Top 6 # Xem Nhiều Nhất Xuất Xứ Của Gà Đông Tảo Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Ngayhoimuanhagiagoc.com

Gà Đông Tảo – Gà Quý Của Việt Nam Có Xuất Xứ Ở Đâu?

Gà Đông Tảo là gì?

Gà Đông Tảo hay còn gọi là gà Đông Cảo là giống gà đặc hữu của Việt Nam. Nổi bật với thân hình bệ vệ, da đỏ, mào tía, đầu oai vệ cùng dáng vẻ hiên ngang. Đặc biệt nhất có lẽ phải kể đến đôi chân của chúng, sở hữu cặp chân to, xù xì, có các lớp vảy xếp tự nhiên không theo quy luật nào cả, tổng thể nhìn giống như bề mặt quả dâu tằm. Những đôi chân khủng từ lâu đã làm nên tên tuổi của giống gà Đông Tảo.

Khi trưởng thành gà Đông Tảo có thể nặng trên 4,5 kg đối với gà trống và trên 3,5 kg đối với gà mái. Gà trống gồm hai màu lông cơ bản là màu tím pha đen và màu của quả mận. Gà mái thì lại có đến 3 mãn lông đó là: vàng nhạt, nâu nhạt và trắng sữa. Đây là loài gà cổ truyền của dân tộc trước đây thường được người dân dùng để cúng lễ, tiến Vua. Chúng thuộc danh sách các giống gia cầm quý hiếm của Việt Nam hiện đang được bảo tồn nguồn gen.

Gà Đông Tảo có xuất xứ ở đâu?

Gà Đông Tảo nổi tiếng là vậy nhưng khi hỏi chúng có xuất xứ từ đâu thì không phải ai cũng biết rõ. Có một câu chuyện dân gian truyền miệng đã kể lại sự xuất hiện của gà Đông Tảo như sau:

“Ngày xưa, thời phong kiến Việt Nam, loạn lạc hoành hành khắp nơi. Giặc phương Bắc dòm ngó, đánh chiếm bờ cõi. Người dân đói khổ, quan lại vơ vét, cướp bóc giết người triền miên, đạo lý làm người ko còn. Triều đình thì nhu nhược, khuất phục ngoại bang. Thanh niên trai tráng ai cũng rượu chè, cờ bạc, đam mê tỉu sắc và sợ chết.

Dân nghèo phải chịu bao nhiêu là thứ thuế, đã vậy hàng năm vẫn phải dâng sản vật quý tiến vua. Ở một làng nghèo nọ,  đến lượt phải tìm bằng được báu vật tiến vua nếu không cả làng sẽ phải chịu tội trước triều đình. Nhưng vì nghèo quá, cả làng tìm mãi không ra một thứ gì giá trị để mang dâng lên nhà vua mong thoát tội. Trong lúc các bô lão trong làng đang họp bàn, nghĩ hết nước không ra… thì một con gà chạy qua, đúng là hồng ân trời ban cho giúp cả làng thoát tội đây rồi: Một chú gà to lớn, da đỏ, bệ vệ, oai phong có đôi chân to kỳ dị chưa ai từng thấy. Thế là chú gà được dân làng trịnh trọng dâng lên nhà vua, vua vui mừng lắm bèn triệu tập tất cả các quan đại thần lại để cùng chiêm ngưỡng chú gà có một không hai này.

Nhà vua lại gần chú gà suýt xoa: “Đúng là gà quý, đúng là gà đẹp!” rồi lệnh cho một trăm quân ngày đêm canh gác cẩn mật, thay nhau chăm sóc chú gà này để chờ ngày đẹp sẽ đem ra làm thịt thiết đãi tất cả  các quan đại thần và cung nữ.

Nhà vua vừa dứt lời bỗng chú gà vùng bay ra khỏi lồng, gáy lên những tiếng to lớn như sấm nổ vang trời: Dân ghét độc tài, dân ghét dối trá, dân mưu cầu tự do. Sấm chớp nổi lên, mây đen vần vũ… Lũ tham quan đại thần, cung tần mỹ nữ bỏ chạy tan tác. Nhà vua thấy vậy sợ hãi vô cùng, mặt cắt không còn giọt máu, quỳ sụp xuống lạy lục van xin tha cho tội lỗi bấy lâu nay vì ham lợi riêng, say mê tửu sắc mà bỏ mặc bách tính lầm than.

Gà thần không đợi vua nói thêm: “Ta đến đây không phải để nghe nhà ngươi trình bày hay hối lỗi, mà nhắc ngươi bài học tiền nhân biết lấy dân làm gốc, lệnh cho ngươi ngay lập tức thay đổi thể chế, phá bỏ độc tài không thì lưới nhân quả ngươi cũng không thể nào thoát nổi”.

Trước khi bay về trời Gà thần còn ban cho dân làng một quả trứng và dặn:”Mọi sự trên đời muốn có thì trước hết là phải tự mình biết giành lấy chứ đừng chỉ mong chờ sự ban ơn từ kẻ khác”. Dân làng đem trứng về trông nom cẩn trọng, đúng 100 ngày sau trứng nở ra một chú gà tuyệt đẹp, càng lớn chú gà càng mang tướng mạo oai vệ của Gà thần. Người ta truyền tai nhau câu chuyện về chú gà nọ và lấy tên làng là Đông Tảo đặt cho chú.”

(Tham khảo bài viết Giá gà Đông Tảo thuần chủng năm 2020)

Để phục vụ chu đáo và tư vấn những thông tin tốt nhất, quý khách vui lòng liên hệ qua điện thoại theo số

0826880528

hoặc nhắn tin qua

Fanpage chính thức của Tùng Lộc Pet

.

Xin chân thành cảm ơn!

Giám đốc

Trần Khánh Tùng

[Total:

1

Average:

5

]

Mục Sở Thị 2 Bình Rượu Gà Đông Tảo Của Trùm Gà Độc Nhất Xứ Nhãn

Chúng tôi tìm đến nhà ông Lê Xuân Vết (80 tuổi), ở xã Thành Công, huyện Khoái Châu, Hưng Yên một ngày đầu tháng 12, khi không khí hối hả của ngày giáp Tết đang đến gần. Người tìm đến ông để hỏi mua gà giống, gà thịt, gà biếu Tết, còn chúng tôi tìm đến ông vì tò mò về 2 bình rượu gà Đông Tảo vô cùng độc đáo mà ông sở hữu.

Để khách thập phương có thể đến thăm nom chuồng trại và thưởng thức những món ngon từ gà Đông Tảo, ông Vết đầu tư xây dựng một cửa hàng nho nhỏ. Trên chiếc kệ gỗ đặt cạnh tivi, ông trưng bày rất nhiều loại rượu quý. Trong đó nổi bật là 2 bình rượu gà Đông Tảo. Thế nhưng, để tạo nên 2 bình rượu gà đặc biệt này là cả một quá trình đầy kì công.

“Trước khi ngâm con gà này tôi phải tắm nước lạnh. Dùng nước sôi cạo sạch vẩy chân sau, xát muối rồi rửa sạch. Sau đó dùng dấm rửa lại một lần nữa rồi tiếp tục xát chanh và rửa sạch. Chưa hết, tôi phải tẩy gừng và rượu vào con gà rồi mới cho vào bình và ngâm rượu để con gà để được lâu.

Đáng nói, trọng lượng con gà này lớn, đòi hỏi độ của rượu ngâm nó phải cao hơn tất cả các loại khác. Do đó, ông Vết đã sử dụng loại rượu 70 độ và phải đặt người quen nấu riêng mới an tâm.

Không chỉ vậy, mỗi bình rượu gà Đông Tảo ông còn ngâm kèm 5-7 quả trứng gà Đông Tảo. Theo đó, khi ngâm lâu, cả trứng và rượu sẽ dần chuyển sang màu xanh ngọc. Rượu trứng có tác dụng bồi bổ cơ thể, rất tốt cho những người mới sinh nở.

Cả đời gắn bó với gà Đông Tảo, ông Vết coi những con gà như người bạn của mình. Ông buộc phải hóa kiếp, ngâm rượu cặp gà giống vì không thể duy trì thêm tuổi thọ cho chúng..

“Việc ngâm rượu sẽ giúp cặp gà tồn tại mãi mãi về sau. Để gia đình, con cháu tôi luôn nhớ và coi chúng là một thành viên trong gia đình; biết giữ gìn, bảo vệ nguồn gen quý của giống gà này. Đồng thời, để khách hàng khắp các nơi và khách tham quan cũng có thể chiêm ngưỡng nó”, ông Vết chia sẻ.

Theo lời ông Vết, 2 con gà Đông Tảo ngâm rượu là giống gà Đông Tảo vảy rồng, có nguồn gen quý, được sử dụng cung tiến Vua từ thời nhà Lê và nhà Nguyễn. Tuy nhiên, xét về năm tuổi, cặp gà ngâm rượu chỉ là đàn con, cháu của các con gà trước đây ông Vết từng nuôi.

Được biết, trước khi hóa kiếp để ngâm rượu, cặp gà này đã từng được nhiều người trả giá rất cao.

“Cách đây 4 năm, trong Sài Gòn điện cho tôi rất nhiều lần, trả giá 120 triệu đồng/ 2 con gà nhưng tôi không bán. Ngay năm ngoái, đầu năm vẫn có người điện ra trả tôi 65 triệu nhưng tôi không đồng ý. Sau hết giai đoạn phối giống, tôi quyết định ngâm rượu cặp gà Đông Tảo này”, ông Vết kể lại.

‘Chúa’ gà và tình yêu đặc biệt với giống gà Đông Tảo tiến Vua

Cả tuổi trẻ gắn bó với chuồng trại, đã nhân giống không biết bao nhiêu lứa gà. Và mỗi lứa gà qua đi đều để lại cho ông Lê Xuân Vết những kỉ niệm khó quên. Hướng đôi mắt vào 2 bình rượu gà để trên kệ, đôi mắt ông Vết đầy suy tư. “Tôi có niềm đam mê với con gà rất lớn. Nuôi gà từ cái độ mười mấy, rồi sau đó tôi đi bộ đội. Ngày ra quân, tôi lại quay về với con gà, đến giờ đã là 40 năm”.

Trong số những con gà giống gắn bó với sự nghiệp chuồng trại, cặp gà Đông Tảo đã ngâm rượu gắn bó sâu đậm nhất với ông Vết. Thông thường, gà giống 1 đến 2 năm phải thay, vậy mà ông Vết giữ được cặp gà này 5 đến 6 năm để duy trì giống thì quả thực khó và kỳ công.

“Tôi chăm nó như chăm con. Giống gà này ở chân có nhiều đốt sần, dễ bị cái bẩn đọng vào các khe kẽ. Mùa hè ấm áp, tôi phải dùng bàn chải vệ sinh sạch sẽ chân cho nó để tránh bị nhiễm trùng”.

Ông Vết cho hay, đến nay đã nhân được thêm một vài nguồn gen khác tạo ra giống gà Đông Tảo vảy thịt, vẩy sùi. Tuy nhiên, quý nhất từ xưa đến nay vẫn là giống gà Đông Tảo vẩy rồng – giống gà được các cụ nhân giống từ con gà Đông Tảo Đông và con gà hồ Bắc Ninh. Và đó chính là lý do ông Vết luôn cố gắng gìn giữ loại gen của giống gà này.

Kể về nguồn gốc của giống gà Đông Tảo vảy rồng chân to, ông Vết bồi hồi xúc động. Năm 1976, ngay sau khi đi bộ đội về, ông đã lên xã Đông Tảo (Khoái Châu, Hưng Yên) để tìm gà giống. Và đó là khởi nguồn của giống gà quý ông gìn giữ đến tận bây giờ.

“Lúc đó trên Đông Tảo chỉ còn có 2 cụ già nuôi được 2 cặp gà Đông Tảo, tôi may mắn mua được 2 con. Sau đó, tôi mua thêm được 5 con nữa và bắt đầu nhân giống. Từ bấy giờ cho đến nay, hơn 40 năm rồi tôi vẫn cố gắng duy trì giống gà quý này”, ông Vết tâm sự.

Sau bao năm tháng tỉ mỉ, chăm chút và dành tình yêu thương cho những con gà, giờ đây ông Vết đã xây dựng cho mình và gia đình một thương hiệu có tiếng về gà Đông Tảo. Có được như ngày hôm nay, ông Vết không chỉ là một người tâm huyết mà còn là một chủ trang trại luôn trăn trở với việc bảo vệ và phát triển nguồn gen của giống gà Đông Tảo tiến Vua.

Có thời gian, rất nhiều thương lái Trung Quốc đến Hưng Yên để tìm mua toàn bộ giống gà quý này. Họ về làng Đông Tảo mua từng quả trứng. Có người giới thiệu chỗ ông Vết và họ đánh xe về tận nơi. Họ trả ông Vết 2 con gà với giá rất cao nhưng ông kiên quyết không bán.

“Lúc đó tôi chỉ nghĩ rằng, giống gà này là 1 giống quý của Việt Nam, bán đi thì lấy gì mà tồn tại và phát triển cho đất nước… Các bậc tiền bối đi trước đã đúc kết và duy trì được các gen giống hiếm nên tôi cũng muốn làm được điều đó, góp phẩn nhỏ vào việc giữ gìn giống gà quý cho đất nước…”

Nhìn cách ông Vết tỉ mẩn chăm sóc từng con gà, mới thấy hết được tình yêu ông dành cho nghiệp chăn nuôi. 80 tuổi – khi đã ở cái dốc bên kia cuộc đời, tình yêu ấy với ông dường như lại càng cháy bỏng hơn bao giờ hết…

Mộc Miên/NĐT

Tác Dụng Của Thịt Gà Đông Tảo

Thứ ba – 10/01/2017 00:14

TÁC DỤNG CỦA THỊT GÀ ĐÔNG TẢO Thịt gà là loại thực phẩm được rất nhiều người ưa thích và có lợi cho sức khoẻ. Thịt gà cũng là món không thể thiếu trong các mâm cỗ truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học thì một số trường hợp không nên ăn và không thể ăn thịt gà vì không tốt cho sức khoẻ người bệnh.

Nếu như trước đây gà ri được dùng khá nhiều trong dịp tết vì so với gà công nghiệp bán tràn lan trên thị trường thì gà ri có chất lượng thịt ngon, hàm lượng axitamine cao hơn hẳn. Nhưng hiện nay, khi đời sống của người dân nâng cao, nhu cầu thưởng thức thực phẩm chất lượng cao hơn thì gà Đông Tảo được ưa chuộng, bởi gà Đông Tảo trước đây được dùng để tiến Vua với chất lượng thịt thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe con người.

Theo lương y Vũ Quốc Trung (Hà Nội), trong Đông y gọi thịt gà là kê nhục và phân biệt gà trống, gà mái. Gà trống thịt có vị ngọt, tính ấm, không động có tác dụng nuôi dưỡng bảo quản, vệ khí bên ngoài, bổ trung an thai, liền xương, trị bệnh ứ nước trong người, tê dại. Còn thịt gà mái có vị chua, tính bình không độc, trị phong hàn thấp chữa bị thương gãy xương, băng huyết và bạch đới.

Khoa học phân tích trong 100 gram thịt gà có 23,3 gram protein; lipit và các khoáng chất khác như can xi, phốt pho, sắt. Ngoài ra, thịt gà còn nhiều vitamin A, C, E có tác dụng ôn trung ích khí, ích tinh, dùng trị gầy mòn, tiểu nhiều lần, sinh đẻ ít sữa, hư nhiệt sau sinh.

Trong con gà, món không thể thiếu được đó là trứng gà: kê tử có vị ngọt tính bình, không độc trừ các chứng lị, trị rôm xảy, an thai chữa tê bại. Dùng trứng gà bồi dưỡng sau bồi bổ sức khỏe.

Lòng trắng trứng gà có tác dụng giải độc tốt, khi nhiễm độc dùng lòng trắng trứng cho uống để hút độc. Vỏ trứng gà cũng có tác dụng chữa bệnh, dùng tán nhỏ chữa bệnh hôi miệng, ho gà, chữa bệnh đau dạ dày vì bột vỏ trứng gà giảm axit dạ dày.

Trong con gà màng mề gà gọi là kê nội kim thường bóc ra phơi hoặc sấy khô để chữa bệnh có tác dụng tiêu thức ăn, một loại thuốc tiêu hóa kiện vị, ăn uống không tiêu, màng mề gà dùng cho rất nhiều trường hợp.

Gan gà cũng là vị thuốc. Theo như Đông y thì gan gà có vị ngọt đắng, tính ấm không độc, bổ thận, tráng dương, chữa đau bụng, an thai, kém mắt, ra máu, gan gà nhiều vitamine A. Gà không có gì độc nên hầu hết trẻ em và người già đều dùng được.

Nhiều người cho rằng người sau mổ không nên ăn thịt gà vì sẽ bị ngứa da, lương y Trung khẳng định ăn thịt gà ngứa da do cơ địa của từng người.

Khi ăn thịt gà, kỵ nhất là ăn thịt gà với lá kinh giới vì dùng chung với thịt gà sẽ gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu. Nếu ăn thường xuyên có thể khiến bạn khó đi ngoài.

Khi bị bệnh thủy đậu, ngoài việc dùng thuốc để điều trị thì chế độ sinh hoạt, ăn uống cũng đóng vai trò hết sức phải chú ý. Người bị thủy đậu cần kiêng không nên ăn thịt gà, đặc biệt là da gà vì có thể gây ngứa ở những nốt thủy đậu và để lại sẹo sau khi khỏi bệnh.

Khi bị bệnh sỏi thận, bạn cũng nên tránh xa hoặc kiêng ăn loại thịt thơm ngon này. Bởi đây là loại thực phẩm rất giàu protein nên sẽ khiến lượng oxalate trong nước tiểu tăng lên và hình thành các loại sỏi.

Đặc Điểm Sinh Học, Khả Năng Sản Xuất Của 3 Giống Gà Địa Phương: Gà Hồ, Gà Đông Tảo Và Gà Mía

Việt nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, nơi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, là điều kiện thuận lợi cho các loài động thực vật phát triển. Vì vậy nước ta được đánh giá là có đa dạng sinh học vào bậc nhất thế giới.

Từ điều kiện tự nhiên thuận lợi, cùng với lịch sử phát triển lâu đời của nền nông nghiệp lúa nước, nhân dân ta đã thuần dưỡng, chọn lọc được nhiều giống vật nuôi. Đặc biệt là rất phong phú và đa dạng về các giống gà: Ri, Mía, Hồ, Đông Tảo, Tàu Vàng, Tre. Chọi, Ác, H’mông… tuy nhiên, hiện trạng và khả năng sản xuất của các giống gà này cần được hệ thống hoá và đánh giá đa dạng di truyền giúp cung cấp căn cứ để định hướng bảo tồn và phát triển các giống gà nội. Trong khuôn khổ của đề tài “Đánh giá đa dạng di truyền của các giống gà nội” thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, chúng tôi tiến hành điều tra số lượng, cơ cấu đàn, theo dõi một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của các giống gà Hồ, Đông Tảo và Mía.

2. Phương pháp

Nghiên cứu tiến hành trên đối tượng là 3 giống gà nội: Hồ, Đông Tảo và Mía, với hai nội dung chính: Điều tra đánh giá hiện trạng về số lượng, cơ cấu đàn, đặc điểm ngoại hình và một số chỉ tiêu sinh sản của 3 giống gà trên tại các địa phương vốn là nơi nguyên sản xuất chúng: gà Hồ tịa thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh; gà Đông Tảo tại xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, Hưng Yên và gà Mía tại xã Đường Lâm, thành phố Sơn Tây, Hà Nội. Thu thập số liệu thứ cấp tại các cơ quan quản lý chăn nuôi của địa phương, trực tiếp điều traphỏng vấn các hộ chăn nuôi theo bộ câu hỏi mở. Ở mỗi địa phương, điều tra tại 50 hộ có nuôi các giống gà này. Thời gian điều tra: từ tháng 2 – 6/2007.

Theo dõi khả năng sinh trưởng của 3 giống gà: hồ (76 con), Đông Tảo (100 con) và Mía (182 con) từ sơ sinh tới 20 tuần tuổi, được nuôi theo phương thức công nghiệp với chế độ dinh dưỡng như đối với các giống gà lông màu và được ăn với chế độ ăn tự do để đánh giá khả năng sinh trưởng, tỷ lệ nuôi sống và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng tại Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi trong năm 2007.

2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Kết quả được xử lý thống kê mô tả bằng phân mềm Excel. 2003 và SAS 8.1 tại Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Các giá trị trung bình được so sánh theo phương pháp bằng phần mềm SAS 8.1

3. Kết quả 3.1. Số lượng và cơ cấu của các giống gà

Kết quả thu được về số lượng và cơ cấu đàn của 3 giống gà được thể hiện ở Bảng 1

Bảng 1. Số lượng và cơ cấu đàn gà Hồ, Đông Tảo và Mía

Bảng 1 cho thấy, các giống gà chỉ còn được duy trì với số lượng rất ít, nhiều nhất là gà Mía với 2804 cá thể, đặc biệt là gà Hồ chỉ còn 572 cá thể. Với số lượng này có thể thấy nguy cơ tuyệt chủng luôn là mối đe doạ các giống gà này. Đây cũng vẫn còn là một báo động đối với công tác bảo tồn các giống gà quý này, nhất là trong thời điểm dịch bệnh xảy ra.

Các quan sát và mô tả đặc điểm ngoại hình đặc trưng của ba giống gà Hồ, Đông Tảo và gà Mía được tổng hợp ở bảng 2.

Bảng 2. Đặc điểm ngoại hình đặc trưng của gà Hồ, gà Đông Tảo và gà Mía

Gà trống màu mận chín (mã mận), màu đen (mã lĩnh).

Gà mái lông màu đất thó (mã thó), màu quả nhãn (mã nhãn), màu chim xẻ (mã xẻ).

Gà trống màu mận chín pha màu đen (mã mận), màu đen nhiều hơn (mã lĩnh).

Gà mái lông màu vàng nhạt, màu nâu nhạt

Gà trống lông chủ yếu có màu mận chín, còn lại là lông đen.

Gà mái lông màu lá chuối khô.

Nhìn chung, gà trống của ba giống gà này có màu sắc lông tương tự nhau, riêng gà trống Mía có mào đơn, trong khi hai giống còn lại không có mào đơn. Hình dáng của gà Mía bầu bĩnh, dáng hơi lùn so với hai giống gà kia.

Gà Hồ và Đông Tảo có hình dáng, màu lông khá giống nhau, chỉ có một điểm mấu chốt để phân biệt đó là kích thước và đặc điểm của chân: chân gà Đông Tảo rất to và xù xì, có vảy thịt màu vàng viền đỏ, trong khi đó gà Hồ có chân nhỏ hơn, bề mặt trơn nhẵn, không xù xì, như gà Đông Tảo.

Để đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của 3 giống gà, chúng tôi đã tiến hành điều tra và kết quả được trình bày trong Bảng 3.

Kết quả điều tra này cho thấy gà Hồ và gà Đông Tảo có khối lượng khi thành thục là tương đương nhau nhưng gà Hồ lại có tuổi thành thục sinh dục muộn hơn rất nhiều. Như vậy về chỉ tiêu này, nuôi gà Hồ sinh sản sẽ kém hiệu quả hơn gà Đông Tảo. Hơn nữa Đông Tảo có sản lượng trứng/ mái/ năm cao hơn so với gà Hồ (67,09 quả/ mái/ năm) trong khi đó gà Hồ là 51,27 quả/ mái/ năm. Chính vì vậy việc nhân thuần đàn gà Hồ hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do tuổi thành thục muộn và năng suất trứng thấp.

Thực tế hiện nay gà Đông Tảo đang rất phát triển. Trong khi gà Hồ ở thôn Lạc Thổ hiện nay có số lượng rất ít. Năng suất sinh sản của gà Mía là tốt nhất trong 3 giống gà Hồ, Đông Tảo, Mía. Tuổi thành thục của gà Mía là sớm nhất 188,17 ngày. Sản lượng trứng/ mái/năm đạt cao 96,20 quả/ mái/ năm. Theo công bố của Lê Viết Ly và cs (2001), gà Mía đẻ quả trứng đầu tiên ở 165 – 179 ngày tuổi, số trứng 9 tháng đẻ là 55 – 62 quả/ mái. Gà Đông Tảo tuổi thành thục là 159 ngày, sản lượng trứng của 10 tháng đẻ là 68,3 quả. Gà Hồ tuổi thành thục là 8 tháng, sản lượng trứng khoảng 40 – 50 quả/ mái/ năm. Như vậy, năng suất trứng của các giống gà trong nghiên cứu này là tương đương với công bố của Lê Viết Ly.

Trong 3 giống gà Hồ, Đông Tảo, Mía thì năng suất sinh sản của gà Mía là cao nhất với tuổi thành thục sớm và khối lượng thành thục thấp, sản lượng trứng/ mái/ năm là cao nhất, trội hơn hẳn so với 2 giống còn lại. Tuy nhiên, khối lượng trứng là thấp nhất và chênh lệch về khối lượng trứng giữa các giống là khá lớn: khoảng 3 – 4 g/quả. Gà Hồ có sản lượng trứng/ mái/ năm là thấp nhất 51,27 quả/ mái/ năm. Nhưng khối lượng trứng của gà Hồ lại đạt cao nhất 52,32 g/quả, trong khi đó gà Mía có khối lượng trứng là 42,16 g/quả.

Khả năng sinh trưởng của 3 giống gà Hồ, Đông Tảo và Mía từ 0 đến 9 tuần tuổi được thể hiện ở Bảng 4. Khối lượng gà 1 ngày tuổi của 3 giống gà rất khác biệt, có khối lượng sơ sinh cao nhất là gà Đông Tảo (35,33 g/con) thấp nhất là gà Mía (30,06 g/con). Theo Lê Viết Ly và cs (2001), khối lượng 1 ngày tuổi của gà Đông Tảo là 38,5 g/con và gà Mía43 g/con.

Như vậy, kết quả của chúng tôi thu được là thấp hơn. Mặc dù gà Mía có khối lượng xuất phát lúc 1 ngày tuổi thấp nhất, nhưng chúng lại có tốc độ sinh trưởng trong giai đoạn 0 – 9 tuần tuổi luôn ở mức cao nhất, tiếp đến là gà Hồ và thấp nhất là gà Đông Tảo. Từ 2 – 5 tuần tuổi, gà Đông Tảo luôn có khối lượng tương đương gà Hồ và thấp hơn gà Mía. Vào tuần tuổi thứ 6 và 7, gà Đông Tảo luôn có khối lượng thấp hơn rõ rệt so với gà Hồ và Gà Mía (P < 0,05).

Tuy nhiên đến tuần thứ 9, gà Đông Tảo có khối lượng tương đương gà Mía và cao hơn gà Hồ (P < 0,05). Lúc 10 tuần tuổi, việc phân biệt trống, mái theo ngoại hình của ba giống gà đã rất rõ ràng, vì vậy theo dõi sinh trưởng được tách riêng giữa gà trống và gà mái, kết quả được thể hiện ở Bảng 5 và Bảng 6.

Như vậy, gà Mía có tốc độ sinh trưởng nhanh trong giai đoạn 0 đến 9 tuần tuổi, sau đó chậm dần. Điều này có thể lý giải là do gà Mía có tuổi thành thục sớm nhất và khối lượng khi trưởng thành nhỏ hơn so với gà Hồ và gà Đông Tảo. Gà Hồ và gà Đông Tảo có tuổi thành thục muộn hơn, khối lượng trưởng thành lớn hơn hẳn so với gà Mía, vì vậy giai đoạn đầu chúng sinh trưởng với tốc độ chậm hơn, nhưng đến giai đoạn sau, chúng sinh trưởng nhanh hơn và có khối lượng cao hơn hẳn so với gà Mía lúc ở 20 tuần tuổi.

Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 5 – 6 tuần tuổi được trình bày ở Bảng 7.

Bảng 7. Tỷ lệ nuôi sống của các giống gà Hồ, Đông Tảo và Mía

Kết quả bảng 7 cho thấy, tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 5 – 6 tuần của cả ba giống gà này đều ở mức trên 90%, từ tuần thứ 7 trở đi tỷ lệ nuôi sống của gà Mía đã tương đối thấp. Đến 20 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống của gà Mía chỉ là 67,58%, cao nhất là gà Đông Tảo cũng chỉ đạt 85,00%. Theo Nguyễn Văn Lưu (2005), tỷ lệ nuôi sống của gà Hồ giai đoạn 0 – 12 tuần tuổi là 92,28 – 100%, theo Lê Thị Nga (1999), tỷ lệ nuôi sống của gà Đông Tảo giai đoạn 0 – 6 tuần tuổi đạt 95,33%. Điều này cho thấy, tỷ lệ nuôi sống của các giống gà trong nghiên cứu này là thấp.

3.6 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng

Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng của gà Mía là tăng dần: 1 tuần tuổi và 20 tuần tuổi tương ứng là 0,50 và 6,32 kg TĂ/kg tăng trọng. Từ 1 – 8 tuần tuổi, gà Mía có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất, tiếp đến là gà Hồ và cao nhất là gà Đông Tảo.

Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, gà Mía lại có mức tiêu tốn thức ăn cao hơn 2 giống kia. Lý do là khối lượng trưởng thành của gà Mía là thấp hơn, vì vậy giai đoạn đầu tuy tiêu tốn thức ăn thấp hơn, nhưng khi tốc độ sinh trưởng chậm lại, tầm vóc cơ thể bắt đầu ổn định, tiêu tốn thức ăn tăng lên.

Trung bình toàn bộ giai đoạn sinh trưởng từ 1 – 20 tuần tuổi, gà Hồ có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất, tiếp đó là gà Đông Tảo và cao nhất là gà Mía. Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu khác: theo Nguyễn Văn Lưu (2005) tiêu tốn thức ăn của gà Hồ đến 16 tuần tuổi là 3,32 kg Theo Nguyễn Văn Thiện (1999), tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng đến 15 tuần tuổi của gà Mía ở con trống là 2,63kg, ở con mái là 2,70 kg, đến 24 tuần tuổi con trống là 3,88 kg, con mái là 4,75kg.

Bảng 8. Thu nhận và tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng của các đàn gà Hồ, Đông Tảo, Mía.

Tuy nhiên, theo Nguyễn Đăng Vang và cs, (1999) tiêu tốn thức ăn của gà Đông Tảo tính đến 22 tuần tuổi ở con trống là 3,89 kg, con mái là 4,55kg.

4. Kết luận

Ba giống gà Hồ, Đông Tảo, Mía có thể phân biệt đặc điểm giống thông qua các đặc điểm ngoại hình màu lông, kiểu mào, vẩy chân.

– Số lượng cá thể tại nơi nguyên sản của mỗi giống rất ít: gà Hồ là 572 con, gà Đông Tảo là 820 con và gà Mía là 2804 con.

– Cả 3 giống gà đều có tuổi đẻ trứng đầu muộn: gà Hồ là 288,45; Đông Tảo là 194,32 và Mía là 188,17 ngày tuổi. Năng suất trứng đạt thấp: Hồ là 51,27 quả/ mái/ năm; Đông Tảo 67,09 quả và Mía là 96,20 quả/ mái/ năm.

– Sinh trưởng trong giai đoạn 0 – 9 tuần tuổi của gà Mía là cao nhất, nhưng từ 10 đến 20 tuần tuổi, gà Hồ và Đông Tảo là tương đương còn gà Mía thì thấp hơn hẳn.

– Tỷ lệ nuôi sống đến 20 tuần tuổi ở gà Đông Tảo là 85%, gà Hồ là 76,32% và gà Mía 67,58%.

– Tiêu tốn thức ăn đến 20 tuần tuổi ở gà Mía là cao nhất (6,32 kg/kgTT_), thấp nhất là gà Hồ (3,72 kg/kgTT).

Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng và khả năng cho thịt của gà Hồ, 1. Nguyễn Văn Lưu (2005). Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội.

Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen động vật ở Việt 2. Lê Viết Ly (2001). (tập II). Nxb Nông nghiệp – Hà Nội.

Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Đông Tảo và con lai giữa gà Đông Tảo với gà Tam Hoàng, 3. Lê Thị Nga (1999). Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp.

. Khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của gà Mía, 4. Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Phanh (1999) Chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội chăn nuôi Việt Nam.

Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà bố mẹ ISA color và con lai giữa gà ISA với gà SASSO (X44). 5. Phùng Đức Tiến, Trần Công Xuân, Lê Thị Nga, Đỗ Thị Sợi, Đào Thị Bích Loan, Nguyễn Thị Mười và Lê Tiến Dũng (2004). Kabir, Lương Phượng, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y – Phần chăn nuôi gia cầm. Nxb Nông nghiệp.

Khả năng sản xuất của gà Đông Tảo nuôi tại Thuỵ Phương, 6. Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga và Nguyễn Mạnh Hùng (1999). Chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội Chăn nuôi Việt Nam.

Lai kinh tế gà 7. Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến và Phạm Thị Minh Thu (1999). Leghorn và Rhode Ri, chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội chăn nuôi Việt .