Dassel (supervisor), ông trúng cử vào hạ viện tiểu bang MN năm 204 Đa Hiệu 111

178 1986, tái đắc cử các năm 1988, 1990; đắc cử vào thượng viện MN năm 1992 (khu vực số 18, thành phố Dassel, thuộc đảng Cộng Hòa), tái đắc cử các năm 1996, 2000, Lãnh vực hoạt động chuyên môn của ông là: nông nghiệp, phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường. Suốt thời gian ông phục vụ trong quốc hội tiểu bang MN, ông vẫn đồng thời làm việc tại trang trại của gia đình ở Dassel. Ông nghỉ hưu năm 2012, và vẫn tiếp tục làm công việc mà ông rất yêu thích tại trang trại. Những năm gần đây, tình trạng sức khoẻ của cựu TNS Steve Dille suy yếu nhiều vì bệnh hiểm nghèo. Thời gian ông ở cùng chúng ta không còn nhiều, nên chúng ta sẽ dành thời gian cùng cầu nguyện cho ông được mọi sự an lành. Ông đã sống cả cuộc đời mình phục vụ tận tụy cho gia đình, cho xã hội, cho Dassel, và cho tiểu bang nhà Minnesota (MN). Đặc biệt ông đã cống hiến một phần tuổi trẻ của mình, phục vụ cho người dân VN vùng châu thổ sông Cửu Long, trong thời chiến tranh Việt Nam; thời gian tuy ngắn chỉ có 3 năm rưỡi, nhưng tấm lòng của ông dành cho họ chân thật và chí tình, lưu lại cho họ biết bao kỷ niệm đẹp. Sự tận tuỵ của ông dành cho các di dân Việt tỵ nạn CS tại MN từ năm 1983 và nhiều năm sau đã để lại trong lòng các di dân Việt lòng cảm mến, và biết ơn sâu xa. Ông đã giúp cho thế hệ di dân người Việt tỵ nạn CS trẻ trung này thực hiện được giấc mơ Mỹ quốc tốt đẹp, sống độc lập, tự tin, từng bước đi lên vững chắc tại vùng đất hứa của cơ hội, của tự do. Ông cũng là một ân nhân của khối người Việt tỵ nạn CS tại MN, giúp họ có niềm tự hào được giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ chính nghĩa của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, quê hương thứ hai của họ. Xin thượng đế ban cho ông và gia đình nhiều phước lành. Người Việt tỵ nạn cộng sản tại Minnesota luôn nhớ đến Ông Steve Dille 205

179 ông như một cố vấn tài năng của người nông dân Nam Việt Nam thời chiến tranh Việt Nam, một người bạn chí tình với các cộng sự người Việt, một người bảo trợ rộng lượng và nhân hậu đối với người Việt tỵ nạn CS tại MN, một dân biểu và một thượng nghị sĩ tiểu bang tận tụy của MN, hết lòng phục vụ người dân MN, nhất là cộng đồng thiểu số người Mỹ gốc Việt tỵ nạn cộng sản tại Minnesota. Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn MN (từ 2005 đến nay). 4 tháng 8, 2021 Voâ Ñeà LD. SONG BA, K25 Không phải đâu, bạn ơi đời gió bụi. Ngựa Bắc Sơn, vẫn hí lộng trời thu. Đường xa lắm, dặm đường quê hương cũ Mơ hồ như… ai tóc bạc mùa Xuân. Ta hẳn nhiên, thương nhớ hoài sông núi. Chỉ ngại thời gian, vỗ cánh bay. Đường đi thấp thoáng, ngàn mây trắng, Ta gọi nhau, lòng ta có hay! Đời vui, một chút tình tri kỷ Chuyện thế nhân, ngàn thu mây bay! 206 Đa Hiệu 111

180 CHIEÁC NHAÃN THAÂM TÌNH Chiếc Nhẫn Thâm Tình Tealan, K26/1 Từ thưở xa xưa, loài người đã biết sử dụng trang sức. Với người đàn bà, mua và sử dụng đồ trang sức vì thích nó, vì muốn làm đẹp hơn, vì kỷ niệm không muốn rời xa, và vì muôn ngàn lý do nên họ có thể có không ít những món nữ trang dành riêng để trang điểm, để điệu đà. Đàn ông thì khác, đơn giản hơn nhiều, dù đắt hay rẻ, món đồ phải là một vật có ý nghĩa với họ. Đàn ông mà đeo nhiều hột bự tổ chảng, nhiều vòng to bản chạm trổ, giây nhợ xiềng xích tùm lum thì phong cách này chỉ dành cho các anh chị giang hồ. Tuy đã quen nhau, gặp nhau hằng ngày nhưng vào ngày đầu tiên chúng tôi cùng nhau đi dạo phố, tôi mới thấy trên bàn tay của anh có đeo chiếc nhẫn Võ Bị. Anh có nói với tôi, trước 75 anh luôn mang nó, giờ thì anh chỉ mang nó trong những trường hợp đặc biệt. Lần thứ hai, anh đeo lại chiếc nhẫn vào tay trước ngày chúng tôi sắp đi vượt biên khi anh đưa tôi đi thăm mộ Ba của anh nằm trên một miếng đất mà ông nội của anh đã mua vĩnh viễn trong nghĩa trang của một ngôi chùa ở Gò Vấp. Ngôi mộ to bằng đá mài rất đẹp, với số tuổi của ngôi mộ cộng thêm một là bằng tuổi của anh. Đây là lần cuối anh được thăm mộ vì hơn hai năm sau anh nghe tin ở bên quê nhà anh Hai của anh, phải phá ngôi mộ, đi lấy cốt đem để vào chùa khác vì tụi Việt Cộng giải tỏa ngôi chùa và nghĩa trang đó. Lần thứ ba, lần cuối cùng tôi thấy anh đem chiếc nhẫn ra đeo là ngày trước khi anh đem đi bán nó ở Indonesia, một 207

181 tháng trước khi chúng tôi được đi định cư qua Mỹ. Hôm đó, cả hai đứa tôi đều buồn, khi thấy chiếc nhẫn bỗng nhiên sao rực rỡ quá. Có phải vì khi mình mất đi thì mình mới thấy nó là một vật đáng quý? Khi đang ở trong một trại tị nạn ở trên một đảo nhỏ, anh thấy tôi gầy ốm quá, có lẽ vì thiếu ăn, cũng như thấy tôi cần có một áo ấm khi đến Mỹ là lúc tiết trời đã vào Thu, anh đã bán chiếc nhẫn đó đi để có đủ tiền trang trải. Thôi thì, cuộc sống sẽ không có sự lựa chọn nếu như không có ăn, không có mặc. Hai đứa tôi đi bộ gần năm cây số từ sáng sớm đến khu phố của dân đia phương để bán chiếc nhẫn cho ông chủ tiệm người Tàu. Tôi thấy ánh Phu quân của tác giả – SVSQ Nguyễn Thiện Nhơn, K26, mắt ông ấy sáng lên có lẻ ông đoán biết chiếc nhẫn này hiếm thấy vì nó của một người tị nạn từ một quốc gia khác hay là vì ông thấy người bán nó với vẻ mặt đượm nuối tiếc. Cầm số tiền đô trên tay, nhìn lại chiếc nhẫn lần cuối mà lòng buồn nao nao. Vào những lúc rảnh rỗi, vợ chồng tôi thỉnh thoảng cũng nhắc lại những kỷ niệm về chiếc nhẫn. Tuy trị giá của nó không là bao nhưng vì nó là món kỷ vật của anh, tôi cảm thấy tôi có phần trách nhiệm. Tôi tự thấy mình có phần lỗi trong đó. Chúng tôi không quên có ý định làm lại chiếc nhẫn. Dù không phải là nguyên thủy nhưng nó cũng không phải là một vật vô tri. Nó vẫn là một ký hiệu của một sự cam kết của anh với Trường Mẹ, một sự gắn bó của anh với các bạn cùng một khóa. Nó là một thiết bị phát tín hiệu với khóa đàn anh, với 208 Đa Hiệu 111

182 đàn em. Nó cũng là một tín hiệu cho người khác biết phong cách và địa vị của người mang nó là ai. Và rồi bây giờ nó cũng có thêm tình của hai đứa tôi cộng vào chiếc nhẫn Võ Bị đó. Vào một dịp nghỉ hè giữa thập niên tám mươi, vô chồng tôi qua Cali. Tôi có đi han hỏi vài tiệm vàng người Việt ở phố Bolsa, nhưng chưa có tiệm nào làm nhẫn Võ Bị cả. Một lần nọ, trên diễn đàn khóa 26, chị Hồ Sĩ Thơ hỏi về vụ có anh chị nào biết chỗ làm nhẫn Võ Bị không? Sau một thời gian khá lâu không đếm ngày, thì tôi mới biết anh Đào Quý Hùng trả lời cho biết có một tiệm nhận làm. Anh Nguyễn Thiện Nhơn mừng quá, hỏi liền cách thức, và lẹ làng ghi tên đặt làm nhẫn trước tiên. Sau khi ghi tên, chúng tôi hồi hộp theo dõi tin trên danh sách có anh chị nào cần làm lại chiếc nhẫn nữa không hay là chỉ có vợ chồng tôi mà thôi, vì nếu số lượng người đặt ít quá thì tiệm không làm đâu. Rồi, trên diễn đàn của khóa 26 xôn xao, khóa 26 lao xao, khi danh sách số người ghi danh làm nhẫn cứ tăng lên dần. Thấy vui quá, hai đứa tui cứ cười hoài. Hóa ra, cũng có nhiều anh cùng khóa đã bị mất nhẫn chớ đâu phải có một hai người chúng tôi đâu. Mỗi người bị mất chiểc nhẫn mỗi cách trong những trưòng hợp khác nhau, nhưng phần nhiều lý do đều từ hoàn cảnh đau buồn, tang thương đã đến với người lính sau khi bị bại trận. Bị mất mát một kỷ vật đáng trân trọng thì có mấy ai không muốn có lại. Lời của anh Võ Công Tiên, K26 kể lại: – Ngày đầu tháng 4 năm 74, tôi bị thương nặng. Tôi liền cởi chiếc nhẫn đưa cho ông Đại Đội Trưởng, K24. Số chưa chết, sau vài tuần tôi nhận lại và đeo tới tháng 6 năm 75. Khi đi tù, tôi gửi chiếc nhẫn cho một cậu sinh viên quen thân, quê Đà Nẵng đang học ở Saigon. Thời gian sau, cậu bán đi vì đói quá. Khi tôi ra tù, cậu em tỏ vẻ rất hối hận. Tôi đã khuyên cậu Chiếc Nhẫn Thâm Tình 209

183 đừng để ý, dù tôi rất tiếc đã mất nó. Anh Nguyễn Quang Lạc cũng hồi tưởng lại: – Hồi đó, tôi làm hai chiếc nhẫn. Chiếc nhẫn hột đỏ, được Thiếu tướng Lâm Quang Thơ đeo vào tay tôi. Năm 75 đưa cho vợ đi bán để mua thuốc cho con gái. (Rất đau lòng!) Chiếc nhẫn hột xanh làm để tặng vợ, vợ tặng lại bố vợ. Sau này trước khi mất, Cụ trao lại cho tôi. Tôi còn nhẫn, một chiếc nhẫn với Buổi hội ngộ của Khóa 26 nhân Đại Hội XX của Trường VBQGVN, năm nhiều kỷ niệm êm đềm! Anh Nguyễn Đức, ở bên Úc kể cũng không vui: – Tôi bị mất chiếc nhẫn khi đi vượt biên vì bề trên của tôi giấu kỹ quá. Lần thứ hai làm lại thì bị ăn trộm vào nhà lấy. Chiếc nhẫn đang có là chiếc thứ ba, do tôi đặt làm từ một Niên Trưởng. Anh Trần Quang Diệu ở bên Tây kể nghe mắc cười: – Ba tôi đem bán chiếc nhẫn để có tiền đi thăm tôi trong tù cải tạo. Chiếc nhẫn bây giờ đuợc một Niên Trưởng làm. Mấy hôm rày thấy lao xao bàn về vụ làm nhẫn tôi bèn lấy ra đeo, nhưng nó bự quá khiến tôi muốn xụi cánh tay. – Tôi thì đem chiếc nhẫn bán vì không có tiền để uống cà 210 Đa Hiệu 111

184 phê. Lời của anh Đào Quý Hùng. Vài dòng của anh Hùng ngắn gọn và có vẻ bí mật quá làm chúng tôi đánh dấu hỏi: – Hổng lẽ đi mình ên uống cà phê mà đành phải bán nhẫn. Đi với ai mà không chịu tiết lộ cho vui cả… khoá? Còn nhiều trường hợp nữa nhưng có anh ngại ngùng không Mẫu nhẫn mới do CSVSQ Đào Quý Hùng phác thảo. tiện nói ra. Thôi thì cứ cho là mất rồi thì mua lại, tại sao phải nói ra chuyện riêng tư của mình. Hãy để kỷ niệm đó vào một góc của trái tim. Có không ít các anh còn giữ được chiếc nhẫn thân yêu đã theo nhau suốt quãng đời kham khổ. Vượt qua những nỗi thăng trầm khó khăn mà còn giữ được nó thì thật là đáng quý! Càng vui thêm khi tôi nghe các anh ở bên khóa 29 biết tin khóa 26 đặt làm nhẫn cũng muốn đặt làm luôn một thể để có lại chiếc nhẫn Võ Bị bị mất. Bao nhiêu cảm xúc lại ùa về kéo ngược thời gian hơn 40 năm trước. Biết bao là kỷ niệm một thời ở Trường Mẹ của các anh! Chúng tôi nôn nao chờ đợi ngày họp mặt của khóa, hứa hẹn cùng nhau chung một ngày vui, Ngày Lễ Trao Nhẫn. Một ngày không xa… Chiếc Nhẫn Thâm Tình 211

185 Hoäi Voõ Bò Pennsylvania Taân Nieân Xuaân Ñinh Daäu 2021 Đỗ Nguyễn Nhật Khai, K20/2 Theo thông lệ hàng năm, thành viên của Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Pennsylvania và Phụ Cận lại tề tựu về để tham dự buổi tiệc họp mặt Tân Niên Xuân Đinh Dậu vào ngày Chủ Nhật, 12 tháng 03 năm 2021, tại nhà hàng Maxim, thành phố Philadelphia. Trong không khí ấm cúng của cuộc hội ngộ, Hội được vinh dự đón tiếp trên dưới 100 quan khách bao gồm Giáo Sư Văn Hóa Vụ Nguyễn Trọng Bối, 18 cựu SVSQ cùng gia đình, và thân hữu; với cựu SVSQ Nguyễn Công Hiệp, khóa 15 thuộc khóa lớn nhất trong buổi họp mặt và cựu SVSQ Trương Văn Be, K30 thuộc khóa nhỏ nhất. Được biết cựu SVSQ Trương Văn Be và gia đình vừa được định cư tại Hoa Kỳ trong năm qua. 212 Đa Hiệu 111

186 Sau phần nghi thức khai mạc và chào cờ là phần báo cáo sinh hoạt nội bộ và bầu một ban chấp hành mới để thay cho CSVSQ Đỗ Đức Chiến K20 vì tình trạng sức khỏe không thể tiếp tục trách nhiệm Hội Trưởng. Đắc cử vào chức vụ Hội trưởng là CSVSQ Nguyễn Văn Dục K17, với CSVSQ Phùng Xuân Vinh- K17 đảm trách vai trò Hội Phó Nội Vụ, CSVSQ Lạc Minh Châu- K22 Hội phó Ngoại Vụ, và CSVSQ Nguyễn Bắc Ninh- K26 Thủ quỹ. Kế đến là chúc Tết của TTNĐH-PA từ Đoàn Trưởng Đỗ Nguyễn Nhật Khai- K20, phần mừng tuổi của thế hệ con cháu của hội Võ Bị, là đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu, và lì xì. Vì lòng thương yêu và tin tưởng của cha chú, năm nay là năm thứ ba đoàn TTNĐH-PA đứng ra nhận lãnh trọng trách tổ chức Pennsylvania Mừng Xuân Đinh Dậu 213

188 Hoàng Hôn, Một Người Đi, v.v… đã mang lại không ít cảm xúc đến các CSVSQ. Những bài hát đấu tranh như Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh?, Con Đường Việt Nam, và Việt Nam Ơi bày tỏ những ước vọng cho quê hương Việt Nam hiện tại của các thế hệ con cháu. Buổi tiệc mừng xuân được kết thúc vào 4 giờ chiều và xin hẹn gặp lại vào dịp họp mặt sắp đến. Đoàn Trưởng Đoàn TTNĐH Pennsylvania và Phụ Cận. Pennsylvania Mừng Xuân Đinh Dậu 215

189 Thô Cho Con Vũ Thế Khanh, K20 Con chớ tìm Cha chỉ trong Đa Hiệu, Vì khác hơn, Cha hằng ở với núi sông; Suốt đời Cha Chưa một phút tần ngần, Quên dấn bước hay phân vân chủ bại! Chí anh hùng, Cha không ngần ngại, Mà càng rèn cho sáng mãi với thời gian. Cha không cúi mặt, Cha không đầu hàng, Dù có lúc phải cam tù ngục! Hỡi Con! Chớ bao giờ quên những lần chịu nhục; Hãy rửa hờn Và Quyết Chí Tiến Lên! Giang sơn mình thừa những kẻ đớn hèn Ngồi nuối tiếc những vàng son ngày cũ!!! Con! CHÚNG TA Không Bao Giờ Ủ Rũ; Không Bao Giờ Nói Chữ Quạnh Hiu Vì mình sống huy hoàng trong phục vụ và sáng tạo muôn chiều, MÌNH Là chủ lực tạo đời thành tựu! Cha biết Các Con thừa hiểu Mình sinh ra để báo hiếu cho dân; 216 Đa Hiệu 111

190 Mình sinh ra để phục hận nhân quần; Để lấp cạn bể trầm luân nước Việt; Để thắp sáng đèn Âu Cơ lẫm liệt Cho bốn phương rõ mặt nhà Nam. Con hỡi con, hãy sống đường hoàng Dòng Võ Bị thênh thang sự nghiệp! Cha yêu thương các con, *Hình của Cố SVSQ Nguyễn Tất Tình – F24, đã tử nạn vào giờ thứ 25, Hỡi Con

191 NHEÏ TÖÏA LOÂNG HOÀNG Vô cùng thương tiếc tưởng nhớ đến Niên Trưởng Lâm Thành Thanh, K24 Nguyễn M., K25 Từ ngày ra trường, mãi tới hôm nay cũng hơn một năm tôi mới gặp lại anh. Đại đội của anh đang dừng quân trên quốc lộ 1, giữa buổi trưa hè nắng cháy gần quận Bình Sơn, Quảng Ngãi. Anh đang ngồi dưới bóng cây bên đường, đầu đội nón bo đi rừng. Với làn da sạm nắng và hàm râu quai nón mọc lởm chởm, trông anh có vẻ phong trần dày dạn nắng mưa. Anh bắt tay tôi, vẫn ánh mắt cười hiền hoà ngày nào mời tôi một điếu Pallmall. Anh là Niên Trưởng Lâm Thành Thanh, K24. Tôi nhớ đến anh, một SVSQ Lâm Thành Thanh lè phè, có đôi mắt to, đôi môi dày, luôn đi ăn cơm ngoài hàng. Anh hiền hoà, ít nói và có nét rất nghệ sĩ mỗi khi ôm cây đàn guitar gảy những bản nhạc clasic rất hay. Giờ đây, sau hơn một năm gặp lại, một năm lăn lộn nắng mưa ở chiến trường, trông anh khác hẳn. Nét thư sinh ngày nào không còn nữa, thay vào đó là một sĩ quan chững chạc, tự tin và là một đại đội trưởng rất có uy với lính. Anh làm ĐĐT/ ĐĐ3/ TĐ3/TRĐ6/ SĐ2 BB. Tiểu đoàn trưởng của anh là Đại Uý Ngô Quang Minh. Niên Trưởng Minh, Khoá 23, được Trung Đoàn Trưởng đặt biệt hiệu là Con Gà Tre vì trông anh nhỏ con nhưng đá rất hay, đụng trận nào cũng thắng, nỗi tiếng cả Sư Đoàn 2. Trong Tiểu Đoàn 3/6 còn có Võ Văn Lê, Khoá 25 làm ĐĐT/ĐĐ2. Lê cũng là một đại đội trưởng rất lì. 218 Đa Hiệu 111

192 Vào khoảng cuối tháng 5/1974, Tiểu Đoàn 3/6 có nhiệm vụ giải toả Đồi Đá thuộc xã Sơn Kim, quận Sơn Tịnh. Ngọn đồi nầy trước đây do đơn vị Địa Phương Quân trấn giữ nhưng đã bị VC đánh chiếm. Đại đội 2, do Võ Văn Lê làm đại đội trưởng, nhận nhiệm vụ giải toả Đồi Đá. Bên cánh trái có Đại Đội 1 và bên cánh phải có Đại Đội 3 của Niên Trưởng Lâm Thành Thanh làm thành phần tiếp ứng. Trận chiến ác liệt xảy ra hơn nửa ngày mới chiếm được Đồi Đá. Trong trận nầy Võ Văn Lê, ĐĐT/ĐĐ2, bị thương nặng được xe tải thương đưa về bịnh viện dã chiến ở Quảng ngãi. Nhờ lần bị thương đó mà Võ Văn Lê được thoát nạn như câu chuyện được tường thuật tiếp sau đây. Sau khi giải toả Đồi Đá, Tiểu Đoàn 3/6 tiếp tục nhận nhiệm vụ mới: hành quân về Chuẩn Tướng Trần Văn miền Đông, giải tỏa mật khu Nhựt, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Ba Tăng Găng của VC. Cuộc BB, năm hành quân được chia làm hai cánh: – Cánh 1: Do Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng Ngô Quang Minh dẫn hai Đại Đội 1+4 đạp dọc bờ biển từ Bình Giang, thuộc quận Bình Sơn tới Sơn Mỹ, thuộc quận SơnTịnh. – Cánh 2: Do Đại Uý Tiểu Đoàn Phó Võ Như Ý dẫn hai Đại Đội 2+3 hành quân vào ban đêm đạp qua vùng Thế Long, Thế Lợi, điểm đến là hai ngọn đồi 108 và 109. Nhiệm vụ của cánh 1 là theo trục tiến quân vào các khu vực từ Bình Giang đến các xã Bình Ân, Bình Kỳ, Bình Đức, và Sơn Mỹ. Đây là mật khu Ba Tăng Găng của VC từ thời Pháp, có địa hình hiểm trở. Thời gian ấn định giải toả là 10 ngày, với chỉ thị của Trung Đoàn Trưởng là cần di chuyển chậm và lục Nhẹ Tựa Lông Hồng 219

193 soát kỹ. Tuy nhiên chỉ sau 3 ngày Niên Trưởng Ngô Quang Minh, TĐT/TĐ 3/6, báo cáo đã lục soát xong. Nhiệm vụ của cánh 2 là nằm án ngữ cao điểm, hai đỉnh đồi 108 và 109, để quan sát hoạt động của địch. Chiều dài hai ngọn đồi nầy khoảng 4 Km. Nằm dưới chân đồi là con sông Hàm Giang bề ngang chỉ chừng 5m, Nên gọi con sông này là con suối thì đúng hơn vì bề ngang rất hẹp, nhưng nước rất sâu, ngập cả đầu. Bên kia sông Hàm Giang là Bộ chỉ huy nặng TĐ3/6 đóng ở đồn Nghĩa Quân. Tám ngày trôi qua, tình hình ghi nhận là yên tĩnh. Qua ngày thứ tám, Niên Trưởng Ngô Quang Minh gọi máy xin phép Trung Đoàn Trưởng đi phép 24 tiếng. Chiều hôm đó, Đại Uý Tuân, Khoá 21, được điều động đến thay cho Niên Trưởng Minh đi phép. Gần 4 giờ sáng ngày hôm sau bất ngờ VC tấn công. Lúc đầu địch pháo kích cối 82ly và dùng thượng liên 12ly8 từ các đồi nhỏ gần hai đồi 108 và 109 bắn xối xả vào hai đại đội 2 và 3. Sau đó địch, quân số ước chừng hai tiểu đoàn, tràn ngập tấn công. Thoạt đầu tại trung tâm hành quân Trung Đoàn, tôi nghe Đại Uý Ý, Tiểu Đoàn Phó báo khẩn cấp: – Chúng tôi bị địch tấn công và tràn ngập. Chỉ nghe chừng đó thôi, sau đó hoàn toàn im lặng. Mặc dầu trung tâm hành quân Trung Đoàn gọi Đại Uý Ý liên tục, nhưng không nghe tiếng trả lời. Quay về tần số của tiểu Đoàn 3/6, tôi nghe Đại Uý Tuân báo cho biết rằng hai đại đội 2 và 3 lâm trận bị thiệt hại nặng, chưa liên lạc được với Tiểu Đoàn Phó, cũng như hai Đại Đội Trưởng. Đại Uý Tuân xin Pháo Binh bắn hoả châu soi sáng và đạn nổ chụp quanh lưng đồi. Tại bộ chỉ huy Trung Đoàn, ngay từ phút đầu đã có mặt ban tham mưu và Trung Đoàn Trưởng tại T.O.C. theo dõi diễn tiến trận chiến. Đại Tá Trung Đoàn Trưởng, Nguyễn Thới Lai, 220 Đa Hiệu 111

194 đích thân gọi pháo binh tác xạ liên tục những điểm lưng chừng đồi và bắn hoả châu soi sáng. Mọi người ngồi yên lặng chờ đợi nghe ngóng tin tức trong bầu không khí căng thẳng ngột ngạt. Khoảng 20 phút sau, bất ngờ nghe Đại Uý Ý nói rất nhỏ: – Tình hình rất xấu, xin pháo binh tác xạ về hướng Tây, dưới chân hai ngọn đồi. Địch đang trên đường rút lui. Các quân nhân xuất sắc. Ai nấy đều lộ vẻ vui mừng khi bắt được liên lạc với Đại Uý Ý. Niềm vui vừa mới loé lên chợt tắt lịm ngay khi nghe Đại Uý Ý báo tiếp chẳng thấy con cái đâu cả mà chỉ thấy ở trên đỉnh đồi toàn quân địch và xin pháo binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đỉnh đồi, nơi hai đại đội 2 và 3 trú đóng! Ông báo đang nấp trong khe đá trên đồi với người lính truyền tin. Mọi người đều bàng hoàng khi nghe tin nầy. Bầu không khí yên lặng nặng nề bao trùm mọi người đang hiện diện. Cái tin không ai dám nghĩ đến, cuối cùng cũng phải đón nhận trong niềm đau xót tột cùng. Hệ thống máy truyền tin im lặng khá lâu. Khoảng hơn 6 giờ, mọi người mới nghe tiếng Đại Uý Ý xin pháo binh bắn đạn khói liên tục dưới chân đồi về hướng Nhẹ Tựa Lông Hồng 221

195 Đông, dọc sông Hàm Giang, để những binh lính nào còn sống sót có thể chạy về bộ chỉ huy Tiểu Đoàn ở bên kia sông. Mãi đến hơn 8 giờ sáng bộ chỉ huy Tiểu Đoàn báo chỉ có hai người chạy thoát về tới là Đại Uý Ý và người lính truyền tin! Ngày hôm sau, Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 6 hành quân vào xã Sơn Mỹ yểm trợ Tiểu Đoàn 3/6 đi tìm tử thi. Muốn tới đây phải đi xuôi sông Trà Khúc, dọc theo con đường đất nhỏ dưới chân núi Thiên Ấn. Đó đây những cánh đồng bắp đã thu hoạch, còn trơ lại thân cây và tàu lá úa vàng. Tôi gặp Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng, Niên Trưởng Ngô Quang Minh Khoá 23, ở chỗ đồi cao, nơi đặt nhiều xác được liên tục mang về đây. Sau hai ngày dưới trời nắng cháy xác bị trương lên xình thối, khó nhận dạng. Tìm lần mò trong những người tử thương, tôi thấy có một thi thể có râu quai nón. Bán tín bán nghi, tôi cố lục trong túi quần của tử thi lôi ra chiếc ví, mở ra xem để biết chắc có phải là Niên Trưởng Thanh hay không? Thế là hết! Khuôn mặt quen thuộc của Niên Trưởng Thanh trong tấm hình! Tôi đưa tấm hình cho Niên Trưởng Minh xem. Cả hai anh em chúng tôi đều đứng bất động, trong nỗi đau thương tột cùng. Tất cả những tử thi được tìm thấy đều đưa về nhà xác gần phi trường Quảng ngãi trong ngày. Qua ngày hôm sau tôi đến nhà xác mới chứng kiến cả trăm thi thể được đặt trên nền xi măng dưới mái nhà lợp tôn. Cả một không gian đầy tử khí bốc lên. Thấy ở ngoài sân nhà xác để sẵn 3 cái hòm, tôi bèn nhờ người mang thi thể Niên Trưởng Thanh đặt vào trong hòm. Theo lời người hướng dẫn ở đó, tôi đi mua mạt cưa ở trại cưa gần đó đổ vào quan tài. Trong khi loay hoay lo đổ mạt cưa để liệm, tôi không để ý có người thiếu nữ đang đứng bên cạnh. Bất ngờ tôi thấy người thiếu nữ vịn vào hòm và khóc nức nở. Ngạc nhiên tôi hỏi: – Chị là ai? – Dạ, em là bồ của anh Thanh. 222 Đa Hiệu 111

196 Qua làn nước mắt tuôn dầm, chị nói tiếp: – Em đã có thai với anh ấy mấy tháng rồi. Tôi bàng hoàng khi nghe tin nầy. Người thiếu nữ đứng trước tôi ước hừng 25, 26 tuổi. Chị cho biết đang ở xã Bình Liên và làm bạn với anh Thanh lâu rồi. (Bình Liên là một xã nằm trên quốc lộ, nằm giữa hai quận Bình Sơn và Sơn Tịnh.) Nghe chị nói tôi chỉ biết đứng lặng câm, không có đủ một câu để an ủi chị vì chính tôi cũng đang quá đau lòng. Trở về Trung Đoàn, tôi xin phép Trung Đoàn Trưởng được đưa xác Niên Trưởng Thanh về Sài gòn. Tôi cũng nói thêm là hơn cả năm rồi tôi chưa được đi phép. Ông ta từ chối, nói việc đó để Ban 5 lo, và vì tình hình đang chộn rộn nên cũng không cho ai đi phép. Ngày hôm sau, tôi thấy nhiều xe GMC chở những quan tài chạy về hướng Bắc. Đứng bên lề đường nhìn những xe chạy qua, lòng tôi ngậm ngùi thương tiếc vì biết rằng trên những xe ấy có xe chở quan tài NT Lâm Thành Thanh. Chào vĩnh biệt NT Lâm Thành Thanh! Anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Anh đã ngã gục bên cạnh những đồng đội thương yêu. Anh đã ra đi nhẹ tựa như lông hồng. Nhưng, những người còn ở lại: gia đình, người yêu, bạn bè anh luôn luôn tưởng nhớ, thương tiếc anh. Bạn Võ Văn Lê, Khoá 25, nguyên ĐĐT/ĐĐ2 may mắn thoát chết trong trận đó. Nhớ thương tiếc NT Lâm Thành Thanh, bạn Lê đã làm bài thơ sau đây: Nhẹ tựa lông hồng Nắng sớm mưa chiều trời Quảng Ngãi Anh cùng ta lội suối băng rừng Không hẹn mà ta cùng đơn vị Tiểu đoàn Ba Sáu buổi đầu xuân Ta Đại Đội Hai, anh Đội Ba Nhẹ Tựa Lông Hồng 223

197 Khi núi Tròn lúc chiếm Ba Gia Chuyển quân gặp nhau cười vui vẻ Hẹn nhau về phố nhậu thả ga Ta ngỡ đi đời ở Sơn Kim Ngọn đồi vừa chiếm pháo liên miên Ta xơi mảnh pháo về bệnh viện Còn anh vẫn thừa thắng xông lên Phố buồn ta cũng chán đi rong Ôm vết thương rướm máu trong lòng Ta mong sớm trở về đơn vị Biết anh đang chuyển xuống miền Đông Những cuộc hành quân còn nối tiếp Mà riêng anh vĩnh biệt không về!!! Ta thẩn thờ đi trên phố vắng Ngày buồn thấm tận trái tim tê Bạn của ta bao người nằm xuống Nhiên, Thanh ơi! Chỉ mới hôm nào Ngậm ngùi ta đọc câu thơ cổ: Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao. 224 Đa Hiệu 111

198 Traän Thöôøng Phöôùc, Hoàng Ngöï, 1964 Trận Thường Phước, Hồng Ngự Vương Võ Chiêu, K17 Tôi lớn lên ở Hà Nội. Khi đất nước chia thành 2 mảnh, tôi xuôi Nam vượt qua vĩ tuyến 17 theo dòng lịch sử. Chẳng có ý thức về tôn giáo lẫn thành kiến tự tại, cũng như không có chính kiến về đảng phái, tôi chọn binh nghiệp vào ngày chính biến 11/11/1960! Ngày 1/11/1963 là ngày kỷ niệm Đệ Thất Chu Niên ngày thành lập Liên Đoàn 77/ LLĐB (tiên khởi với tên Liên Đoàn Quan Sát Số 1 ). Nhân b u ổ i lễ, các trưởng toán khu vực (sau này đổi thành Toán B/ LLĐB), hoạt động bên cạnh các khu chiến thuật (sư đoàn bộ binh pision size) đều về hội họp như các Đ/U Tôn Thất Thuận ở Huế, Trịnh Văn Viễn (Sông Mao; nguỵ danh Tiểu Đoàn 10 Nhảy Dù), Đỗ Hữu Nhơn (trại Dù Tho-Ba Xuyên), NguyễnVăn Tửu (Trà Lòng, Lương Tâm-Chương Thiện), Cầm Ngọc Huân -ĐĐT/ ĐĐ1/ BCD, Vũ Dương Kiểm -ĐĐT/ ĐĐ2/ BCD, các Trung Úy Lê Tất Biên -ĐĐT/ ĐĐ3/ BCD, Nguyễn Quang Vinh -ĐĐT/ ĐĐ4/ BCD, Nguỵ Hiền (khoá 13, gốc Người Nhái HQ/VN), Từ Vấn, Hồ Tâm, Ngày này cũng là ngày đánh dấu chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sụp đổ! Khi buổi hội thảo đang diễn ra thì mọi người nghe tiếng súng nổ. Cuộc chính biến 1/11/1963 bắt đầu. 225

200 Giang. Nơi đây do Sư Đoàn 7 Bộ Binh, thuộc Quân Đoàn III, vùng 3 Chiến Thuật đảm trách. Trước khi đi nhận nhiệm vụ mới, tôi phải trình diện Trung Tướng Trần Ngọc Tám, Tư Lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu 3 Chiến Thuật (QĐ III & QK3CT). Ông nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi tôi có điều gì thắc mắc khi được chỉ định đi thay thế một sĩ quan cao cấp hơn? Tôi chỉ còn biết trả lời: – Tôi sẽ cố gắng thực hiện và thi hành công việc theo khả năng của một sĩ quan chuyên nghiệp và hiện dịch! Đúng một tháng sau, Trung Tướng Tám bay xuống căn cứ của tôi tại Đồng Tháp Mười. Tướng Tám được Đ/U Fontaine, Trưởng Toán Cố Vấn của LLĐB/ Hoa Kỳ trình bày rằng các khó khăn cũ đã được giải quyết, cũng như hoàn toàn thoả mãn với phong cách và phương thức làm việc của tân chỉ huy trưởng trại! (Căn cứ có 2 đại đội Kmer (Saray) (Sơn Ngọc Thành), 2 đại đội gốc Hoà Hảo, và 1 đại đội gốc Công Giáo.) Năm tuần sau ngày chỉnh lý 30/1/1964, ông Quận Trưởng quận Hồng Ngự, Kiến Phong và tôi -Trưởng Trại LLĐB An Long, được phi cơ chở về trình diện BTL/ QĐ III. Khi đi, tôi được biết Đ/U Nguyễn Đình Nghệ, thuộc Sư Đoàn 9 BB, vừa được thay thế Thiếu Tá Nguyễn Bá Thìn tự Long, làm Quận Trưởng quận Hồng Ngự. Chúng tôi được diện kiến Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, tân Tư Lệnh QĐ III & QK 3CT, vừa thay thế Trung Tướng Trần Ngọc Tám sau ngày chỉnh lý ngày 30/1/1964. Tướng Phát hỏi: – Anh Nghệ, tình hình địch (VC) trong chi khu của anh có gì đặc biệt? Đại Úy Nghệ trình bày: – Thưa Thiếu Tướng, tại Thường Phước cách Hồng Ngự 11 km về hướng Tây Bắc, có mật khu an toàn của chúng, nằm giữa biên giới Việt và Miên, không có dân chúng sinh sống, cả khu là cỏ đế và lác, xen kẽ cây chồi. Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 của VC thường trú ẩn ở đó. Khi nào có cuộc hành quân của SĐ Trận Thường Phước, Hồng Ngự 227

201 7BB thì chúng di chuyển sang phiá bên kia biên giới! Quay sang tôi, Thiếu Tướng Phát hỏi: – Vậy ông Biệt Kích mũ xanh, ông nhận thấy có gì đặc biệt không? – Thưa Thiếu Tướng, tôi thấy lời ông Quận Nghệ là tương đối chính xác. Tôi đã cử một số toán trinh sát lấy tin tức tình báo và ghi nhận được tình hình của địch quanh vùng. BTL/ QK2 của VC thường xuyên trú ẩn ở đây, do Tiểu Đoàn 307 bảo vệ. Tiểu đoàn này, được thành lập từ hồi chiến tranh Việt Pháp, hiện nay được Cuba viện trợ nên đổi nguỵ danh là Tiểu Đoàn Girong. Chúng thường đào giao thông hào và hầm hố để bảo vệ khu vực. – Nếu anh có quân số lớn hơn cấp trung đoàn, anh có ý kiến đề nghị gì không? Tướng Phát hỏi tôi. Tôi, hơi ngạc nhiên về câu hỏi này, Một nhóm Biệt kích VNCH chụp ảnh trong bộc trực trả lời: thời gian huấn luyện ở căn cứ. – Phiá Tây Bắc quận lỵ Hồng Ngự có con rạch chảy từ Miên xuống. Giáp ranh với sông Mekong có Điạ Phương Quân (ĐPQ) và Nghĩa Quân bảo vệ. Lại có một trung đội 105 ly yểm trợ. Tất nhiên địch không thể di chuyển qua tuyến án ngữ của Điạ Phương Quân được. Đồn Bến Đình phiá hữu ngạn sông Mekong, cách biên giới 500m về phiá Nam và có dân sinh sống. Nếu có đủ quân, tôi sẽ cho di chuyển từ đồn Bến Đình qua biên giới Miên khoảng 1500m, rổi đi dọc theo bờ sông Mekong về phiá Nam, địch không còn hướng nào chạy 228 Đa Hiệu số 111

202 kể cả trên sông Mekong từ Hồng Ngự tới Tân Châu vì đã có hai Giang Đoàn Xung Phong 24 và 25 của Hải Quân tuần tiễu 100%. Như vậy, địch không còn đường nào rút an toàn nên phải chấp nhận giao tranh từ Bắc xuống Nam. – Này ông Biệt Kích, ông có thể bảo đảm không lạc đường khi qua biên giới Miên không? – Chắc chắn tôi không thể lạc dù đi ban đêm. – Được! Các anh (ông quận trưởng và tôi) về đơn vị, tuyệt đối giữ bí mật. Sẽ có lệnh cho các anh thi hành theo kế hoạch hành quân đặc biệt của BTL/QĐ III. Nếu tôi nhớ không lầm, vào những ngày cuối tháng 2 năm 1964, tôi nhận được một phóng đồ hành quân của QĐ III & QK 3, cùng một công điện mang tay có lệnh cho tôi thi hành. Chi khu Hồng Ngự sẽ cung cấp 1 tiểu đội Nghiã Quân (am tường lãnh điạ) + 2 tiểu đội Biệt Kích (người điạ phương) để tăng cường và dẫn đường cho 2 tiểu đoàn 1 và 8 Nhảy Dù, do 2 Đ/U Nu và Thọ làm tiểu đoàn trưởng. (Đ/U Thọ sau lên Đại Tá và bị bắt ở Hạ Lào năm 1971.) Ngoài ra phải xử dụng tối đa lực lượng cơ hữu, giữ an ninh khu vực 500m chung quanh đồn Bến Đình, điạ đầu giới tuyến Việt Miên. Mọi lực lượng phải sẵn sàng vào ngày N (29 tháng 2 năm 1964), giờ G (1700 giờ). Đúng 1700 giờ ngày 29/2/1964, một chiếc trực thăng chở Thiếu Tướng Phát cùng 3 hoặc 4 sĩ quan tham mưu đến. Tôi trình diện Tướng Phát bên ngoài đồn ĐPQ. Tướng Phát hỏi tôi: – Tình hình địch thế nào? Còn hay đã rút đi? Tôi thành thật trả lời: – Tiểu đoàn 307 vẫn còn tại vị trí. Cách đây 3 ngày, một tiểu đoàn cơ động thuộc tỉnh Mỹ Tho của VC được tăng cường về đây. Đó là Tiểu Đoàn 512, hay Cơ Động Tỉnh 514. Tôi chưa phối kiểm được thực hư. – Theo anh thì quyết định thế nào? Tướng Phát hỏi thêm. Trận Thường Phước, Hồng Ngự 229

204 chi tiết khu vực hành quân cho Đại Tá Cao Văn Viên và ban tham mưu lữ đoàn Nhảy Dù, trong đó có Đ/U Tiến, Trưởng Phòng 3 Hành Quân của lữ đoàn. Những điều này là các chi tiết tôi đã trình bày cùng Thiếu Tướng Phát. Một Đ/U, cao dong dỏng, đeo kính trắng, hỏi tôi: – Các anh có thứ gì để soi sáng ban đêm khi cần không? Tôi trả lời: – Có 2 khẩu 81 ly và 1 khẩu 57 ly không giật mà thôi. Sau khi tôi phân phối các binh sĩ dẫn đường của Nghĩa Quân và Biệt Kích Quân cho 2 tiểu đoàn Dù xong, Đ/U Fontaine, Trưởng Toán A LLĐB/ Hoa Kỳ, ngỏ ý muốn tham dự trực tiếp cuộc hành quân. Tôi đã trả lời: – Nếu ông thích thì tham dự. Tôi quyết định xử dụng Trung Đội Trinh Sát Biệt Kích Quân đi sau chót Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, nhưng trước Ban Tham Mưu Lữ Đoàn Dù khoảng 30m. Trong phòng họp trước đây, có lẽ Đ/U Fontaine là sĩ quan Hoa Kỳ duy nhất tham dự thuyết trình. Tôi không thấy sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ nào khác vào họp. Tôi không rõ có viên cố vấn Hoa Kỳ nào đi với Lữ Đoàn Dù hay không vì 2 tiểu đoàn Dù này nằm ngoài đồn biên giới Bến Đình. Di chuyển ban đêm về hướng Tây Bắc (từ độ) tương đối dễ dàng vì địa thế toàn hoa màu và đồng ruộng. Khi di chuyển lên phiá Bắc biên giới khoảng vài trăm mét, đoàn quân được lệnh dừng lại nghỉ ngơi khoảng nửa giờ, rồi chuyển hướng về Nam (180 độ), cách sông Mekong khoảng 4km. Lúc đó, TĐ8 ND đi đầu, TĐ1 ND đi đoạn hậu. Người lính của Biệt Kích Quân mà tôi tin tưởng là một người lính Hoà Hảo cũ, thân cận với cậu Hai Ngón (Lâm Thành Xuyên). Hắn cho tôi biết: – Căn cứ điạ của VC hiện trước tầm tay. Đường bắt đầu khó di chuyển vì cỏ đế và sậy cao hơn đầu người. Trận Thường Phước, Hồng Ngự 231

205 Tôi cho truyền tai báo lại phiá sau. Được tin, Ban Chỉ Huy và Tham Mưu Dù cho lệnh dừng lại. Trong khi đó, toán quân di chuyển về phiá Nam tiếp tục gần một giờ mới cho bố trí và nghỉ ngơi. Tờ mờ sáng ngày 1/3/1964, địch khai hoả vào BCH của lữ đoàn và TĐ1 ND. Trong khi đó TĐ8 ND đã vượt quá căn cứ điạ của VC. Đ ị c h đã căn sẵn đạn đạo, xả súng tối đa bắn sát mặt đất vào vị trí của TĐ1 ND. Lực lượng bạn bị khớp lúc đầu vì thiệt hại Một đơn vị Nhảy Dù đang hành quân tại Vùng 4 khá nặng, Chiến Thuật. nhưng kiên cường chống trả mãnh liệt. TĐ8 ND lấy lại đội hình, xử dụng hồi mã thương đánh quất ngược vào phòng tuyến địch. M113 của Chi Đoàn 6 thuộc Sư Đoàn 7BB, do Th/ Tá Lý Tòng Bá chỉ huy, áp sát, tác xạ, và ủi sập các hầm hố và chướng ngại vật của địch. Trận đánh chỉ kéo dài trong 30 phút nhưng tổn hại không nhỏ. Một số binh sĩ, hạ sĩ quan, và sĩ quan của TĐ1 ND bị chết hoặc bị thương. Đ/U Tiến, Trưởng Phòng 3 bị hư một mắt và chân phải bị thương nặng. Đại Tá Cao Văn Viên bị thương nhẹ ở vai phải, phiá sau lưng. Số binh sĩ bị thương vong được đưa về phi trường An Long (kinh đào Đồng Tiến) rồi được phi cơ C123 không vận về Saigon. Ba binh sĩ Biệt Kích Quân bị thương ở chân. Cuộc hành quân chấm dứt vào chiều ngày 232 Đa Hiệu số 111

206 1/3/1964. Địch đã bị tổn thất rất nặng nề trong trận này. Tên của Tiểu Đoàn 307 VC không còn thấy xuất hiện trên bản đồ hành quân nữa. Mãi sau này, vào năm 1969 mới thấy xuất hiện Trung Đoàn 67 Đặc Công G (Girong). Khi chúng xâm nhập vào Thất Sơn, đã bị LLĐB/ B20 xoá sổ tại mật khu Hà Tiên năm Nhận xét chung: Trong trận đánh xảy ra ở Thường Phước, quân ta không có Pháo Binh yểm trợ, vì trung đội 105 ly ở Hồng Ngự vượt quá tầm bắn, trong khi đó đơn vị hành quân không được dùng 155 ly ở Tân Châu vì đơn vị này thống thuộc Quân Đoàn IV. Trong kế hoạch hành quân, không dự trù phối hợp hoả lực giữa 2 quân đoàn. Ngoài ra đơn vị hành quân cũng không được Không Quân yểm trợ. Tháng 12 năm 1964, một trận đánh khác rất khốc liệt đã xảy ra khiến tổn thất của ta tương đối nặng nề, Một tiểu đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến do Th/T Nho chỉ huy hành quân ở Bình Giã, được tăng phái cho BTL/QĐ III, khi giao tranh không có pháo binh yểm trợ, chỉ trông chờ vào một chi đội chiến xa của Thiếu tá Lý Tòng Bá và không yểm! Ngoài ra TĐ7 ND được xử dụng ở mặt trận Đồng Xoài chỉ trông chờ duy nhất vào không yểm. Pháo Binh là nhu cầu cần thiết nhất cho bộ binh, yểm trợ 24/24 giờ, chống lại mọi thời tiết, dù mưa bão hay nắng hạn. Rất tiếc! Phụ chú: Ngày 21/4/1964, tôi được thăng cấp trung uý chỉ huy theo đề nghị của Đại Tá Lam Sơn, Tư Lệnh LLĐB. Trận Thường Phước, Hồng Ngự 233

207 Vuøng Trôøi Theânh Thang Tường Thúy, K20/1 Vừa đung đưa chiếc nôi nhè nhẹ cho thằng bé Jémy ngủ, tôi vừa lật từng trang cuốn album của Phi Phượng, đứa con gái út bé bỏng của tôi. Những tấm hình từ lúc mới quen nhau của Jack và Phượng, những tấm hình đám cưới hai đứa ở LasVegas, những tấm chụp Jack tươi cười cùng đồng đội, tấm hình Jack với đầy đủ balô, súng ống trước khi đi hành quân trên chiến trường Iraq, cho đến những tấm chụp ngày đưa tiễn Jack lần cuối cùng tại nghĩa trang Arlington lần lượt hiện ra trước mắt tôi. Tôi dừng thật lâu trước tấm ảnh của con gái, với cái bụng bầu lúp lúp đang cúi xuống hôn lên bờ môi đã giá lạnh của người chồng yêu thương một đời của con. Tội nghiệp cho Phượng của mẹ, con còn quá trẻ để làm một goá phụ cô đơn. Tôi nghe cay cay bờ mắt. – Mẹ! Tiếng gọi của Phượng ngay ở cửa phòng. – Gì đó con? Tôi hỏi mà không quay lại và lấy tay lau nhanh những giọt nước mắt đang đọng trên mi. – Mẹ lại khóc nữa rồi? Con đã đến bên tôi, nó cầm lấy cuốn album gập lại. – Mẹ xem làm gì những tấm hình buồn này. Hãy để cho Jack ra đi thanh thản, mẹ đã bảo con như vậy mà, sao mẹ. 234 Đa Hiệu 111

208 Con đang cố quên Jack đây. Mẹ lại làm con khóc rồi. Tôi ôm lấy khuôn mặt của con gái, lau những giọt nước mắt đang chảy dài trên má con mà trong lòng đầy ân hận: – Mẹ xin lỗi con. Thôi đừng khóc nữa, con nói đúng, mình nên để Jack được thanh thản ở bên kia cuộc đời. Con phải cố quên để sống như mẹ đã cố quên bố con vậy. Phượng nhìn tôi. Trong ánh mắt nó, tôi đọc được câu hỏi: Có thật mẹ đã quên bố không? Nhưng nó không nói ra chỉ thở dài rồi đứng lên cất cuốn album vào ngăn kéo: – Mẹ trông bé Jémy dùm con, con ra ngoài một chút. Cám ơn mẹ. Phượng đi ra. Một lúc sau tôi đến bên cửa sổ nhìn xuống, chiếc camry mầu đỏ của con vừa khuất sau góc đường. Tôi thấy lòng buồn rười rượi: Tội nghiệp con bé mới 25 tuổi đầu mà đời đã sớm trân chuyên, không lẽ nó giống mình? Tôi còn nhớ cách đây hơn một năm, ngày nó báo tin với tôi và Thảo, cô em chồng cuả tôi, là nó sẽ làm đám cưới với Jack, cả nhà đã mừng. Nhưng khi biết chồng nó là một người lính và sắp sửa phải đi qua Iraq cùng đồng đội, thì Thảo phản ứng dữ dội. Cô nêu đủ lý do để cháu mình hiểu cuộc đời làm vợ lính bất trắc như thế nào, và mẹ nó là một minh chứng hùng hồn nhất. Nhưng tất cả đều vô ích, Phượng không muốn nghe, với con chỉ có một lý do duy nhất: Con yêu anh ấy, cô ạ. Không khuyên được cháu, Thảo giận lây tới tôi vì tội không biết dạy con, nên sau đám cưới của cháu gái, cô bỏ qua Detroit, sống với cháu trai, anh của Phượng. Nghĩ cũng tội nghiệp cho Thảo, qua Mỹ được vài năm thì Trí, chồng Thảo, mất trong một tai nạn xe hơi, hai vợ chồng lại không có con nên Thảo về ở chung với mẹ con tôi. Tôi nhớ hôm Phượng đưa Jack về để giới thiệu với tôi và Thảo. Dù Phượng và Jack quen nhau đã lâu, nhưng chưa bao giờ Phượng đưa bạn trai của nó về thăm gia đình. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng mà tôi được gặp Jack, khi Vùng Trời Thênh Thang 235

209 hai đứa về thăm mẹ và cô, để thông báo quyết định qua Las Vegas làm đám cưới, sau đó sẽ dọn qua sinh sống ở tiểu bang Minisota, nơi Jack làm việc: – Cô Thảo ơi, mẹ ơi, con đưa Jack về chào cô và mẹ đây. Một tuần nữa chúng con bay qua Las Vegas. Mẹ và cô nhớ mặc bộ đồ mà con mua để dự đám cưới của con nhe. Jack à, đây là mẹ và cô Trí của em. – Hi Mommy, hi Aunt Trí. Nice to meet you. Jack dơ bàn tay thân thiện về phía Thảo với nụ cười thật đẹp, nhưng cậu ngạc nhiên khi thấy cô xoay lưng bỏ vào trong nhà với vẻ mặt khó chịu, cậu quay lại nhìn Phượng với ánh mắt dò hỏi. Phượng cũng nhìn lại Jack, mỉm cười rồi lắc nhẹ đầu trong cái nhún vai ngụ ý: Em cũng không hiểu. Thấy vậy, tôi gỡ rối tình hình bằng cách nắm lấy bàn tay còn đang ngỡ ngàng giữa chừng của Jack: – Hi Jack, I m so glad to meet you too. Jack vòng tay ôm nhẹ lấy vai tôi: – You are wonderful, Mommy! Còn đang miên man nghĩ về Phượng, tôi chợt giật mình vì tiếng khóc của bé Jémy. Quay vội lại, vỗ vỗ nhẹ vào người cháu, tôi dỗ dành: – Ôi chao, cái thằng cún của bà, đói bụng rồi phải không? Đây, có sữa cho con đây. Được vỗ về, thằng bé toét miệng cười, nụ cười đẹp như nụ cười của những thiên thần trong tranh vẽ. Jémy cười rất giống bố. Chỉ gặp Jack có một lần, nhưng nụ cười của Jack, tôi không bao giờ quên. Giờ đây một phiên bản của Jack đang ở trước mặt tôi, cái má đỏ hồng, mũm mĩm, cặp mắt xanh lơ thật đẹp, cặp môi mọng mọng đang nút lấy nút để sữa trong bình. Thằng con rể tôi đẹp thế, dễ thương thế mà sao vắn số. Nghĩ tới Jack rồi tôi lại miên man nghĩ về Phi. Thời gian trôi đi nhanh quá. Kể từ ngày Phi nằm xuống thế mà đã gần nửa 236 Đa Hiệu 111

210 thế kỷ rồi. Nửa thế kỷ mình xa nhau, nửa thế kỷ em luôn nhớ về anh không lúc nào nguôi, Phi ơi. Với tay lấy tấm hình của Phi ôm vào ngực và dĩ vãng thương yêu lại như một lượn sóng đang trào dâng trong lòng tôi. * * * – Kim ơi, hôm nay về với tao nhe, tao cho mày quá giang. Đang cho sách vào cặp, tôi ngừng tay nhìn Thảo như nhìn một quái vật: – Điên à, nhà mày ở đàng Đông, tao ở đàng Tây mà quá giang cái quái gì? Gần thi rồi đó chị hai, bộ dư thời gian lắm sao mà mua việc thế. Cám ơn mày, tao đi xe buýt được rồi. Ơ, mà bữa nay mày nói với tao là xe mày hư, mày đi học bằng xe lam mà? – Thì thây kệ tao đi, miễn sao tao có cách cho mày quá giang là được chứ gì, nhiều chuyện. Cất sách vào lẹ lên rồi đi theo tao. Vừa nói Thảo vừa phụ tôi cho sách vào cặp, rồi nắm tay tôi, nó kéo nhanh ra khỏi lớp. Qua khỏi cổng trường, tôi vẫn còn đang ngẩn ngơ và không hiểu Thảo sẽ cho tôi quá giang bằng cách nào, thì thấy một chiếc xe hơi mầu xám chợt trờ tới. Thảo kéo tôi đi về phía chiếc xe: – Anh tao đến rồi, đi lẹ lên mày. Chiếc xe ngừng lại, cửa mở, một người lính mặc đồ Nhẩy Dù với chiếc mũ beret đỏ đội lệch trên đầu, bước xuống, đi vòng qua phía bên này xe, mở cửa, rồi nhìn hai đứa tôi với gương mặt nghiêm nghị, không một nụ cười, lạnh băng: – Thảo đưa bạn lên xe đi. Tôi cúi nhẹ đầu chào và còn đang thắc mắc, người gì đâu mà lạnh lùng thái quá, nhìn mất cảm tình, thì đã bị Thảo đẩy đến trước mặt người lính: – Anh Phi, đây là Kim, bạn thân của em nè, anh thấy nó Vùng Trời Thênh Thang 237

211 có dễ thương không? Còn đây là anh Phi, anh Hai tao mà tao vẫn kể cho mày nghe về anh ấy đấy. Mày thấy anh tao có beau (đẹp) giai không? Câu hỏi của Thảo rơi vào quãng không, vì chả ai trong chúng tôi trả lời nó cả. Nhất là tôi, lúc này thật sự tôi hơi lúng túng, ngượng ngập không biết phải làm sao, phải nói sao trước một tình cảnh bất ngờ như thế, hơn nữa mình lại đang nghĩ không tốt về anh của nó. Dù không phải ngồi trong lò lửa mà tôi cũng cảm thấy hai tay mình rịn đầy mồ hôi, mặt tôi lúc đó chắc phải đỏ lắm. Tôi còn đang lí nhí trong miệng: Chào anh thì Thảo đã nhanh nhẹn ấn tôi vào băng ghế trước: – Mày ngồi trên này đi còn nói chuyện với anh ấy. Nói xong nó nhảy tót ra phía sau chui vào trong xe và đóng sầm cửa lại. Tôi chưa kịp nói câu Tao có chuyện gì đâu mà nói thì tôi chợt nhìn thấy một cái nhếch mép trên khuôn mặt của Phi, nhưng không phải là nụ cười, thế là tôi im bặt. Đóng cửa xe cho tôi xong, anh lẳng lặng về vị trí của mình và lái đi. Sự lãnh đạm của ông anh nhỏ Thảo, làm tôi mất tự nhiên, từ đó tôi ngồi im như tượng đá. Trong đầu tôi những nhận xét về Phi lại trở lại. Người gì đâu mà khó ưa, lời nói thì khô khan, mặt mày thì cứ lạnh như tiền, chả biết ga lăng là gì cả, có họa là điên mới ngồi chung xe với anh ta. Tôi đang tính xem phải nói cách nào để anh ta ngừng cho mình xuống, thì nhỏ Thảo đã lại chồm người lên phía trước: – Ơ hay, sao nãy giờ chả ai chịu trả lời câu hỏi của Thảo hết vậy. Anh Phi, anh thấy nhỏ Kim, bạn em có dễ thương không? Dễ thương không anh? – Ừ. – Ừ nghĩa là làm sao? Có dễ thương hay là không, anh? – Có 238 Đa Hiệu 111

212 – Có, chỉ có thế thôi à. Chán cái ông này quá, không nói lấy được hai chữ. Ê, còn mày, Kim, mày thấy ông anh tao sao? Đẹp trai không? Nghe Thảo đang chất vấn anh nó về mình, tôi biết nó sẽ không tha tôi. Nhân thấy Phi nói về tôi một cách nhạt nhẽo, tôi đã nghĩ, sẽ trả đũa lại sự nhạt nhẽo này cho thật công bằng, vì thế khi được hỏi tôi cũng dùng thái độ hờ hững đáp lời nó: – Đẹp. – Còn gì nữa? – Hết. – Ơ hay, con khỉ này. Lấy tay đập vào vai tôi, Thảo cao giọng. Mày học ở đâu cái thói ăn nói cộc lốc thế? Không trả lời nó, tôi hất đầu, nhìn về phía Phi, và trong một thoáng tôi bắt gặp nụ cười của anh, một nụ cười thật đẹp, và cũng là nụ cười độc nhất của lần gặp gỡ đầu tiên này. Sáng hôm sau, vừa vào đến lớp Thảo nhảy ngay đến chỗ tôi ngồi, đứng trước mặt tôi, nó nheo nheo cặp mắt:- Mày thấy ông anh tao ra sao? – Sao giăng gì ở đây? – Đừng có ỡm ờ, tao hỏi thật, mày có nhận xét gì về ông anh tao? – Sao lại ỡm ờ, con này lạ à nhe, anh của mày sao lại bảo tao nhận xét là răng? Thảo có vẻ giận, ngồi phịch xuống bên cạnh tôi, giọng cáu kỉnh: – Răng, răng cái gì, tao hỏi thật mà mày cứ đùa là thế nào? Thấy vậy tôi nhăn răng cười với nó: – Ừ, thì thôi không đùa nữa, sao mà dễ giận thế? Được rồi, để tao nghĩ xem nào. Ông anh mày trông thì cũng khá đẹp trai đấy, nhưng chỉ có một cái tội là mặt mày lúc nào cũng lầm lầm Vùng Trời Thênh Thang 239

213 lì lì như chì đổ lỗ ấy. Cô nào vô phước vớ phải ông anh mày thì có nước mà điên thôi. Tao thì tao sợ điên lắm nên không dám đụng vào. – Cái con nhỏ này vô ơn dễ sợ, ổng đãi mày tới hai ly kem vậy mà bây giờ mày chê ổng không ra làm sao cả. – Ê, cái này là ông anh mày tự nguyện đãi tao à nhe, chứ tao không đòi hỏi à. Bộ ăn rồi là không được nói thật sao. Tao chỉ có sao nói dzậy người ơi thôi. À mà khoan đã, bộ mày định đem tao gả cho ông anh mày đấy hả? Đừng rỡn nhe, làm ơn tha cho tao, tao chưa muốn vào Dưỡng Trí Viện Biên Hoà đâu. Tao nói rồi đó. – Kim ơi, hông phải như mày nghĩ đâu, lúc trước anh tao rất là dễ thương, vui tính. Nhưng có lẽ sau khi thất tình chị Hiên, bồ của ảnh bỏ qua Pháp du học, là ảnh đổi tính đó. Tao nghĩ vậy. – Vô lý, chị Hiên đi du học rồi sẽ về, hơn nữa họ có thể liên lạc với nhau, làm gì đến nỗi Hổng lẽ chị ấy bỏ ông anh mày luôn sao? Tao thấy ông anh mày có nhiều điều kiện để các cô mê lắm mà. Nào là đẹp trai này, lại là lính nhảy dù hào hoa phong nhã, lại con nhà giàu nữa, kiếm đâu ra. Bỏ phí thế! Bộ bà này không có tim chắc? – Tao không rõ lắm, nhưng nghe anh tao nói hình như bà ấy sẽ không trở về nữa, muốn lấy chồng Tây thì phải. Đi du học chỉ là cái cớ thôi. – Bà ấy có đẹp không? – Đẹp, đẹp tuyệt vời luôn. – Ối, cái thứ con gái như vậy ấy à, có đẹp như tiên, gặp phải tao là tao bỏ không tiếc. Việc gì mà phải buồn cơ chứ. – Mày nói như bố con chó xồm ấy, mày là con gái nên mày nghĩ thế, chứ thử mày là con trai coi, chỉ sợ em lại chả phát điên, phát khùng lên mà vào Chợ Quán ở í à. Ờ mà hồi nãy mày nói bỏ ông anh tao bơ vơ vậy phí quá phải không, hay 240 Đa Hiệu 111

214 mày vớt ông ấy đi. Hi hi hi. Trợn mắt nhìn cái mặt nhăn nhăn, nhở nhở của Thảo, tôi nổi nóng: – Này, này, vừa vừa, phải phải thôi nhe, tao chưa đến nỗi nào ế chỏng ế trơ ra để mà phải làm hình nhân thế mạng cho ai đâu. Dẹp cái ông anh của mày lại. Mày đem về kho mắm hay làm gì thì làm. Về chỗ mày ngồi đi, đừng ở đây mà chọc giận tao. Thấy tôi giận, Thảo tủm tỉm cườì đi về chỗ mình. Trước khi đi, nó còn quay đầu nói với lại một câu: – Đừng nói trước mà bước không qua nhe cưng. Đúng tôi giận Thảo, vì tôi nghĩ nó coi thường mình nên hai hôm nay tôi không thèm nói chuyện với nó. Thảo cũng không tìm tôi lúc tan trường nữa, nhưng mỗi khi nó trông thấy tôi là nó lại tủm tỉm cười rồi bỏ đi, Chiều nay cũng vậy, Thảo cũng không đến tìm tôi, nó biết tôi còn giận vì mặt tôi lúc nào cũng hầm hầm khi gặp nó, còn tôi thì đợi mọi người ra hết rồi mới rời lớp. Lững thững bước ra cổng, tôi ghé xe bán cóc ổi mua một gói me ngào đường, vừa đi vừa nhấm nháp. Một chuyến xe buýt vừa chạy qua. Rồi, trễ chuyến xe này rồi. Tôi lẩm bẩm. Tới bến xe, đứng tựa lưng vào gốc cây, vừa thưởng thức gói me của mình, vừa nhìn những lá me bay lả tả trong cơn gió, đẹp làm sao. Đang mơ mộng, bỗng tôi nghe có tiếng gọi tên mình ở sau lưng, quay đầu lại, tôi giật bắn mình. Phi đó, anh chàng đứng bên chiếc xe gắn máy Honda 100 phân khối màu đen, đang cười với tôi. Vẫn nụ cười thật đẹp đó, nụ cười độc nhất của anh mà tôi thoáng nhìn thấy trong lần gặp gỡ đầu tiên. Chưa hết bàng hoàng thì Phi đã đến sát bên tôi: – Anh làm Kim giật mình hả? Tôi lúng túng dấu gói me vào cặp sách: – Dạ Vùng Trời Thênh Thang 241

217 – Ông anh tao viết thơ cũng tình đấy nhỉ, nhưng thiếu mất mấy câu. – Câu gì? – Hôn em. Hôn em nhiều thiệt là nhiều. – Vô duyên Tuy nói vậy nhưng trong đầu tôi đang nghĩ, nếu như Phi hôn tôi thật thì cảm giác của tôi sẽ như thế nào nhỉ, má tôi chợt nóng bừng lên và trái tim tôi hình như lại đập sai nhịp. May quá nhỏ Thảo không để ý. Sau lá thư đầu tiên Phi viết cho tôi, tôi còn nhận thêm mấy lá thư nữa. Mấy lá sau này Thảo không còn đòi coi ké nữa: – Thôi, trả lại sự riêng tư cho mày. Mày khỏi phải nghe lời bàn Mao Tôn Cương của tao nữa, khoái chưa? Đương nhiên là tôi khoái rồi và nhất là những lời ngọt ngào xa gần của Phi đã cho tôi hiểu là anh rất mến tôi. Và tôi cũng thấy mình đã bắt đầu nghĩ về anh. Thế rồi, thư anh gửi tôi mổi lúc một nhiều hơn và lời lẽ trong thư cũng mặn mà hơn. Tôi đang có một giấc mơ thật đẹp. * * * Tử giảng đường bước ra, tôi ngước nhìn bầu trời. Saigon đang vào Thu, nhìn những tàng cây thay sắc lá, nhìn những đám mây trắng lãng đãng trên cao, một chút gió hiu hiu chợt thoáng qua, tôi thấy lòng mình thanh thản lạ thường, nhẹ nhàng lạ thường. Tôi tự cho phép trái tim mình có một chút thời gian để mơ mộng, để thưởng thức vẻ đẹp của đất trời, và lúc này tôi chợt nghĩ đến một người, tôi đã nghĩ đến Phi. Phải chi có anh bên cạnh thì khung trời thơ mộng của tôi sẽ đẹp biết bao nhiêu. Ờ, sao lâu quá rồi chưa thấy anh về phép. Qua lá thư gửi cho tôi, anh nói có chuyện muốn nói với tôi, tôi rất tò mò và sốt ruột không biết anh sẽ nói với tôi điều gì nhỉ? Còn đang miên man nghĩ về anh, chợt có tiếng gọi tên tôi ở bên kia đường, tôi nhìn sang, thì ra là anh Lộc, một người bạn của ông 244 Đa Hiệu 111

218 anh tôi. Lộc quành xe đến chỗ tôi: – Kim đi học về à? Lên xe anh chở về cho. – Cám ơn anh. Sao hôm nay anh rảnh thế, tự nhiên lại đòi chở em về? Nhưng thôi, hôm nay trời đẹp thế này em muốn lang thang một chút. Anh về trước đi. – Thế thì anh cũng bắt chước Kim lang thang luôn. – Không được, em chỉ muốn đi một mình thôi. Đi với anh, ai gặp lại tưởng anh là bồ của em, về mách anh em là bị ăn đòn chết luôn. – Anh nghĩ anh Toàn sẽ không la em đâu khi biết em đi với anh, hơn nữa em đã lớn rồi, thì cũng có quyền có bồ chứ. Mà anh là bồ em không được à? Tôi vẫn biết trong đám bạn của anh Toàn, những người theo đuổi tôi, Lộc là người bám sát tôi nhất. Anh thường xuyên đến nhà tôi lấy cớ tìm anh tôi mà ngồi lại thật lâu, dù những hôm đó anh Toàn không có nhà. Biết rõ tình cảm của anh đối với tôi, nhưng tôi chỉ coi anh như một người anh, như anh mình thôi, không một chút rung động nào dành cho anh cả, vì thế khi nghe anh mở lời, tôi chỉ cười nhẹ: – Làm sao mà anh là bồ em được, em còn con nít trân hà, em chả nghĩ đến chuyện ấy bây giờ đâu. Thôi anh về đi, để em lang thang một mình, em thích hơn. – Kim – Anh về đi mà Còn đang giằng co thì một chiếc xe hơi đậu sát ngay chỗ tôi và Lộc đứng. Phi từ trên xe bước xuống với một bộ mặt hình sự. Anh đến bên tôi: – Thảo nó bị té xe, đang nằm trong nhà thương, em vào với nó đi. Không cần biết tôi có nhận lời hay không, anh mở cửa xe, ôm ngang lưng tôi đẩy vào trong, xong quay sang Lộc: Vùng Trời Thênh Thang 245

220 – Là gì nhỉ? Một người bạn, một người Tôi chưa kịp nói hết câu, Phi đã quẹo xe ngay vào lề đường và thắng két lại. Tôi giật bắn mình: – Anh làm gì vậy? Không trả lời, Phi đột ngột, chồm nhanh người sang bên, hai tay ôm lấy đầu tôi. Chưa kịp có một phản ứng nào tôi đã bị một nụ hôn mạnh như vũ bảo gắn chặt lấy môi mình. Tôi gần như nghẹt thở, cả người tôi run lên. Một lúc sau, Phi buông tôi ra, nhìn tôi. Lúc đó nước mắt tôi tự nhiên trào xuống. Tôi cúi mặt, hai vai rung lên. Phi nhẹ nâng mặt tôi lên, lấy tay lau những giọt nước mắt vừa trào ra trên má, khẽ nói: – Anh xin lỗi, đừng khóc nữa Kim. Thấy tôi vẫn còn thút thít, không nói mà cũng không nhìn anh. Phi kéo nghiêng người tôi về phía anh, nhìn vào mặt, giọng nói đầy vẻ lo lắng: – Em giận anh sao? Thật ra, anh không thể chịu đựng được khi thấy em thân mật với anh ta như vậy. Anh ta là ai mà lại đến trường đón em? – – Đừng giận anh nữa, nói cho anh biết đi. Kim, nhìn anh nè. Em có biết em làm anh buồn lắm hay không? Em nói chuyện với người con trai khác mà không nhớ tới anh sao? – Nhưng anh có là gì của em đâu mà anh bắt em phải nhớ tới anh, không cho em tiếp xúc với người con trai khác? Tôi đã ngưng khóc và lúc này bản tính ngổ ngáo của tôi nổi dậy: – Anh có bạn, cô Hiên đó, lại là bạn gái của anh, thì em cũng phải có bạn chứ. Anh Lộc là bạn em, có gì đâu mà anh lại cáu với em: Thằng này là thằng nào? Anh coi thường bạn em tức là anh coi thường em. Em nghèo, em không giàu, không đẹp bằng Hiên nhưng em không chấp nhận ai coi thường em Vùng Trời Thênh Thang 247

221 hết, nhất là người đó lại là anh! Nói xong, tôi gạt tay Phi đang ôm vai tôi, định mở cửa xe bước xuống, nhưng Phi đã nhanh hơn, anh ôm bờ vai tôi lại và nhìn thẳng vào mắt tôi: – Em ghen với Hiên? Tôi lúng túng môt gìây nhưng rồi lấy lại bình tĩnh, tôi cao giọng: – Ơ Tại sao em phải ghen với Hiên, anh có yêu cô ấy hay là ai khác cũng đâu có mắc mớ gì tới em. Em bất quá chỉ là bạn của em gái anh mà thôi, anh đâu là gì của em mà em phải ghen. Em Đang nói tôi chợt thấy nét mặt Phi như vui hẳn lên, anh cứ tủm tỉm cười, tôi ngưng lại nhìn anh, mặt hơi cau lại: – Anh cười cái gì vậy, bộ em nói không đúng sao? Nụ cười vẫn không tắt trên khuôn mặt anh: – Không, em nói đúng lắm, em không ghen, chỉ hơi có một chút khó chịu khi em nghĩ anh vẫn còn có cảm tình với Hiên. Nhưng cho dù em có ghen thì điều này cũng đúng thôi vì nó chứng tỏ là em yêu anh, cũng như anh ghen với Lộc vì anh yêu em. Kéo mặt tôi cho sát gần mặt anh, nhìn tôi bằng cặp mắt say đắm, Phi tiếp giọng nhẹ như hơí thở, – Minh Kim, em có biết anh yêu em không, yêu nhiều lắm? Tôi chưa kịp nói gì thì anh kề sát môi mình vào môi tôi, một nụ hôn nhẹ nhàng, đầy nồng nàn, say đắm. Tôi nhắm mắt lại, không còn gì để nói, không gian như đặc quánh chỉ còn lại mình anh và tôi. Từ sau lần gặp đó, tôi thấy đời đẹp quá, toàn màu hồng. Phi cam kết với tôi là Hiên chỉ còn là nhân vật trong dĩ vãng mà thôi, mà dĩ vãng đã qua rồi thì không thể trở lại. Với anh chỉ những gì có ở hiện tại mới cần trân quí vả giữ gìn và tôi chính là hiện tại của anh. Từ đó, con bé hay mơ mộng như tôi luôn 248 Đa Hiệu 111

222 vẽ trong đầu những hình ảnh tưởng tượng về một tương lai thật đẹp bên người mình yêu. * * * – Kim vào đây anh bảo – Có chuyện gì thế anh? – Hình như em đang quen một người con trai phải không? Tôi giật mình: – Dạ – Có người gặp em với Thảo đi ăn kem với một người con trai ở Brodard. Anh ta là lính? Không để tôi trả lời anh nói tiếp: – Em đã lớn rồi, đã là sinh viên đại học rồi, có bạn trai là chuyện bình thường, nhưng anh chỉ nhắc em một điều, quen với lính, nhất là lính tác chiến, thì phải rất cẩn thận, mấy ông này nổi tiếng là đào hoa, bạt mạng lắm đấy. Em nên coi chừng. – Em nghĩ cũng tùy người thôi anh. – Anh biết, nhưng vì em gái anh khù khờ quá nên anh lo. Anh nhắc chừng em vậy thôi, phải suy nghĩ cho kỹ đừng để ân hận về sau. Nghe anh Toàn nói, tôi nghĩ ngay đến Lộc, chắc anh chàng này lại lời ra, tiếng vào gì với anh tôi về Phi rồi, tôi thấy giận Lộc vô cùng: – Con trai gì mà bẻm mép! Tuy nhiên lời cảnh cáo của anh Toàn không phải là vô lý và thừa. Tôi đã quên mất là mình đã từng cự tuyệt Thảo khi nó bảo tôi, Vớt anh của nó. Tao không muốn làm hình nhân thế mạng cho ai cả. Cô nào vô phước vớ phải ông anh mày thì có nước mà điên thôi, tao thì tao sợ bị điên lắm Thế mà bây giờ tôi lại u mê gần như chấp nhận làm hình nhân cho Hiên. Một nụ hôn và một lời nói yêu tôi, đã đủ thuyết phục để Vùng Trời Thênh Thang 249

223 tôi tin anh đến với tôi thật lòng chưa? Anh Toàn nói cũng đúng, tôi phải suy nghĩ cho thật kỹ chứ không thể buông thả cho tình cảm đi lang thang như thế. Hơn nữa là Hiên rất đẹp, đẹp tuyệt vời như lời tả của Thảo. Hiên đã đẹp như thế, thì làm sao Phi có thể quên dễ dàng đến với một con bé như tôi, sắc vóc chỉ trên trung bình một tí, gia đình lại không giàu sang, bề thế như gia đình Hiên. Làm sao tôi có Một thời áo trắng (Không phải của tác giả) thể giữ được chân anh, giữ được chân một người lính Dù hào hoa phong nhã, gia đình giầu có được. Hãy suy nghĩ cho kỹ đừng để ân hận về sau. Câu nói của anhtoàn đã đánh thức lý trí của tôi tỉnh dậy. Tôi phải sáng suốt để nhận đâu là việc nên làm và việc nên tránh, nhất là không được phép có ảo tưởng. Thế nhưng lý trí thì nói vậy, còn tình cảm thì sao? Tôi biết mình vẫn dồn niềm tin cho Phi, vẫn tin anh không phải là người tráo trở, đổi thay dễ dàng, vẫn yêu anh thật nhiều, vẫn không bao giờ muốn mất anh cả. Thế mới biết mãnh lực của tình yêu là như thế nào. Vậy mà, cách đây một tháng, hôm đó sau khi tan học, Thảo rủ tôi đi mua vải may áo dài. Hai đứa lang thang trên đường Lê Lợi. Đi ngang tiệm sách Khai Trí, tôi vô tình nhìn vào và 250 Đa Hiệu 111

225 một tình yêu lỡ làng ** Một tháng trời trốn tránh không làm tôi bớt đau khổ, trái lại tôi càng nghĩ đến Phi nhiều hơn, nghĩ trong cay đắng, nghĩ trong nỗi xót xa cho bản thân mình. Biết trốn tránh không phải là giải pháp tốt nhất để quên, mà muốn quên được tôi cần phải đối diện với vấn đề của mình. Tôi quyết định đương đầu với nó, nếu gặp được Phi, tôi sẽ dứt khoát chia tay anh. * * * – Con khỉ mày đi đâu mà cả tháng nay tao và anh Phi tìm mày không gặp vậy. Mà sao trông mày hốc hác thế kia? Ốm hả? Thảo trách tôi, khi gặp tôi tại cổng Thư Viện Quốc Gia. Tôi hờ hững trả lời nó: – Ừ, tao đau. – Đau làm sao, trông mày xanh lắm, anh Phi mà thấy mày như vậy chắc là ảnh lo lắm đấy. Ờ, mà mày đi đâu tao đến nhà cũng không gặp mày. Anh Phi vừa nhờ tao đưa mày lá thư, mày đọc xong nhớ trả lời cho anh ấy nhe. Tôi nhìn lá thư Thảo đưa một cách lãnh đạm: – Dạo này tao bận lắm chắc không có thì giờ viết thư cho anh mày đâu, mày nói anh ấy đừng viết cho tao nữa. Thôi tao về đây. Nói xong tôi quay lưng bỏ đi. Thảo ngẩn ngơ, một lúc sau đuổi theo, nắm tay tôi kéo lại: – Mày sao vậy, có chuyện gì sảy đến với mày, nói tao nghe đi? Tao thấy mày lạ lắm. Sao mày không nhận thơ của anh ấy. Tôi nhếch mép cười đau khổ: – Nhận để làm gì? Mà thôi không có gì đâu, mày về đi. Tao đang bận, để khi khác sẽ nói chuyện với mày. Vừa lúc đó một chiếc taxi trờ tới, tôi vẫy xe và vội vã bước 252 Đa Hiệu 111

226 lên. Thảo bước theo tôi, nó ném lá thư vào xe rồi quay mình chạy đi, bỏ mặc tôi với lá thư của Phi. Về đến nhà, vào buồng đóng cửa lại, tôi nằm vật xuống giường, nhắm mắt lại. Hơn một tháng trốn tránh để không phải nghe nói về Phi từ Thảo, cũng như không nhận những lá thư của anh, tôi đã sống quay quắt trong đau khổ chỉ vì tôi tin Phi yêu tôi, anh đã quên Hiên. Bây giờ sự việc sảy ra thật bất ngờ và đau đớn cho tôi. Tôi đành tự bắt mình phải quên Phi đi, Phi không phải là người dành cho tôi, chỉ có Hiên mới xứng đáng với anh thôi. Phải quên Phi, cố mà quên anh. Trời ơi, tôi làm không được. Tôi vẫn còn yêu anh, yêu nhiều lắm Phi ơi. Hôm nay gặp Thảo tôi lại trốn chạy, tôi không muốn Thảo biết là tôi đã thấy Phi trở lại bên Hiên. Có ích gì khi tôi đã quyết định rút lui. Nước mắt lại đong đầy, ngồi dậy, với tay lấy cái túi xách, tôi rút lá thơ của Phi ra để trên giường. Ngồi nhìn lá thư một lúc không biết mình có nên mở ra xem hay không. Cuối cùng tôi quyết định, và lá thư được mở ra: Minh Kim yêu của anh, Một tháng nay không gặp em, anh như phát điên lên. Em ở đâu vậy? Thảo đi kiếm em hoài mà không gặp. Anh biết em giận anh, khi em bắt gặp anh đi với Hiên. Nhưng Kim ơi, chuyện không phải như vậy. Hiên từ Pháp về để ký giấy bán nhà, gặp lại anh, cô rủ anh đi mua mấy quyển sách. Lúc đang lựa sách anh thoáng nhìn thấy ai giống như em, anh còn đang ngờ ngợ. Đến lúc chạy ra tìm thì em đã biến đâu mất rồi. Anh và Hiên có đi kiếm em nhưng cũng không thấy. Anh cứ hy vọng người đó không phải là em. Đến khi Thảo viết thơ báo cho anh là em nghỉ học cả tháng, đến nhà tìm không có em, thì anh biết anh đã không nhìn lầm. Kim ơi, Hiên đã có chồng và có con rồi. Giữa anh và Hiên giờ đơn thuần chỉ còn là tình bạn mà thôi. Người anh yêu là em, là Minh Kim của anh, em có biết không? Anh chỉ yêu em thôi. Vùng Trời Thênh Thang 253

228 Còn anh Toàn thì không nói gì chỉ xoa đầu tôi rồi cười. * * * Thế là tôi lấy chồng. Đám cưới chúng tôi tổ chức thật đơn giản, dù gia đình Phi rất giầu, nhưng cả Phi và tôi đều không muốn làm rình rang. Tôi đã theo chồng ra Đà Nẵng. Cuối năm đó Thảo cũng lập gia đình. Chồng Thảo làm cho USAID. Hai vợ chồng Thảo lấy nhau sau tôi vài tháng mà tới giờ vẫn chưa có con, còn tôi thì sanh cho Phi một đứa con trai kháu khỉnh. Cuối năm đó, mẹ tôi mất, tôi vào Saigon đưa đám mẹ. Anh Toàn làm trong bộ Thông Tin, có nói với tôi một câu: – Em nên nói với Phi đưa mẹ con em vào Saigon đi. Ở ngoài đó có mình em, Phi lại không có nhà thường xuyên, có hai mẹ con sống sẽ rất bất tiện. Tôi cười: – Không sao đâu anh. Thuyền theo lái, gái theo chồng. Dù Phi ít có nhà nhưng cứ nghĩ là mình được ở gần chồng là em vui rồi, anh đừng lo. Khi nào cần đến anh, em sẽ réo anh mà, cứ yên tâm đi, anh Hai à. Vào năm 1972, chiến cuộc càng ngày càng sôi động. Phi vắng nhà thường xuyên hơn, anh phải theo đơn vị đi hành quân liên miên. Mỗi lần anh đi là một lần tôi mất ăn mất ngủ. Ngồi ôm con, ru con ngủ, nhìn những đốm hỏa châu lập lòe trong đêm tối, tôi nhớ chồng thật nhiều, tôi lo cho anh. Hàng ngày, hằng đêm, tôi luôn cầu nguyện ơn trên bao bọc, che chở cho anh thoát khỏi những nguy hiểm quanh mình. Phi cũng như tôi, dù bận chiến đấu bảo vệ tổ quốc nhưng Phi cũng vẫn luôn lo lắng cho mẹ con tôi, nhất là khi anh thấy tình hình trở nên bất ổn, những trận đánh khốc liệt càng ngày càng gia tăng. Tuy vậy cuộc sống chúng tôi vẫn cứ thế trôi qua. Rồi một hôm vào gần cuối tháng 2/1975, tôi thấy anh đột ngột trở về nhà vào đêm khuya, bộ đồ lính tác chiến còn bám đầy cát bụi, anh bảo tôi: Vùng Trời Thênh Thang 255

230 Phi nâng khuôn mặt của tôi lên, anh cúi xuống hôn lên cặp mắt đầy lệ của vợ, thì thầm: – Anh cũng yêu em và các con lắm. Anh cũng sẽ nhớ và không muốn xa mẹ con em đâu, nhưng anh là một người lính, anh không thể bỏ đơn vị, bỏ bạn bè trong lúc dầu sôi, lửa bỏng như thế này. Anh cũng sẽ vào Saigon, nhưng không phải bây giờ. Hiểu cho anh không Kim? Thôi bây giờ chúng mình thu xếp hành lý nhe em. Đêm nay, cả hai chúng tôi đều không ngủ được. Dù nằm trong vòng tay ấm áp của chồng, tôi vẫn trải qua một đêm thật buồn. * * * Sau khi nghe tin chính phủ Hoa kỳ từ chối viện trợ 300 triệu Mỹ kim cho Việt Nam, thì tình hình chiến sự tại miền Nam Việt Nam rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo, vì thiếu thốn tiếp liệu về quân sự cũng như về kinh tế, trong khi đó quân đội VNCH còn phải đương đầu với bọn CSBV, bọn này được tập đoàn CS quốc tế tiếp tế hùng hậu, đầy đủ. Chênh lệch như vậy giữa hai lực lượng quân đội đương nhiên đã đem đến việc triệt thoái không thể không sảy ra của hai quân đoàn I và II. Một điều đáng nói ở đây là tính nhân bản của quân đội VNCH, dù trong cuộc rút lui phải bảo toàn lực lượng nhưng những người lính của miền Nam VN vẫn không quên giúp đỡ dân chúng rút theo mình. Chính vì vậy mà quân đội VNCH càng bị thiệt hại nặng nề hơn. Vào Saigon đã hơn nửa tháng rồi, tin tức của Phi vẫn biệt tăm, nhưng tin về những cuộc chiến dữ dội giữa quân ta và quân địch, tôi thấy tràn lan trên các mặt báo, trên các phương tiện truyền thông. Rồi tin Đà Nẵng thất thủ, tin các lữ đoàn, tiểu đoàn rút vào miền Nam, quân số bị thiệt hại trầm trọng, nghe tới đây thì toàn thân tôi lạnh toát. Tôi không biết phải hỏi thăm ai để biết về anh, hay đi đâu để tìm anh. Lòng tôi rối bời, tôi nhớ Phi nhiều lắm, lo cho Phi nhiều lắm. Chỉ biết cầu Vùng Trời Thênh Thang 257

231 nguyện và cầu nguyện cho anh mà thôi. Thế rồi chuyện gì đến đã đến, người hạ sĩ quan tên Hi mà Phi thường nhờ ông ta khi liên lạc với tôi bất ngờ xuất hiện. Trong tay Hạ Sĩ Hi là một gói giấy nhỏ. Nhìn tôi, cặp mắt ông thật buồn, ông run run đưa gói giấy cho tôi: – Đây là cái ví và những gì còn lại trong đó của Trung Úy Phi. Trung uý bị thương rất nặng và đã đi rồi. Chúng tôi đã để Không kịp nghe hết câu nói của Hạ Sĩ Hi, tôi thấy trời đất như quay cuồng, rồi một màn đen kịt bủa vây. Tôi đã không còn biết gì hết nữa. Theo chân vợ chồng Thảo đến nhà Vĩnh Biệt để nhận xác chồng. Trước khi vào gặp Phi, tôi đã tự hứa với lòng, sẽ thật can đảm, thật tỉnh táo, sẽ không ngất đi nữa để gặp anh, gặp người chồng yêu quí của tôi, dù anh có như thế nào. Cuối cùng tôi đã thấy anh, đã thấy Phi của tôi. Phi nằm đấy, cặp mắt nhắm lại, nét mặt anh thật thanh thản, nếu không có miếng băng đầy máu quấn ở quanh bụng thì tôi sẽ nghĩ là anh đang ngủ. Tôi tưởng tôi sẽ lại ngất đi nhưng không, tôi vẫn tỉnh táo, không những vậy tôi còn lại gần ôm lấy anh, hôn lên cặp môi giá lạnh của anh và nắm bàn tay anh trong tay tôi. Bàn tay mà ngày nào anh đã từng dùng nó để vuốt mái tóc tôi. Thế mà bây giờ anh nằm đây bất động như thế này: Phi ơi, sao tay anh lại lạnh giá như thế này? Sao anh lại nằm im lìm như thế này? Sao anh không nói gì với em hết vậy, hả Phi? Phi ơi, tại sao anh lại bỏ em mà đi như vậy? Chúng mình còn yêu nhau lắm mà. Phi ơi, hảy dậy đi, dậy mà nhìn em này, mà nghe em nói này. Phi ơi. Sao người anh lại lạnh quá như thế này? Sao bờ môi anh không còn nồng ấm, hơi thở nồng nàn mùi thuốc lá nữa, hả anh? Em sẽ hôn Phi mãi mãi cho đến khi môi anh ấm lại nghe anh. Phi ơi, Phi của em ơi, em yêu Phi lắm, Phi có biết không? Phi nói em vào Saigon chờ anh. Em chờ anh, em đợi anh mỏi mòn, mà sao bây giờ gặp 258 Đa Hiệu 111

232 nhau rồi sao anh lại cứ ngủ mãi như vậy? Dậy đi anh, đừng bỏ em như thế này, đừng bỏ con như thế này. Em phải làm sao đây? Phi ơi, Phi ơi. Tôi đã tha thiết kêu, đã tha thiết gọi nhưng Phi vẫn không trả lời tôi. Không bao giờ anh còn trả lời tôi được nữa. Cả người anh đã lạnh, bờ môi anh đã lạnh, bàn tay anh cũng đã lạnh rồi. Phi ơi, rồi đây sau khi vĩnh viễn rời xa anh, em biết tâm hồn mình rồi cũng sẽ lạnh lẽo như thân thể anh, như bờ môi anh, như bàn tay anh bây giờ, vì em đã mất anh rồi, không còn người sưởi ấm trái tim em nữa. Phi ơi, không có anh bên cạnh sao tự dưng em cảm thấy lạnh? Em lạnh quá Phi ơi. Vòng tay anh đâu rồi, bờ môi anh đâu rồi? Anh đâu rồi, Phi ơi? Thế là hết, tôi đã mất Phi rồi, mất thật rồi. Vào những ngày của tháng Ba, khi tình hình chiến sự càng ngày càng khốc liệt hơn tại miền Nam, thì các cơ quan của Hoa kỳ đã bắt đầu rút ra khỏi VN. Nhờ vào quen biết và sự giúp đỡ của vị giám đốc nơi Trí, chồng Thảo làm việc, ngày 20/4/1975, tôi ôm cái bụng bầu cùng Minh Phương, con trai tôi, theo chân vợ chồng Thảo lên máy bay qua Mỹ. Ngồi trên máy bay nhìn xuống qua khung cửa nhỏ, nước mắt tôi cứ âm thầm chảy và qua làn nước mắt tôi như thấy hình bóng của Phi trong bộ quân phục Nhẩy Dù với chiếc mũ beret màu đỏ đội lệch trên đầu, đang dơ tay lên vẫy tôi. Tôi thầm thì nho nhỏ: Vĩnh biệt Việt Nam. Vĩnh biệt Saigon. Vĩnh biệt Phi của em! Phi ơi, em nhớ anh lắm. Phi ơi! * * * Một vòng tay ôm lấy vai tôi, và cái đầu của Phượng cúi đụng vào đầu tôi. Con đưa tay gỡ tấm hình của bố để lại vào chỗ cũ: – Mẹ mà cứ nhớ bố kiểu này rồi sẽ ốm mất thôi. Mẹ ốm ai Vùng Trời Thênh Thang 259

233 trông bé Jémy cho con đi làm. Bố ở trên trời biết được cũng sẽ không vui đâu. Mẹ con mình nên để cho bố và Jack được thanh thản trong vùng trời thênh thang của họ. Mẹ nhìn xem vùng trời đó của họ đẹp lắm, mẹ ạ. Cùng nhìn lên bầu trời, những sợi mây giăng giăng, đan trắng một khung trời xanh, đẹp vô cùng, chúng tôi cùng như đang nhìn thấy trong những vầng mây ẩn hiện, hình như là Phi đó, Jack đó họ đang cười với chúng tôi. Tôi mỉm cười với ánh mắt long lanh giọt lệ, đập nhè nhẹ lên bàn tay con, đang ôm bờ vai tôi, tôi thì thầm: – Con nói đúng, vùng trời thênh thang đó của họ quá đẹp, phải không con? Tucson – Az 2021 ** Bài hát: Trả Lại Cuộc Tình Lỡ, nhạc Nguyên Hà 260 Đa Hiệu 111

234 NHÔÙ QUEÂN ÑÔØI LÍNH Trần Châu Giang, K22 Sau ngày mãn khóa vào cuối năm 1967 và sau khi nghỉ phép xong, năm đứa chúng tôi, hẹn nhau cùng về trình diện Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp. Làm xong thủ tục, chúng tôi vào trình diện Đại Tá Chỉ Huy Phó Binh Chủng Thiết Giáp. Nhìn qua quân phục thẳng tắp và tác phong nghiêm chỉnh, rất réglo của các sĩ quan Võ Bị mới ra trường, Đại tá Dương Văn Đô tỏ vẻ ưng ý. Ông nói, – Tôi khóa 5. Trước các anh có hai anh khóa18. Các anh phải tỏ ra xứng đáng. Rồi ông nhắn nhủ thêm vài điều. Sau đó, ông cho lệnh chúng tôi về trình diện trường Thiết Giáp, lúc đó còn ở Thủ Đức. Cũng cần nói thêm, ngoài Đại Tá Đô cho biết ông thuộc khóa 5, trong suốt cuộc đời quân ngũ, tôi gặp rất ít các sĩ quan xuất thân từ Võ Bị. Chỉ trừ sau này, khi thiết giáp đã thay đổi chức năng, các khóa sau khi tốt nghiệp đều có một số về binh chủng này. Lúc ấy chỉ có năm chúng tôi về trường Thiết Giáp để học khoá Căn Bản Thiết Giáp, nên phải đợi một khóa bên Thủ Đức mãn khóa mới có đủ khóa sinh để khai giảng. Năm thiếu uý réglo lọt giữa bao sĩ quan của trường, nên luôn là đối tượng để soi mói. Trong thời gian chờ đợi, chúng tôi được đưa xuống chi đoàn diễn tập để phụ tu bổ các loại xe, hoặc phân phối đến phòng Nghiên Huấn để sắp xếp các tài liệu. Cũng như phần lớn các đơn vị chịu ảnh hưởng của quân Nhớ Quên Đời Lính 261

235 đội Pháp, binh chủng THIẾT GIÁP rất phong kiến. Họ luôn luôn được coi là binh chủng quý phái, coi trọng tôn ti trật tự. Vì chỉ có năm người, nên chúng tôi được phép vào ăn trong phòng ăn của trường dành cho sĩ quan. Nhưng chỉ có sĩ quan của trường mới được phép đi vào bằng cửa chính nên chúng tôi phải vào bằng cửa phụ. Khi chỉ huy trưởng đến các sĩ quan mới được ngồi vào bàn, và khi mọi sĩ quan đã ngồi vào bàn chúng tôi mới được ngồi vào bàn của mình. Khi xong, chỉ khi chỉ huy trưởng rời phòng các sĩ quan mới được quyền rời phòng. Trường hợp đặc biệt phải được phép của chủ tọa. Trong thời gian chúng tôi sắp xếp các hồ sơ trên phòng nghiên huấn, thường theo giờ hành chánh nên khoảng 6 giờ chiều là chúng tôi trở về tới phòng cuả mình. Có một lần khi chỉ còn ba phút là tới giờ ra về, tôi nhận được điện thoại yêu cầu chúng tôi xuống trình diện chỉ huy trưởng, lúc đó là Trung Tá NGUYỄN TUẤN. Trong phòng đã có cả chỉ huy phó và các trưởng khoa. Thay mặt toán, tôi trình diện theo đúng lễ nghi quân cách nhưng trong lòng không khỏi thắc mắc. Chắc hẳn chúng tôi đã làm chuyện gì không đúng, hoặc do không thích chúng tôi mà một sĩ quan trực nào đó đã phúc trình không tốt? Trung tá TUẤN nhìn chúng tôi một lượt, rồi nói, – Tôi muốn coi các anh làm việc thế nào. Các anh nên nhớ các anh vẫn chưa phải là sĩ quan Thiết Giáp. Sau đó, ông tiếp tục lên lớp chúng tôi. Thời gian rồi cũng qua, khóa học cũng đến ngày khai giảng. Ngoài số sĩ quan vừa tốt nghiệp bên Thủ Đức chuyển qua, còn có niên trưởng BÍCH, khóa 20; và niên trưởng NGỌC, khóa 21, được các đơn vị cơ hữu chuyển về học chung khóa căn bản với chúng tôi. Mãn khóa, niên trưởng BÍCH và NGỌC về đơn vị cũ của mình, trong khi các sĩ quan bên Thủ Đức chọn đơn vị theo thứ tự học tập. Riêng năm đứa chúng tôi thì được chỉ định đơn vị phục vụ. THÂM và CƠ, người miền Trung, nên 262 Đa Hiệu 111

236 được chỉ định về Vùng I; MINH và CHÚC về Vùng III. Riêng tôi, dân Bắc Kỳ nên ra Pleiku, vì nơi đây là vùng hoạt đông của Trung Đoàn 3 Thiết Giáp. Đơn vị này di chuyển từ Bắc vào Nam năm Vấn đề chào kính của Thiết Giáp thì cũng giống các binh chủng khác. Nhưng trước đó sẽ có nhiều người tự hỏi sao Thiết Giáp chào nhau lại xòe bàn tay phải ngang vành mũ Đây có thể do ảnh hưởng của binh chủng Thiết Giáp Pháp. M41 và M113 đang tấn công. Năm ngón tay ấy mang ý nghĩa như sau: ngón cái tiến không lùi, ngón trỏ tuân lệnh cấp chỉ huy, ngón giữa hãnh diện mình thuộc binh chủng Thiết Giáp, (Ngón giữa khi đến Mỹ đã mang ý nghĩa không đẹp.) ngón áp út lịch sự với phụ nữ, và ngón út uống rượu không say. Theo ý nghĩa các ngón tay trên, ngón út được thể hiện trong thực tế nhiều nhất. Những đơn vị mà tôi đã đi qua, những cá nhân mà tôi từng gặp, phần lớn đều là những đệ tử của lưu linh, nhưng rất hào hoa. Từ những năm 1969 trở về sau, với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh, Thiết Giáp phát triển ào ạt. Nhớ Quên Đời Lính 263

237 Trước năm 1968, đơn vị chiến thuật lớn nhất là trung đoàn thiết giáp, thường giữ nhiệm vụ chính yếu là yểm trợ. Trung Đoàn 3 Thiết Giáp lúc ấy gồm có bốn chi đoàn, gồm: hai chi đoàn M113, một chi đoàn chiến xa M41, một chi đoàn chiến xa loại cũ M24 của Pháp để lại. Thời gian đó, một chi đoàn M113 được tăng phái xuống vùng duyên hải, tùy thuộc nhu cầu hành quân của hai Trung Đoàn 41 và 40 hoạt động từ Tam Quan cho tới Phù Mỹ, trong khi các chi đoàn còn lại hoạt động trên vùng cao nguyên. Sau năm 1968, nhiệm vụ của binh chủng thiết giáp đã thay đổi. Các trung đoàn thiết giáp đổi thành thiết đoàn kỵ binh. Các chi đoàn điển hình như chi đoàn M113. Trước 1968, mỗi chi đoàn chỉ có 12 xe, vũ khí mạnh nhất là súng đại liên 50. Sau đó, chi đoàn từ trang bị cho tới quân số gần như tăng gấp đôi. Hỏa lực từ trực xạ như đại bác không giật 106, cho tới hỏa lực vòng cầu 81 ly đều là hỏa lực cơ hữu của chi đoàn. Giờ đây, đơn vị mang tên Chi Đoàn Thiết Kỵ. Nhiệm vụ không đơn thuần chỉ là yểm trợ, mà kết hợp với bộ binh, hình thành lực lượng đặc nhiệm giữ vai trò tấn công tùy theo nhu cầu chiến trường. Tại vùng 3, với Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh của Chuẩn Tướng TRẦN QUANG KHÔI, với hai Chiến Đoàn Đặc Nhiệm 322 và 315. là những thí dụ điển hình. Trong vài dịp, những lần hội ngộ của binh chủng thiết giáp, tôi được nói chuyện với các sĩ quan cao cấp và kỳ cựu của binh chủng. Nhiều vị cho tới nay, vẫn còn tự hỏi, trên vùng cao nguyên với ba Thiết Đoàn 3, 19, và Thiết Đoàn 21 Chiến Xa M48, cùng với mấy liên đoàn Biệt Động Quân mà trước khi lui quân không hình thành được một chiến đoàn đặc nhiệm. Nhận sự vụ lệnh, sau mấy ngày phép, tôi dẫn theo hai chuẩn uý cùng khóa căn bản về trình diện Trung Đoàn 3 Thiết Giáp. Hai chuẩn uý này đều người Bình Định. Sau này họ đều thành danh. Một người, bị thương về Cảnh Sát, nay giàu có hạng ở Houston. Người thứ hai là Trương Văn Hội, sĩ quan duy nhất 264 Đa Hiệu 111

238 mang đươc cả chi đoàn từ Pleiku về tới Tuy Hoà. Trình diện xong, hai chuẩn uý khăn gói xuống Chi Đoàn 3/3, đang ở vùng duyên hải. Mình tôi ở lại Pleiku với chi đoàn 4/3. Đây là chi đoàn thiện chiến nhất của đơn vị lúc đó. Chi đoàn trưởng cởi mở nhưng rất gan lì. Khi tấn công vào mục tiêu, ông cho xe lên ngay hàng ngang, bất chấp xe của chi đoàn trưởng có một rừng antenne theo cùng. Chiếm xong mục tiêu, giao cho chi đoàn phó trông coi, ông cũng hạ chiến như lính lục lọi hầm hố. Quân đội Mỹ ở vùng Tam Quan vào năm 68 vẫn còn nhiều. Binh sĩ cuả Trung Đoàn 40 hoạt đông liên tục, nhưng An Thái dù Một đơn vị chiến xa tại ngoại ô cách Tam Quan không bao Kontum, xa vẫn không bình định được. Du kích vẫn hoạt động và mìn bẫy thì tinh vi và đa dạng. Một lần hành quân vào vùng này, tới chiều gần lúc rút về, ông đến gặp tôi và nói, – Khi mình rút về thế nào du kích cũng ra đây. Tôi cho chi đoàn về nhưng tôi với ông ở lại. Nếu tụi nó ra đông, tôi gọi chi đoàn trở lại. Tôi nghĩ bụng sĩ quan thiết giáp được đào tạo đâu phải để làm việc này, nhưng ông đã chịu chơi thì tôi cũng chịu chơi. Khi chi đoàn bắt đầu di chuyển, thì ông bãi bỏ kế hoạch. Có lẽ đây là cách ông thử lòng can đảm của các sĩ quan chăng? Để đáp ứng nhu cầu bành trướng của Binh Chủng Thiết Giáp, Chi Đoàn 4/3 cuả Thiết Đoàn 3, một chi đoàn của Thiết Nhớ Quên Đời Lính 265

239 Đoàn 8 cộng với một Chi Đoàn Chiến Xa M41 tân lập, tập hợp lại thành Thiết Đoàn 14. Chi Đoàn 4/3 thành Chi Đoàn 2/14 Thiết Kỵ. Tôi đã có dịp lần lượt chỉ huy cả hai Chi Đoàn 1/14 chiến xa và Chi Đoàn 2/14 thiết kỵ. Trong những năm nắm giữ hai chi đoàn này, điều mà tôi hiểu biết rõ nhất là sự phối hợp giữa bộ binh và thiết giáp, không được như mong muốn. Hai đặc tính quan trọng của thiết giáp là hỏa lực và sự di động. Thiết giáp có thể di chuyển suốt đêm, vượt qua hàng trăm cây số, và tiếp cận mục tiêu một cách bất ngờ. Nhưng mỗi khi được tăng phái cho bộ binh thường thiết giáp chỉ được xử dụng như những ổ súng cộng đồng; Và khi được bộ binh tăng phái đến, khó khăn cũng không kém khi phải giải thích cho đơn vị tăng phái biết phải làm gì. Đời sống của mỗi con người trải qua không biết bao nhiêu những biến cố, nhưng có những sự kiện chỉ thoáng qua trong chốc lát, nhưng như một vết hằn trong trí nhớ không bao giờ có thể phai mờ được. Có thể goị là một điều huyền bí khi một người nắm giữ sự an nguy của nhiều người khác bỗng nhiên cảm thấy bồn chồn trước một quyết định, đôi khi không tránh được, đôi khi phải xem xét lại các dữ kiên kỹ hơn, và tránh được tai họa. Ngoài chiến trường không ai là không phải chứng kiến những mất mát, nhưng nếu phải chứng kiến giây phút hấp hối của một thuộc cấp với tiếng gọi cuối cùng MẸ ƠI, thì sẽ thấy trách nhiệm của cấp chỉ huy nặng nề đến chừng nào. Di sản lớn nhất màtrường VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM tạo dựng được chính là tình huynh đệ. Thời chiến tranh giữa bao nguy khốn, thời bị đày ải trong tù tội đói khát và bệnh tật, những con người chưa hề quen biết, nhưng nghe nói xuất thân từ cùng một ngôi trường thì đã sẵn sàng đùm bọc cho nhau. 266 Đa Hiệu 111

241 Thiếu Tá ĐINH VĂN MỄ, Khóa 16. (Sau này ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44 BB.) Khi tôi vào trong lều, anh chỉ ghế cho tôi ngồi, rồi nói, – Thấy chú mày có một mình nên gọi qua đây ăn với anh miếng bánh tét cho có Tết. Chỉ có anh và tôi, vừa ăn anh vừa thăm hỏi tôi như một người anh. Những lát bánh tét năm ấy không đơn giản chỉ là bánh tét, mà nó mang nặng ân tình. Cả niên trưởng Mễ và niên trưởng An nay đang ở Dallas, Texas. * * * Thế hệ chúng ta đi vào cuộc chiến giữa tuổi thanh xuân, không ít người rời mái trường với bao ước mơ bị bỏ lỡ. Đối diện với sự nghiệt ngã của chiến tranh, nghe một bản nhạc hay, chiêm ngưỡng nét đẹp của một thiếu nữ là một trong những nhu cầu giải tỏa những áp lực. Người phụ nữ, theo quan niện của triết lý ẤN ĐỘ, là tổng hợp của tất cả những tinh tuý mà ta thấy quanh ta. Do vậy khi ngắm nhìn họ, có người cảm thấy thôi thúc phải chiếm hữu. Thành phố Kontum, nằm nơi cực Bắc của vùng cao nguyên, cũng là nơi tập trung của rất nhiều những binh chủng. Nơi đây có thể gọi là một thành phố của lính, nhưng rất khác với Pleiku. Kontum luôn giữ được nét hiền hòa. Sinh hoạt chỉ dọc theo con đường Lê Thánh Tôn. Sĩ quan chỉ quanh quẩn qua hai quán ăn Bạch Đằng, hoặc Thiên Nam Phúc. Hạ sĩ quan và lính thì tập trung nơi Hàng Keo. Trên con đường này có hai bông hồng. Cô thứ nhất là cô Lucie, có thể là tên thánh của cô, chủ một quán sách báo, không đẹp lắm, nhưng có duyên, có cách nói chuyên lôi cuốn, phong cách Tây Phương. Sĩ quan chúng tôi sau một ngày vất vả, cà phê cà pháo xong là phải ghé quán của cô, mua tờ báo, nhưng đấu láo là chính. Năm 1972, chúng tôi nghe tin cô kết hôn với đại tá Thìn tự 268 Đa Hiệu 111

242 Long, Tỉnh Trưởng Kontum lúc ấy. Cô thứ hai của tiệm bán radio Hồng Hoa. Cô là con gái của một vị giáo sư trung học, có một nét đẹp qúi phái, ít nói, nhưng nổi bật vì khiếu thẩm mỹ. Mầu áo mà cô mặc, chiếc ruban mà cô cột trên mái tóc, đều là những lựa chọn tinh tế, không những làm tăng được vẻ đẹp, mà còn tạo được sự hài hòa về màu sắc. Mỗi khi có dịp ra phố, tôi đều đi ngang tiệm ngắm cô một chút. Đám sĩ quan trong chi đoàn biết tôi có vẻ mết cô nên có ý vun vào. Nhưng rồi chiến tranh mịt mù, chẳng có thì giờ. Sau cô kết hôn với một biên tập viên cảnh sát. Cách nay không lâu, qua facebook tôi chia sẻ vài kỷ niệm với một người bạn Thiết Giáp nay vẫn còn ở tại Kontum. Điều bất ngờ là cô Hồng Hoa ngày xưa có đọc được những dòng viết ngắn này. Cô viết chỉ một dòng trong phần phản hồi: NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ… Dù chỉ một dòng, đọc lên sao thấy bồi hồi. Nhớ Quên Đời Lính 269

243 Tình Huynh Ñeä Trần xuân Hiền, GS/ VHV Mỗi lần được mời đi ăn cưới tôi không khỏi bực mình vì phải lái xe đi đêm hôm. Nhưng có dịp gặp bạn bè hay người quen biết để chuyện trò thì tôi cũng cảm thấy được đền bù phần nào. Một hôm đi ăn ở nhà hàng Golden Palace, tôi chợt thấy một người trên dưới 60, đi cà nhắc thân mật đến chào, – Xin lỗi, anh là gia đình VBQG phải không? Tôi là Nguyễn Hội, K/20. Thật là may mắn gặp được anh hôm nay. – Rất mừng gặp anh. Anh có phải là Hội có 2 cháu gái làm bác sĩ? Tôi xin bái phục và chia vui. – Thế các con anh đỗ đạt hết ráo thì ai nói? Anh Hội vui vẻ hỏi lại. – Anh và tôi đều may mắn, nhưng sao đi chấm phết vậy? – Chút kỷ niệm cho em. Tôi bị thương ở mặt trận Hậu Nghĩa năm 72. Nhưng chẳng hề gì, tôi vẫn chấm toạ độ chính xác! – Lính VBQG thật dễ nể! – Nhờ thấy chiếc huy hiệu VBQG ở ve áo của anh mà tôi nhận ra. Anh làm sao kiếm được chiếc huy hiệu đẹp như vậy? – Gia đình VBQG ở California gởi tặng tôi. Thế anh không nhận được tập san Ða Hiệu sao? – Thú thật với anh, lâu nay tôi ở tận địa đầu hẻo lánh tỉnh này, nên chẳng gặp bạn bè. Tôi mới dọn về thành phố gần đây. Tôi nghe anh ở gần đây, nhưng không làm sao biết số điện thoại. – Tôi sẽ cho anh mượn vài số Ða Hiệu để anh trở về vòng 270 Đa Hiệu 111

244 tay lớn. – Cám ơn anh. Tôi cũng ở gần anh, mời anh rảnh ghé nhà tôi chơi. Bây giờ tôi xin cáo từ vì nhà tôi đang chờ ở cầu thang. Hẹn gặp anh. Không lâu sau, anh Hội mời tôi đến nhậu. Khi đến nơi thì đã có một người bạn, tầm vóc trung bình, trên dưới 60 đứng dậy chào, – Chào Bác! Tôi là Dương Hữu Chiêu, tôi gặp bác trong tập san Ða Hiệu, bây giờ mới gặp bác bằng da bằng thịt. Tôi hơi nhạc nhiên về cách xưng hô. Khi nhìn anh, tôi thấy nét mặt anh có cái gì khác lạ thường thấy ở người Ðài Loan, Nhật, hay Ðại Hàn. – Anh cùng khóa với anh Hội sao? Tôi chào và hỏi lại. – Không, anh Chiêu là khoá đàn anh và là cựu Trung tá chớ không phải đùa. Anh Hội xen vào. – Xin lỗi, tý nữa mà tôi thất kính. Rất mừng được gặp anh. Thế ngày 30/4 anh ở đơn vị nào? – Rất tiếc tôi không được chứng kiến ngày đau thương đó, vì tôi bị bắt làm tù binh trước 75. Tôi, là tiểu đoàn trưởng một đơn vị tiền phương Thám Báo đóng ở vùng A Sao, bị một trung đoàn CS đánh phủ đầu tràn ngập, bị bắt và bị đưa ra giam ở Thái Nguyên, rồi sau đó được chuyển lên Cao Bằng, gần biên giới Hoa, là quê hương tổ tiên tôi. Tôi thuộc sắc tộc thiểu số Cao Bằng, vốn họ Lương, nay đổi thành họ Dương để hội nhập với người Kinh. – Thế anh và tên họ Nông kia là bà con với nhau rồi? Tôi hỏi đùa lại. – Tuyệt đối không. Sắc tộc tôi và sắc tộc của nó thù nghịch nhau. Trước năm 45 khi Cao Bằng lọt vào tay Việt Minh tức là cộng sản, sắc tộc tôi và gia đình tôi bị ghép vào tội cộng tác với Phát xít Nhật, nên phải chạy trốn về Hà Nội. Tại đây, tôi theo học trường Chu Văn An. Khi hiệp định Genève chia Tình Huynh Đệ 271

246 Moät Chuùt Gì Ñeå Nhôù Thân tặng các bạn K. 18 Hữu Hiền, K18 Không thể trở về với ngày xưa Để nhớ khi ta lúc dưới cờ Tuổi chớm đôi mươi trăng tròn lẻ Nụ cười tươi sáng tuổi mộng mơ Thằng bạn thân quen vẫy tay chào Cổng trường rộng mở tiếng lao sao Thân vui, vồn vã, ân cần đón Nào có hay chăng lúc bước vào Tiếng kèn, tiếng trống, tiếng người ta Vô lý thân quen cũng phạt à? Xưa kia thân thiết nay trở mặt Phùng má, bậm môi hét với la Cũng đành đã lỡ biết làm sao Lý tưởng phôi phai nước mắt trào Đêm mơ thấy nó… hung thần đến Nhẹ kéo chăn lên khẽ đắp vào! Tử tế như là anh với em Còn hơn thế nữa… bước chân êm Ra vào rón rén nghe chừng động Tựa lúc mẹ cha khẽ tắt đèn Bây giờ ngày đó, chúng mình đây Để nhớ không quên những tháng ngày Chinh y đã khoác ta thề sẽ Đứng dậy cùng nhau tiếp nối tay Một Chút Gì Để Nhớ 273

247 Tieåu Ñoaøn Moät Boán vaø Nuùi Goø Ñam Võ Công Tiên, K26 Hạ tuần Tháng 7 năm 1974, Tiểu Đoàn Một Bốn (TĐ 1/4) đã tham dự một trận đánh khó quên. Khu vực hành quân nằm về hướng Nam Đông Nam Căn Cứ Chu Lai khoảng 20 cây số, thuộc quận Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Mục đích chính là lùng kiếm một chiếc trực thăng bị bắn rơi ít ngày trước. Vì bị tấn công nặng, và chuyến tiếp tế tản thương không hoàn tất, một đơn vị Địa Phương Quân đành phải rút lui. Nhờ sự tiếp sức ồ ạt về vũ khí của khối Cộng, các đơn vị chính quy thuộc Sư Đoàn 2 Sao Vàng (CSBV) gia tăng các hoạt động tại ranh giới hai tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi, vốn là địa bàn đắc ý của các đám du kích địa phương. Địch quân chiếm đóng tại các cao điểm của Núi Gò Đam (680933), cao độ chừng 71 m, trải dài một cây số rưỡi. Chúng buộc dân góp công đào thêm hầm hố, bám chặt trong khuôn viên Chùa Thình Thình và các thôn ấp kế cận. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh (QLVNCH) đưa nguyên Trung Đoàn 4 – Núi Ấn Sông Trà – vào vùng, mỗi bề 12 cây số, từ Quốc Lộ 1 ở phía Tây, sông Trà Bồng phía Bắc và biển xanh ở phía Đông. Lúc này CSBV đã dòm ngó Thường Đức, Quế Sơn, gây áp lực phía Tây Nam Đà Nẵng, nên tình hình 274 Đa Hiệu 111

248 địch tại vùng Chu Lai chỉ có dụng ý ém quân, quấy phá. Nhìn khu vực đồng khô cỏ cháy, đất đỏ cát bụi với đồi, trảng, lũng, cao độ trung bình 50, một hạ sĩ quan tác chiến có thể đoán rằng cuộc hành quân sẽ không quá 2 kỳ tiếp tế, chặng đường sẽ là 30 cây số cả đi lẫn về. Ngày N+1, sau vài hôm tuần thám tại khu vực Núi Nữa, Núi Hòn Rọ (194) 15 cây số phía Tây Chu Lai, Tiểu Đoàn 1/4 với hơn 450 người được di chuyển về phía Đông quận lỵ Bình Sơn lúc chiều tối. Phối hợp cùng hai đơn vị bạn, TĐ 1/4 trách nhiệm cánh trái của trục tiến quân, với các mục tiêu sơ khởi là Núi Phổ Tinh, Núi Gò Đam, vùng Vân Tường, Phước Thuận, Lệ Thủy. Thiếu Tá Nguyễn Đôn Hoà, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ ¼, lấy danh hiệu truyền tin Ba Sáu (36); ép Đại Úy Bùi Tùng, Tiểu Đoàn Phó, được gọi là Ba Lăm (35). Các đại đội trưởng gồm Trung Úy Minh, Thiếu Úy Thái, Trung Úy Hóa, Trung Úy Hy, và Đại Úy Cang. Bản doanh của tiểu đoàn, ghi KBC 4814 ở Căn Cứ Bình Minh, Đức Phổ, điểm giữa trên đường Đà Nẵng, Qui Nhơn. Mùa xuân 1974 có 4 ông sĩ quan Đà Lạt mang bằng dù, giờ chỉ còn mỗi một Thiếu Úý vừa trở lại đơn vị được 2 tuần sau 3 tháng dưỡng thương. Một phần tư quân số tuy là lính mới về tiểu đoàn, nhưng hầu hết đã từng dày dạn nắng mưa. Hướng tiến của lực lượng hành quân là từ Quốc Lộ 1 ra biển, lục soát địa đạo, tìm dấu tích phi hành đoàn lâm nạn, tránh gây thiệt hại cho dân. Hiệp Định Paris vào Tháng 1/1973 mới tròn một năm rưỡi, quân dân ta vừa đánh trận vừa cố gắng xây dựng lại các xóm làng từng đổ nát. Các đoàn cán bộ phát triển, bình định nông thôn không đủ sức lực để thực hiện các công tác giúp dân, bảo vệ xã ấp. Bản đồ ghi vùng đồng ruộng, nhưng lúa mạ không có, ghi nhà cửa thì toàn là hầm hố, sơ sài vài chục căn trống trải. Dân chúng đã đổ xô ra phố quận, dọc Con Đường Số 1, có chợ, trường học cho trẻ con. Tiểu Đoàn Một Bốn 275

249 Ngày N+2, cái nóng nung người giữa trưa đã làm chậm bước chân của các đại đội (ĐĐ), và vấn đề nước uống (thường gọi là nô-na) mới là chuyện quan trọng. Khoảng 2 giờ chiều, Ông 35 cùng với Trung Đội 57 và Toán Thám Kích đã lên được Đồi Phổ Tinh (106m). Các ĐĐ 1, 2, 3 theo thứ tự từ cánh phải (Nam) sang trái đang tiến sát Núi Gò Đam thì Ba Sáu ra lệnh đồng loạt lấy các ngọn đồi. Đại Đội 4 làm trừ bị bọc phía sau. Trận chiến sòng phẳng, toàn lính đi bộ, chẳng có xe tăng hay máy bay bao vùng. Đạn dược M16, M79, đại liên M60 và lựu đạn M67, phải tiết kiệm tối đa. Ước gì có một phi tuần A37 rải cho vài trái bom thôi. Địch có súng phòng không, thượng liên, đại liên bắn trực xạ toán quân đang bò trườn qua các khe hở, hốc đá. Cối 61, 82 ly từ bên kia các ngọn đồi rót tới liên tục. Trời về chiều sắp tắt nắng, các Mục Tiêu 12, 13, 14 đã lọt vào tay TĐ 1/4. Tổn thất khoảng 25 người với tỉ lệ bình thường 1 chết 5 bị thương. Đêm ấy, ĐĐ 1 phòng thủ với BCH/TĐ, ĐĐ 2 xuống núi nằm đằng sau, Ông 35 và ĐĐ 4 (cánh A) đóng mé trái, còn Núi Gò Đam giao cho ĐĐ 3 và hai trung đội của ĐĐ 4 (cánh B) trấn giữ. Qua một đêm với vài tràng 105 ly yểm trợ từ Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh lưu động bắn từ một khu đất nào đó ven quốc lộ, lính tráng được ít giờ thoải mái sau một ngày kịch chiến, vừa khát vừa buồn. Cái giá để chiếm lĩnh được dãy đồi là 4 bạn bè vĩnh viễn rời xa, không kể vài chục người thương tích. Ngày N+3, ĐĐ 4 (B) rời vị trí khi trời vừa rạng sáng, toán thám sát mở đường tiến sâu về hướng biển. Chưa đầy trăm bước, đơn vị đã lượm được một trung liên RPD và một AK-47 trong bụi rậm, vạt đồi đầy dấu tích máu me. Ít phút sau, bên cánh quân của ĐĐ 3 cũng reo hò, nhốn nháo qua nhiều tiếng la Đừng bắn, đừng bắn nó, coi chừng lựu đạn. Đám lính áp tải một cán binh CSBV chính hiệu, tuổi độ hai mươi. Anh này khôn, biết thế nào cũng lộ vị trí, nên 276 Đa Hiệu 111

250 lên tiếng để bị bắt còn có cơ may. Bị thương từ chiều hôm trước nhưng không lết theo đồng bạn đã rút lui. Người tinh ý có thể đọc thấu trong đầu tù binh này cái quyết định của anh: rút theo chắc gì còn sống sót. Vết thương được băng bó kỹ lưỡng hơn, một ca nước mát, điếu bastos quân tiếp vụ, tất cả là cách đối xử của người lính VNCH ngoài trận mạc dành cho địch quân. Cũng may là đêm rồi có sương nhiều, hứng được chút nước, dù bầu trời không trăng sao, gió lộng. Về cánh phải, Tiểu Đoàn 2/4 đang đụng nặng tại mục tiêu hai mươi mấy gì đó, gọi là Chùa Thình Thình. Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Thiện (Thất Sơn), Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Nguyễn Lợi (Lam Sơn), Khóa 23 Đà Lạt. Các đại đội trưởng tác chiến chính gồm Trung Úy Nguyễn Phương Thụy, K25, Trung Úy Đặng Ngọc Thêm, K25, Trung Úy Thắng, Trung Úy Bùi Mỹ, K24. Xa hơn một chút thì Tiểu Đoàn 3/4 gặp những khu đồi thấp, mìn bẩy khó đi. Thiếu Tá Lộc làm tiểu đoàn trưởng, thay thế Thiếu Tá Mai Văn Hóa K21 vừa tử trận không lâu. Mất thêm mười mấy tay súng trở ra đường lộ, đi phép, tiễn người nón cối về Chu Lai hưởng thêm chút hương vị Mì Quảng đơn sơ. Tiểu Đoàn 1/4 hôm nay chỉ xài có mỗi ĐĐ 4 (B), tăng phái thêm Toán Thám Kích để bứng sạch 3 cái chốt dọc khu trảng đá đỏ xếp tầng như xứ cao bồi miền Viễn Tây thường thấy trong phim. Dừng lại một ngọn đồi thấp, thế phòng thủ theo đúng bài bản của binh thư. Vừa báo điểm đứng, chưa kịp khoe cảnh đẹp thì được biết toàn bộ ĐĐ 4 sẽ khoanh tròn qua đêm. Trung Sĩ Đến, Hạ Sĩ Thủ, Đinh Đồn, Võ Cân trong toán truyền tin vừa tới, hì hục đào xong mấy cái hố theo lệnh Trung Úy Hy (Hoàng Long). – Thiếu Úy, em đào hầm ở đâu? – Có thể sẽ qua đồi bên kia, pha cà phê trước đi. Khỏi đợi lâu, chừng nửa giờ sau thì Ba Sáu, Ông 35 và toàn bộ ĐĐ Chỉ Huy kéo đến. Tự nhiên như người nhà, bộ chỉ huy Tiểu Đoàn Một Bốn 277

251 tiểu đoàn mượn chỗ dừng quân. Có tiếng Hạ Sĩ Thủ càm ràm, lục đục dọn máy móc ba lô đi chỗ khác. Cùng chung vòng tròn phòng thủ, nhưng mấy cái hầm mới đào ngay giữa đồi, có mấy tảng đá chen kẽ ít ngọn cây đẹp như hòn non bộ (bonsai) thì không thể nào mang theo được. – Thiếu Úy, sao mình lại ra nằm riêng với Trung Đội 2 giống như tiền đồn vậy. – Hồi nãy bảo khoan đào hố, thấy khỏe chưa. Căng võng thấp gần mấy hòn đá. – Thiếu Úy, Trung Sĩ Phương lại rồi, nói có Thiếu Úy kèm theo khỏe quá. – Thẩm quyền, mai mình tới gần biển, mua được cá tụi nó làm gỏi khỏi chê. – Chưa chắc đâu. Đã đạp qua hai cái oval số 15, 16, hy vọng đêm nay êm xuôi. Ngày N+4, TĐ 1/4 giao mục tiêu 17 cho ĐĐ 1. Đến trưa, Trung Úy Minh đưa ĐĐ 1 quay về Nam làm nút chặn, giúp TĐ 2/4 giải quyết hệ thống giao thông hào đào sâu qua các đồi đá và sườn cát dọc hàng dương. Rồi mục tiêu 17 được ĐĐ 2 thanh toán gọn. ĐĐ 3 quét luôn cái 18, rải chốt trên đồi dương. Mặt trước nhìn ra biển, phía sau thấy rõ những lũng sâu, gò mả, đám mía, cây cau, vài xóm nhà có khói. Đó là làng Lệ Thủy, nước giếng trong veo, dân theo đạo Cao Đài mặc đồ trắng toát, dàn hàng dài vẫy vẫy xa xa. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từng nói kế sách đào tạo các cán bộ đa năng, đưa họ về từng phân chi khu, làm xã trưởng để giúp dân, kiến tạo nước nhà. Bao nhiêu người cho đủ, cảnh trí nào có thể giữ được các viên chức đến công tác một nơi dân cư lưa thưa, thiếu mọi công việc có thể tạo nên mức sống tươm tất, an lành. Chùa Thình Thình tiêu biểu cho một mục tiêu khó đánh. Đêm N+5 xuống chậm, vắng tiếng chuông ngân vang như thường 278 Đa Hiệu 111

252 ngày. Thấp thoáng trong tuyến phòng thủ, VC đã gom những chú tiểu, ông sư, đàn bà, em bé làm con tin, bia chắn. Vì thế, ba ngày qua, TĐ 2/4 chỉ cố ý bao vây, nhấp nhá, không đánh mạnh vô chùa. Đập chuột vỡ bình. Nhưng cái gì cũng có giới hạn. Những quả lựu đạn nổ chát chúa, tiếng súng át tiếng người thét lên rùng rợn, lửa khói rực sáng, như trút hết cơn giận trong đêm khuya. Khoảng một giờ mới dứt, Đại Úy Lợi (Lam Sơn) lên máy báo cáo với Thất Sơn đã làm chủ tình hình. Con cái dọn dẹp xong các hầm hố, ngõ ngách, toàn bộ ngôi chùa và các khu vườn lân cận. Sáng Ngày N+6, xem như VC đã rời các đỉnh đồi trọng yếu, thối lui khỏi các bìa làng, giải đất ven đường. Tính sơ ít ngày qua, TĐ 2/4 thiệt hại khoảng 35 người. TĐ 3/4 tơi tả gần 15 trong đó có Thiếu Tá Lộc tử thương. Chiếc trực thăng mất tích tuần trước vẫn chưa tìm thấy dù chỉ một mảnh nhôm. Hôm nay TĐ 1/4 nhận tiếp tế bằng trực thăng, bổ sung thêm ít người lính. Anh em nào đi phép, bị thương mà quê Saigon hay miền Tây chắc chắn sẽ không đủ tiền xe để quay trở lại. Với những trận đánh áp dụng cho một đơn vị nhỏ, chẳng có binh pháp gì. Kể vanh vách đội hình ngang dọc quả trám chân chim chi cho rườm rà, thọc sâu tiếp cứu nghe có vẻ rành rẽ quân cơ. Bổn cũ soạn hoài cũng không ngoài vài cánh gọng kìm, bên này cây đại liên yểm trợ, góc đó toán tiền sát khai hỏa, cây súng cối cơ hữu sẵn sàng tối đa vài chục trái. Thế đất vòng vo giống hình con thú nằm giuơng ba chân ngủ thoải mái gọi là mục tiêu con thỏ. Bờ bên kia các thửa ruộng, có con suối làm giao thông hào, mấy cái nón cối xanh chạy qua lạng lại, huýt còi, bắn vài tiếng súng, kêu réo đủ trò. Xưa lắm rồi cái cảnh ông xếp cầm cây súng lục bóp cò cái cắc thì hàng hàng lớp lớp chạy như đá banh, miệng hô xung phong, bắn pằng pằng. Thời này, hai trăm thước mà lính bò hoài cũng chưa tới, ăn thua là có chịu trận nổi hay không. Tiểu Đoàn Một Bốn 279

253 Đám VC lại chận ngay đường bọc về của TĐ 1/4, và chạm mặt ĐĐ 4 của Hoàng Long. Khu vực này không nhà cửa, tựa rừng thưa với nhiều bụi rậm xen lẫn các tàng cây, bằng phẳng nhìn như tranh vịnh Hạ Long. Gọi pháo được, bắn kha khá cho đỡ nặng ba lô. Bằng một hiệp túc cầu, không rõ hai bên đã cho nhau bao tiếng nổ. Bộ binh đi bộ thì rốt cuộc phải vào thẳng trảng đất, bung rộng nửa cây số. Không ai bị thương, và địch quân đã chui vào các đường hầm, hào sâu mất dấu. Ngày N+7, nghỉ trọn ngày. Ít khi có dịp ngủ hai đêm trên một khu vườn hoang mà địch quân nằm ngay bên dưới. Chiếc trực thăng bay vòng vòng Vịnh Dung Quất, nhìn mảnh đất trải dài ven biển, quận kế cận Sơn Tịnh không xa phía Nam có địa danh Mỹ Lai với câu chuyện dài vào Tháng 3 năm Bình nguyên Xứ Quảng bề rộng không quá 30 cây số như cái lưng ốm o bọc hai bên cột xương sống Quốc Lộ 1, mà con đường sắt xuyên Việt song hành đã vắng lạnh từ hơn mười năm về trước. Tất cả gần 90 máy C25 của toàn bộ Trung Đoàn 4 dưới quyền ông Quốc Thái vào cùng tần số để Mặt Trời 72 nói chuyện. Vài nhận xét tình hình, khen tặng thuộc cấp từ Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh: – Việt Cộng cố bám vào dân, nhưng các anh đến đâu, chúng chạy khỏi nơi đó. Được lệnh rút theo các triền đồi, tìm lối ngắn nhất để ra con đường nhựa. Hớn hở mỗi khi rời khỏi vùng giao tranh, những chuyến xe đò đã hiện ra ngược xuôi làm những người lính già cuống qúit lên thấy rõ. Tiểu Đoàn 1/4 dừng quân phía Đông quốc lộ, từng đại đội đóng trên một dãy đồi thấp khô ran, gần đấy có quán bún bò, nem chả, và ngôi trường tiểu học. Xế chiều mùa hè, thấy bóng dáng vài tà áo xanh của cô giáo cạnh đám học trò. Lãnh lương, phép tắc 24 giờ cho mấy anh lính gần nhà về với vợ con. Có lẽ các ban bệ của trung đoàn đang tính điểm, tổng kết 280 Đa Hiệu 111

254 người và súng đạn để viết phúc trình. Từng nhóm lính tụ ba tụ bảy, phì phà điếu thuốc, ca cà phê, gà men thịt hộp, vài câu hát quen quen. Ngủ yên một bữa cũng khỏe được chút đỉnh. Khu vực Núi Gò Đam tìm lại an bình, hay là vùng bỏ ngỏ, ai biết. Tới 4 thập niên sau, người dân Bình Sơn đặc biệt là các ông sư, chú tiểu nếu còn đâu đó, có thể phân định thành bại ra sao. Hôm sau, đơn vị tiếp tục hành quân, chuẩn bị lên xe đi thăm Phương Hồng Quế. Chớ vội ham. Quế đây là quận Quế Sơn, nơi có Đèo Le, Hòn Đá Chẻ, Gia Mộc Xa (lính gọi là da bọc xương). Tin tức qua radio, truyền hình, báo chí thời bấy giờ chỉ nói được hai phần ba trận thư hùng Thường Đức, Đồi 1062 với lực lượng Nhảy Dù tinh nhuệ. Chiến trường Thường Đức – Quế Sơn vào mùa thu ấy phải nhắc thêm các chiến sĩ Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, và mấy người lính Bộ Binh tà tà mà gan dạ. Tiểu Đoàn Một Bốn 281

255 Laù Thö Tieàn Tuyeán Minh Nguyệt, K17/1 (Nam Sinh Tín) Trong đời sống, mọi người đều mong ước có một cuộc tình trọn vẹn và hạnh phúc đi đến hôn nhân. Nhưng trong thời chiến, các thiếu nữ, khi yêu người lính chiến, phải chấp nhận làm em gái ở hậu phương, cam chịu những ngày tháng nhớ nhung và đợi chờ. Là người yêu của lính, dù gặp hoàn cảnh chia ly không gì hứa hẹn, họ vẫn sống với niềm tin, sự hy sinh và lòng chung thủy. Niềm vui và nụ cười của họ chỉ thể hiện khi họ nhận được, từ KBC (Khu Bưu Chính) hoặc từ ngoài tiền tuyến gửi về, những lá thư của người yêu, viết tâm tình nhắn nhủ và báo tin vui được ngày về nghỉ phép. Họ ví như những cánh hoa, Cánh Hoa Thời Loạn, trước sóng gió đầy gian truân và khổ ải, luôn phải sống trong sự hồi hộp lo sợ, mòn mỏi ngóng trông, và phải đổ lệ vì tuyệt vọng khi bất chợt nhận được hung tin. Nỗi niềm tâm sự của họ thường được gửi gấm vào những vần thơ dành cho người yêu ngoài tiền tuyến. NỖI NIỀM Đêm trường thổn thức đơn côi Con tim se thắt viết lời nhớ anh Bên hiên trăng vẫn treo mành Rừng xưa còn nhớ những lần bên nhau Thư anh tiếp nối đến mau Em đem gói trọn mối sầu thế gian Anh đi bảo vệ giang san Em về thui thủi trăm ngàn xót xa 282 Đa Hiệu 111

256 Chiến trường anh ở phương xa Phận em yếu đuối quê nhà nhớ thương Đôi bên cách biệt dặm trường Ai đưa ai đón ai thường hỏi han Tình si gửi gió mây ngàn Sài Thành mưa bụi muôn vàn đớn đau Ngọn đèn le lói canh thâu Trang thư càng giở càng sầu tương tư Thế thời thay đổi thế ư Cho nhân nghĩa đảo cho thù chất chông Phong trần theo ngọn cuồng phong Tử sinh số mạng theo dòng đời trôi Bao giờ vũ bão ngừng thôi Cho tim hoà hợp lứa đôi tình nồng Bài thơ Nỗi Niềm đã khiến cho tôi nhớ đến chuyện tình buồn của Thủy, một người bạn rất thân của tôi. Chúng tôi sống bên nhau từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, nên đều chia sẻ tất cả những chuyện vui buồn về gia đình và tình yêu. Hồi đó, Thủy là một sinh viên xinh đẹp, hiền lành và học giỏi, nên có rất nhiều chàng trai yêu thích. Còn tôi, chỉ là một người bạn giản dị, vui vẻ, và thân thiện bên Thủy. Nhà của chúng tôi ở cách nhau hai căn, nên tôi thường sang nhà của Thủy chơi, vì thế tôi đều gặp và biết tất cả các chàng trai đến ngắm nghé Thủy. Đặc biệt là Chung, chàng Sinh Viên Võ Bị mặc bộ Jaspé, đến thăm và đã nói là đi thẳng từ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam đến nhà của Thủy. Lúc đó, trông chàng rất bảnh bao trong bộ quân phục. Lần đầu gặp Chung với cá tính nghệ sĩ cởi mở, tôi đã có cảm tình ngay, nên đã nói tốt cho Chung rất nhiều. Cuối cùng Thủy đã quyết định chọn Chung và hò hẹn đi bát phố, xem ciné, lên Đà Lạt viếng thăm, v…v… Thế là một cuộc tình rất nên thơ đã chớm nở, và đôi uyên ương tràn đầy hạnh phúc đã có rất nhiều kỷ niệm êm đẹp. Lá Thư Tiền Tuyến 283

257 Thời gian dần trôi, đến ngày Chung mãn khóa và nhận sự vụ lệnh đi ra đơn vị tác chiến, thì hai người đã phải xa nhau. Lúc đầu, Thủy còn nhận được một hai lá thư của Chung, nhưng sau đó đã mất hẳn liên lạc. Thủy đã hỏi thăm khắp nơi, nhưng không ai biết vì lý do nào mà không liên lạc được Chung. Thủy đã khóc rất nhiều trong những ngày tháng khắc khoải, mong chờ. Những lúc Thủy tuyệt vọng suy nghĩ vẩn vơ, tôi đã luôn luôn phải an ủi và vỗ về Thủy. Một năm sau, gia đình của Thủy dọn nhà đi vì ba của Thủy phải thuyên chuyển công việc. Ban đầu, chúng tôi còn thư từ qua lại, nhưng sau này đã mất liên lạc, vì gia đình tôi đã phải rời quê hương đi định cư nơi xứ người. Tôi đã mang theo một phong bì lớn đựng hình và giấy tờ quan trọng, và trong đó có cả bì thư của Thủy. Thực ra bì thư này là do một người đã cầm tay mang đến cho Thủy nhưng rất tiếc không gặp được vì Thủy đã dọn nhà. Bà hàng xóm bảo họ sang nhà tôi và yêu cầu nếu tôi có gặp lại thì trao cho Thủy bì thư này. Tôi còn nhớ hôm đó, trong một buổi dạ tiệc, tôi đã vô cùng ngạc nhiên và mừng rỡ vì gặp lại được Thủy sau mấy chục năm mất liên lạc. Không ngờ chúng tôi lại cư ngụ ở cùng một tiểu bang. Vì lúc đó tôi còn bận điều khiển chương trình cho buổi dạ tiệc, tôi đã không có thì giờ để hỏi thăm Thủy nhiều, mà chỉ kịp viết số điện thoại và địa chỉ, hẹn Thủy ngày hôm sau đến nhà tôi chơi. Khi nhìn theo Thủy trở về ngồi bên cạnh chồng tại bàn tiệc, lúc đó tôi đã linh cảm là có lẽ Thủy đang sống hạnh phúc. Tôi đã phân vân không biết có nên trao cho Thủy bì thư mà tôi đã cất giữ từ lâu lắm rồi không. Sáng ngày hôm sau, Thủy đã đến thăm tôi như đã hẹn, và 284 Đa Hiệu 111

258 tôi đã nấu món bún riêu mà Thủy thích ăn nhất. Ông xã của tôi có công chuyện đi cả ngày, nên không gian thoải mái đã dành cho chúng tôi, hai người bạn cố tri lâu năm không gặp. Lúc Thủy đến có một mình, tôi đã hỏi thăm về chồng của Thủy. Tôi đã rất ngạc nhiên khi Thủy cười và trả lời là tôi đã nhầm, vì Thủy chỉ ngồi chung bàn với gia đình của vợ chồng người bạn. Thủy thố lộ với tôi là đã tự nguyện sống độc thân vì không thể nào quên được hình bóng của Chung với những kỷ niệm khó quên. Thủy kể là đã hỏi thăm khắp nơi, nhưng không ai biết tin tức gì về Chung cả. Năm này qua năm khác, Thủy cố gắng nuôi hy vọng là sẽ có ngày gặp lại được Chung, nhưng thời gian chờ đợi e rằng đã quá muộn màng rồi. Nghe Thủy kể như vậy, tôi vừa thương bạn đã bỏ quên đi cả một thời xuân sắc, vừa ngưỡng mộ tình yêu chung thủy và sâu đậm của Thủy dành cho Chung. Chúng tôi ăn uống hàn huyên cả ngày mà vẫn chưa hết tâm sự thì trời đã tối. Trước khi Thủy từ giã ra về, tôi đã quyết định lấy bì thư mà tôi đã cất giữ lâu nay và trao cho Thủy. Thủy đã sửng sốt nhìn tôi khi đột nhiên sau bao nhiêu năm lại nhận đưọc thư. Khi nhìn vào bì thư, Thủy đã quá xúc động và mừng rỡ thốt lên câu, Đây là nét chữ của Chung mà. Đúng rồi, thư của anh Chung! Tay run run, Thủy đã vội vàng mở thư ra ngay, và sau đó đọc lên cho tôi nghe với giọng nghẹn ngào, đôi mắt đỏ hoe. Những lời tâm tình tha thiết và tràn đầy ước hẹn của Chung, người chiến sĩ xa nhà nơi tiền đồn hẻo lánh, bỗng khơi lại một quá khứ sầu đau, làm cho Thủy bật khóc, và cũng khiến cho tôi phải mũi lòng. Nước mắt ràn rụa, Thủy không thể tiếp tục đọc thư được nữa, nên đã đưa lá thư nhờ tôi đọc nốt bài thơ mà Chung đã sáng tác tặng cho Thủy. LÁ THƯ TIỀN TUYẾN Gửi em thư viết mặn nồng Lá Thư Tiền Tuyến 285

259 Của người chiến sĩ hằng mong ngày về Xa nhau mấy dặm sơn khê Tình luôn chung thủy không hề phôi phai Đêm đêm thao thức u hoài Nhớ em sầu mộng canh dài cô đơn Núi đồi gió lạnh đêm buồn Biên cương hiu quạnh tâm hồn nhớ nhung Mong nhận lá thư yêu thương Của người em gái hậu phương tâm tình Nhìn trời sao chiếu lung linh Chờ ngày về phép thắm tình hương quê Hẹn em sớm được trở về Đôi ta sánh bước trên hè dạo chơi Dìu nhau bên suối lưng đồi Ngắm xem chim hót hoa cười trước sân Tình thêm thắm thiết bội phần Rồi mai tạm biệt một lần nữa xa Biên cương anh lại xông pha Giữ gìn bờ cõi quê nhà bình yên Cho thôn xóm được ấm êm Em an giấc ngủ mộng hiền tuổi xanh Nhìn trăng khuya sáng long lanh Hỏi em có nhớ người anh xa trường? Đọc thư xong, trong giây phút ngậm ngùi thương cảm này, tôi và Thủy đã nhìn nhau với ánh mắt nhòa lệ, cùng nhau như thầm hỏi: Giờ này anh ở đâu? 286 Đa Hiệu 111

260 LIEÂN ÑOAØN 5 BIEÄT ÑOÄNG QUAÂN TAÏI MAËT TRAÄN QUAÛNG TRÒ Nguyễn Văn Nam, K20 Nói đến Mặt trận Quảng Trị, chúng ta thường đọc những tài liệu và phim ảnh về cuộc hành quân tái chiếm Quảng Tri là chiến thắng của Thủy Quân Lục Chiến tại cổ thành: Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Rất ít người biết được trước đó, vào giữa tháng Tư năm 1972, lực lượng Biệt Động Quân,Thiết giáp đã chận đứng và đánh bại quân xâm lược Bắc Việt tại phòng tuyến Tây Nam Đông Hà. Đ ế n nay, chiến thắng lẫy lừng nầy hầu như bị bỏ quên, ít ai còn nhắc đến, cũng như ít có tài liệu nói về giai đoạn nầy. Cuối tháng 3 năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt ngang nhiên xé hiệp định Genève 1954 đưa toàn bộ lực lượng tràn qua Bến Hải tấn công vào Sư Đoàn 3 và Một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến trấn đóng tại các căn cứ hỏa lực dọc theo biên giới Lào. Trước áp lực quá mạnh và bất ngờ của địch, sau vài ngày chống trả chờ quân bạn tiếp viện trong vô vọng, Trung tá Phạm Văn Đính, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 56/ Sư Đoàn 3, đã buộc phải đầu hàng địch. Trong khi đó, Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, rút bỏ các căn cứ hỏa lực dọc theo biên Liên Đoàn 5 BĐQ tại Quảng Trị 287

261 giới Lào, đã tạm rút về lập phòng tuyến mới tại phía Tây Nam Đông Hà. Ngoài ra, một số đơn vị quân đội phải lui quân, bỏ ngỏ quận Gio Linh và Cam Lộ, Quảng Trị. Trước tình thế trên, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cấp tốc điều động 3 Liên Đoàn 4, 5, 6 Biệt Động Quân, tăng cường cho Quân Đoàn I. Từ cuối năm 1971, toàn bộ LLXK/ QĐIII rút khỏi chiến trường Kampuchea. Liên Đoàn 5 BĐQ vào vùng hành quân Tam Giác Sắt thay Lữ Đoàn Nhảy Dù của Đại tá Lê Quang Lưỡng. Sau Tết, khi Liên Đoàn 5 bắt đầu hành quân vào chiến khu D thì được lệnh cấp tốc gom quân về căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh. Tại đây, Liên Đoàn được lịnh trang bị ba ngày lương khô và hai cấp số đạn sơ khởi, khẩn cấp ra tăng cường cho Quân Đoàn I. Liên Đoàn 5 BĐQ được không vận đợt đầu tiên từ phi trường Trảng Lớn, Tây Ninh ra Phú Bài. Khoảng 5:00 giờ chiều, toàn bộ Liên Đoàn 5 đã có mặt tại Huế và được di chuyển gấp ngay trong đêm ra căn cứ Hòa Mỹ. Không Quân tiếp tục chuyển 2 Liên Đoàn 4 và 6 BĐQ trong đêm. Sáng sớm hôm sau, hai Liên Đoàn bạn cũng có mặt tại Phú Bài. Đến căn cứ Hòa Mỹ vào khoảng 22:00 giờ, qua bầu trời trong lấp lánh ánh sao, lần đầu tiên chúng tôi chứng kiến từng đợt hỏa tiễn Sam của CSBV đuổi theo B52 cho đến khi hết tầm nổ tung như pháo bông. Hôm sau, Liên Đoàn, được tăng cường Thiết Đoàn 17 (Trung Tá Dung, Thiết Đoàn Trưởng) và một Chi Đoàn Chiến Xa M48 thuộc Thiết Đoàn 20 vừa mới được thành lập, cấp tốc ra Đông Hà thay thế Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đang trấn giữ phòng tuyến Đông Hà. Bộ Chỉ Huy Huy Liên Đoàn 5 lập căn cứ dọc Quốc Lộ 1 cách Đông Hà khoảng 4km về phía Nam cùng BCH/ Thiết Đoàn 17 + Tiểu Đoàn 33 BĐQ (-2) + Đại Đội 5 Trinh Sát và Pháo Đội 105 ly. Tiểu Đoàn 33 BĐQ (-2) và một Chi Đoàn 288 Đa Hiệu 111

262 M113 giữ phòng tuyến Đông Hà. Tiểu Đoàn 30 BĐQ và một Chi Đoàn M48 giữ tuyến Tây Nam Đông Hà dọc theo dãy Trường Sơn. Tiếp theo là Tiểu Đoàn 38 BĐQ + Chi Đoàn M113, LĐ4 BĐQ, Liên Đoàn 6 BĐQ. Vài ngày sau LĐ6 được điều động tăng cường Quân Đoàn II và LĐ1 thay thế Liên Đoàn 6. Vừa vào vùng trách nhiệm để thay thế đơn vị bạn, chúng tôi đã được địch quân chào đón bằng những trận mưa đại pháo 130ly và đủ loại hỏa tiễn của VC. Khi quen với pháo kích của chúng, chúng tôi có thói quen tính bằng thời gian chứ không đếm bằng quả như ở các mặt trận khác. Đến vị trí ấn định chúng tôi vẫn chưa tìm thấy quân bạn. Sau khi liên lạc nhau trên hệ thống truyền tin và cho tọa độ chính xác, vài phút sau các tiểu đoàn mới bắt tay được với nhau. Đi đâu cũng gặp toàn dân Võ Bị nên việc bàn giao rất nhanh chóng sau khi được dặn dò tỉ mỉ. Ở đây, mọi bài học ở quân trường và binh thư căn bản đã được tạm xếp sang một bên. Theo kinh nghiệm của đơn vị bạn cũng như thực tế trước mắt, chúng tôi chọn những thung lũng lòng chảo để bố trí quân thay vì chiếm các cao điểm như thường lệ. Cao điểm có ưu thế chiến thuật kiểm soát khu vực, nhưng có bất lợi là làm thành mục tiêu chính xác cho VC pháo kích. Chúng tôi đã chia tay nhau, trong sự lo lắng với những lời chúc lành của những đứa con cùng trường mẹ. Hơn 500 BĐQ nhận lãnh trách nhiệm của trên 700 Thủy Quân Lục Chiến mà mọi người đều biết chắc rằng nơi đây sẽ xảy ra những trận đánh khốc liệt trong vài ngày tới. Việt Cộng không dám liều lĩnh vượt sông Đông Hà tấn công BĐQ nên chuyển hướng về Trường Sơn đến quận Cam Lộ (đã thất thủ), tập trung quân, chuẩn bị. Những toán tiền sát viên pháo binh của VC giả dạng, mặc quân phục Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH, len lỏi bám sát gọi pháo binh, bắn liên tục vào các vị trí đóng quân của ta. Chúng tôi phải liên tục ngày đêm tung các toán tuần tiểu, phục kích tiêu diệt bọn nầy, trong Liên Đoàn 5 BĐQ tại Quảng Trị 289

263 khi chờ đợi những trận tấn công mới của bọn chúng. Ngày 9 tháng 4 năm 1972, Việt Cộng, tung chiến xa và mở đợt tấn công dữ dội từ hướng Cam Lộ xuống, đâm thẳng vào phòng tuyến Tiểu Đoàn 30 BĐQ. Chúng tôi ra lịnh anh em giữ vững vị trí, trong khi Chi Đoàn Chiến Xa M48 tấn công ngay khi chiến xa T54 của địch lọt vào tầm tác xạ. Nhiệm vụ Trực thăng vận. của BĐQ là phải cản cho được bộ binh địch tùng thiết, nên chỉ được tác xạ khi chiến xa chúng đến được gần phòng tuyến mình -trong tầm tác xạ của M72. Khi trái đại bác đầu tiên của M48 hạ ngay chiếc T54 địch trước sự reo hò của anh em, chúng tôi đã phát giác ra ngay đám con cháu HCM đánh giặc rừng, chưa học được bài Nhị Thức Bộ Binh -Thiết Giáp mà đã xung trận. Chúng dàn thiết giáp đi giữa, bộ binh tiến hai bên. Chuối đã đưa đến miệng cưỡng. Chỉ hơn nữa giờ sau, M48 đã bắn cháy 13 chiến xa T54, khiến những xe còn lại quay đầu bỏ chạy về hướng Trường Sơn. BĐQ và Thiết Kỵ reo hò trước hiệu quả của chiến xa M48 lần đầu được trang bị và xung trận. Ranh giới hoạt động giữa hai tiểu đoàn 30 và 38 BĐQ là một con suối cụt, hai bên bờ có cây cối rậm rạp. Thỉnh thoảng, 290 Đa Hiệu 111

264 chúng tôi vẫn còn nghe tiếng thiết giáp di chuyển dưới bờ suối. Để kiểm soát lại thật kỹ xem đó có phải là của bạn hay địch, TĐ 30 đề nghị 38 để 30 kiểm soát con suối. Chúng tôi cho một toán trinh sát bám theo tiếng máy xe và bất ngờ gặp 3 chiếc T54 trốn dưới suối chạy lạc. Lúc trồi lên để tìm đồng đội, chúng lại đâm ngay vào Bộ Chỉ Huy/ Tiểu Đoàn. Cả đơn vị đều la lên: – T54, Việt Cộng! Tức thì 2 chiếc lãnh đủ mọi hỏa lực, bị bốc cháy, trong khi chiếc còn lại hoảng hốt lách tránh đạn bị lật nằm chỏng gọng. Tôi la lớn: – Tất cả ngưng tác xạ. Tôi đích thân điều động 2 đại đội xung phong lên bắt sống (chữ của VC trả lại cho VC) chiếc T54 đầu tiên cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Khi nhận báo cáo, Trung tá Hồng -Liên Đoàn Trưởng- đã đích thân vào máy kiểm chứng lại với tôi, giọng nửa đùa nửa thật – Báo lại cho đàng hoàng. Thiết giáp chứ phải cua hay sao mà mầy bắt sống dễ dàng vậy? Kiểm soát lại để tao còn báo cáo lên quân đoàn. – Trình 78 (danh hiệu LĐT), nửa tiếng nữa tôi sẽ nhờ anh em Thiết Giáp kéo về nộp cho liên đoàn. Chiếc T54 còn nguyên chưa lãnh đạn. – Tốt lắm, cho tôi gởi lời khen ngợi đến anh em TĐ30 và Thiết giáp. Chiếc T54, chiến lợi phẩm đầu tiên do Tiểu Đoàn 30 BĐQ và Chi Đoàn Chiến Xa M48, thuộc Thiết Đoàn 20 tịch thu được tại mặt trận Tây Nam Đông Hà ngày 9 tháng 4 năm 1972, được kéo về trưng bày tại Phú Vân Lâu và sau đó được đưa về trước Tòa Đô Chính Saigon, cùng với chiếc thứ nhì do Thủy Quân Lục Chiến tịch thu được sau nầy. Thật tội nghiệp cho bọn VC như bầy vịt con ngơ ngác! Liên Đoàn 5 BĐQ tại Quảng Trị 291

265 Khi đám cua sắt đi giữa nhanh chóng bị loại khỏi vòng chiến, chúng bị tách rời thành hai cánh làm mồi cho hỏa lực thiết giáp và sức tấn công vũ bão của 2 TĐ 30, 38 BĐQ. Chỉ trong một ngày chúng tôi tịch thu trên 200 súng đủ loại trong đó có 8 khẩu đại bác không giật 82 ly lần đầu tịch thu được. Đúng là một trận đánh thật ngoạn mục như trong phim La Mã thời xưa, trên một chiến trường rộng lớn trùng trùng điệp điệp đồi sim bát ngát. Quân ta đã lấy súng địch như lấy củi! Để gỡ gạc, bọn VC pháo kích dữ dội rồi dùng những đơn vị bộ binh còn lại cố gắng tấn công nhưng chỉ thêm tổn thất. Sau hai ngày đêm kịch chiến, bọn VC đã hoàn toàn bị đẩy lùi vào Trường Sơn. Chúng tôi bắt sống được 3 tên VC trẻ măng, chừng 16 tuổi. Khi tôi hỏi: – Sao còn con nít như vầy không chịu đi học mà lại đi lính làm gì? -Họ bắt đi lính hết, vào giải phóng miền Nam. Làm gì được tiếp tục đi học. Anh em BĐQ lại đốt thuốc lá đưa cho họ hút, cho ăn cơm gạo sấy và thịt hộp ba lát. Chúng thấy thuốc thì hí hửng hút nhưng cơm thì ngần ngừ không dám ăn, mà chỉ đưa mắt nhìn từng người rất lấy làm ngạc nhiên. Thấy vậy, tôi hối thúc: – Ăn đi chứ chờ gì nữa. Lính tráng gì mà rụt rè như con gái vậy. Bộ sợ bị thuốc độc &agr

【#3】Top 7 Phim Chiến Tranh Hay Nhất Mọi Thời Đại Khiến Bạn Ám Ảnh Khôn Nguôi

Phim Chiến Binh Đơn Độc (Lone Survivor (2013))

Chiến Binh Đơn Độc (Lone Survivor) là bộ phim dựa trên cuốn ký sự cùng tên của Marcus Luttrell và Patrick Robinson. Câu chuyện kể cho người xem về sự tàn khốc chiến tranh, cụ thể trong một chiến dịch mang tên Red Wings. Sự khắc họa thành công về chiến tranh và con người trong những năm tháng chiến tranh ấy đã tạo nên sự thành công cho Chiến Binh Đơn Độc (2013)

Trailer phim Chiến binh đơn độc

Phim Trân Châu Cảng (năm 2001)

Trân Châu Cảng là bộ phim được đánh giá rất cao do đã khai thác và diễn tả tuyệt đỉnh tình cảm dựa trên lịch sử chiến tranh thế giới rất có ý nghĩa và rất sâu sắc. Ở bộ phim này tình yêu Tổ quốc, tình yêu đôi lứa, tình yêu đồng đội sát cánh bên nhau và tình cảm bạn bè được hiện lên trên những mất mát, đau thương.

Lấy bối cảnh từ trận oanh tạc của quân đội Không quân Nhật vào căn cứ chỉ huy cảng Trân Châu ở quần đảo Hawaii đây là Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Do không có sự chuẩn bị kịp mà từng người lính một lần lượt ngã xuống, xác người chất ngổn ngang khắp nơi.

Trong bối cảnh như vậy, câu chuyện của bộ ba Rafe – Evelyn – Danny bắt đầu. Đó là câu chuyện và cũng là điểm chính của phim: tình yêu giữa ba con người tại thành bộ ba tam giác mang tên Rafe – Evelyn – Danny và trong đó có cả tình bạn của hai nhân vật Rafe và Danny.

Phim Cuồng Nộ (2014)

Lại là một bộ phim về chiến tranh Thế giới lần thứ hai, bộ phim Cuồng Nộ lấy bối cảnh chiến tranh thế giới đang dần bước vào giai đoạn kết thúc (4/1945), thời kỳ này quân đội Phát xít đã suy yếu dần. Một trung sĩ của quân đội Hoa kỳ tên là Don Collier (có biệt danh “Warady”) do nam tài tử đa tài điển trai Brad Pitt thủ vai đã chỉ huy các đồng đội của mình cùng chiếc xe tăng mang mật danh “Fury” lên đường làm nhiệm vụ mở đường cho quân Đồng minh bức tường phòng tuyến cuối cùng của Phát xít Đức nhằm kết thúc chiến tranh nhanh hơn.

Bộ phim còn khắc họa cuộc sống của 5 người lính trong chiếc xe tăng gian nhỏ hẹp nhưng tinh thần vô cùng lớn lao và vô cùng tinh thần quả cảm của họ. Cuồng Nộ được giới chuyên môn đánh giá cao và được xem là phim chiến tranh hay nhất mọi thời đại.

Phim Cờ Thái Cực Giương Cao (The Brotherhood Of War (2004))

Cờ Thái Cực Giương Cao là một bộ phim về chiến tranh được đánh giá xuất sắc nhất trong làng điện ảnh Hàn Quốc với phim về đề tài chiến tranh và được liệt kê vào phim chiến tranh hay nhất mọi thời đại.

Vào năm 1950, khi có chiến tranh giữa Nam Hàn và Bắc Hàn (Triều Tiên). Hai anh em trai là Jin Tae và Jin Seok, cả hai anh em đều đi lính cho quân đội Nam Hàn.

Vì hiểu lầm và cho rằng em trai mình đã chết trong cuộc chiến, người anh trai đã tham gia vào quân đội Bắc Hàn (Triều Tiên) với mong muốn trả thù cho em trai. Thế nhưng em trai anh có chết thật hay không? Câu chuyện về tình anh em, tình yêu đất nước và hận thù của họ sẽ đi về đâu? Tại sao nó lại có sức hút lớn như vậy khi được hơn 12 triệu khán giả xem rạp tại Hàn Quốc?

Phim Band Of Brother

Có kinh phí khủng 125 triệu USD và với 10 series phim đã vô cùng thành công. Đề tài về Chiến tranh thế giới thứ hai luôn là một đề tài quen thuộc nhưng không hề kém hấp dẫn người xem và trong đó có Band Of Brother này. Đây không phải là kịch bản giả tưởng mà hoàn toàn là một câu chuyện có thật về một đại đội lính dù thuộc sư đoàn không vận 101 của quân đội Hoa Kỳ.

Bộ phim được đánh giá rất cao nhờ lối diễn xuất chân thật và sóng động của các diễn viên. Đây xứng đáng là một bộ phim nằm trong top các bộ phim chiến tranh hay nhất mọi thời đại.

Phim Black Hawk Down (2001)

Bộ phim lấy bối cảnh vào đầu thập niên 90, khi mà nước Mỹ có 19 binh lính đã chết, 84 binh sĩ bị thương, 1 binh sĩ bị bắt sống, 2 máy bay trực thăng bị bắn rơi… với người Mỹ thì đây là một trận chiến gây ra một cú sốc rất lớn. Từ trận chiến này bộ phim Black Hawk Down (Diều Hâu Gãy Cánh) đã được dàn dựng lại.

Một bộ phim nói về sự can thiệp của cường quốc Hoa Kỳ và tổ chức Liên Hợp Quốc vào cuộc chiến ở đất nước Somali vào thời gian những năm của thập niên 90. Khác với các bộ phim ở trên, cuộc chiến ở Somali không phải là một cuộc chiến tranh giữa hai đất nước với nhau. Mà nó kể về tình hình chiến sự nội chiến của chính đất nước Somali.

Phim The Bridge on the River Kwai (Cầu Sông Kwai)

Bộ phim chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên (tiếng Pháp của tiểu thuyết này là: Le Pont de la Rivière Kwai) của nhà văn Pierre Boulle. Sẽ không ngoa nếu đánh giá đây là phim về chiến tranh hay nhất mọi thời đại. Nó được chứng minh bằng sự yêu thích của người xem trên khắp thế giới và giới chuyên môn về điện ảnh đánh giá về những giá trị mà phim đem lại. Chính vì vậy phim này đoạt giải Oscar năm 1957.

Dàn diễn viên bao gồm William Holden, Jack Hawkins, và Alec Guinness và Sessue Hayakawa. Bộ phim đề cập đến tình trạng tù binh chiến tranh của Anh trong Thế chiến II, những người được lệnh xây dựng một cây cầu để chứa đường sắt Burma-Siam. Bản năng của họ là phá hoại cây cầu, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đại tá Nicholson, họ bị thuyết phục rằng cây cầu nên được xây dựng như một biểu tượng của tinh thần, tinh thần và phẩm giá của Anh trong hoàn cảnh bất lợi.

Share FB »